12-06-2021 - 10:14

Bút ký dự thi SÔNG NGHÈN của Ngô Đức Hành

Tạp chí Hồng Lĩnh số 177 trân trọng giới thiệu bút ký dự thi “Sông Nghèn” của Ngô Đức Hành

NGô đức hành

sông nghèn

                                                                                          Bút ký dự thi       

Bà nội tôi quê Thạch Mỹ, Thạch Hà. Tôi đã hai lần đưa bà về thắp hương tiên tổ. Lần thì đi qua đò Điệm, lần thì qua ngả Thụ Lộc. Có nghĩa men theo dòng chảy sông Nghèn. Bà nội mặc mấn đụp, ngồi sau xe đạp. Xe xóc, cháu cố rướn lên để đạp qua những trảng cát níu kéo nhưng bà ngồi phía sau vẫn hát “Phụ tử tình thâm”. Bà kể cho tôi nghe, thuở thanh nữ làm muối, đánh bắt tôm cá ven sông.

Sông Nghèn dấu em

bờ bãi đằng đông trái Bần đắng chát

sông găm vào lòng nỗi đau ngày mất

cánh buồm nâu vá lặng lở bồi (1)

Sông Nghèn được bắt nguồn từ địa phận xã Trung Lương, Hồng Lĩnh, chảy quanh co theo hướng đông nam qua huyện Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh, huyện Can Lộc, Lộc Hà và hợp nhất với sông Hạ Vàng ở huyện Thạch Hà chảy theo hướng đông bắc đổ ra biển tại cửa Sót. Sông có chiều dài khoảng 70 km, chảy qua quốc lộ 1A tại cầu Nghèn thuộc thị trấn Nghèn. Từ xa xưa, một đoạn sông Nghèn đã được Lê Hoàn khơi thông, tạo tuyến đường thủy nối từ kinh đô Hoa Lư tới Đèo Ngang gọi là kênh Nhà Lê. Ước có 95.000 dân sống dọc theo lưu vực sông.

Quê hương nào trên dải đất Việt Nam này cũng đều có một dòng sông. Đặc ân của trời đất, không phải nơi nào cũng có được. Mỗi người Việt Nam, vì thế đều có một dòng sông tuổi thơ. Với những người sinh ra trên đất Can Lộc, dẫu lớn lên ly hương, lập nghiệp dòng sông ký ức ấy là sông Nghèn.

...

một nửa dòng đắm ngọt Hạ Can

một phía Trà Sơn cam vàng tay em cầm nhật thực

bước chân dụ tôi về Trường Lưu nghe hát

Nguyễn Du đọc Kiều ai nỡ để chiều nghiêng (2)

Đại Lộc, một xã của Can Lộc, nay là thị trấn Nghèn - trung tâm chính trị, hành chính của huyện Can Lộc, là quê hương tôi. Xã có 3 làng chính: Nam Sơn, Bắc Sơn, Phúc Sơn và một xóm công giáo có tên Cồn Phượng. Cồn đất nổi lên ở lưu vực sông Nghèn. Mỗi năm một lần, hợp tác xã tổ chức bắt cá tập thể, gọi là vậy đập. Từ trung niên đến trẻ em, từ đàn ông tới đàn bà; tay nơm, tay lưới đi bắt cá vui hơn ngày hội.

Tôi từ bé đã không phải động tay động chân việc nhà. Nhiệm vụ được bố mẹ giao chỉ là học hành nên nhìn những công việc đồng áng, bắt cá, bắt tôm… của đám bạn cùng trang lứa đều làm tôi mê mẩn. Nhất là ngày hội bắt cá, không thể nào không thể tham gia. Thấy tôi ham, mẹ cũng chiều đi mượn cho tôi cái nơm rụng răng của nhà hàng xóm. Vác nơm trên vai, oi buộc vào lưng, tôi không thua kém gì đám thanh niên tuổi mình. Có thể vênh vang lên trước mặt đám con gái. Lội ướt sũng, nhem nhuốc bùn đất cho ra dáng đã biết làm duyên trước mặt bọn con gái dù cả buổi tôi chẳng nơm được con nào.

Ngày ấy sao sông Nghèn nhiều tôm, cua cá… đến thế. Những con cá Nhám (cá Vược) từ biển qua cửa Đò Điệm bơi giữa lòng sông, ghé thăm Nghèn, ngược lên Đức Thọ. Và còn biết bao nhiều loài khác. Cáy, rạm, các loài nhuyễn thể nước lợ nhiều vô kể. Rạm, nhất là cáy đen, cáy nâu tỏa ra tìm thức ăn khi thủy triều xuống, nghe tiếng chân người thì chạy rào rào vào những bụi guốc, bụi lác… mọc kín cả một vùng hói làng. Cứ thế, sông Nghèn không chỉ là giao thông thủy, thuyền bè giong buồm từ biển theo sông ngược lên Linh Cảm mà còn là nguồn thủy sản vô tận.

Tôi là đứa bé “khó nuôi”. Cả tuổi thơ tôi gắn liền với những bát cháo lư (một loại sản vật thân mềm) mẹ nấu ngày hè; nồi cá mụ mủ (một loại bống bé bằng đầu đũa) bà kho mật… Rất lành cho những đứa bé khó nuôi như tôi. Mùa tháng 10 hàng năm là mùa dân Cồn Phượng đánh bắt tôm rảo. Nồi tôm rảo mẹ kho với khế thơm lừng, nhung nhớ. Tôi nhờ sông mà lớn lên.

Sau này đi xa trở về tôi mới biết, không chỉ dân xóm đạo Cồn Phượng mà phía hạ lưu sông Nghèn, rất nhiều hộ dân sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản trên sông. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ dọc sông Nghèn lên đến 247 ha; trong đó tại huyện Thạch Hà là 200 ha (cụ thể xã Thạch Kênh 130 ha; xã Thạch Sơn 70 ha), huyện Can Lộc 47 ha (gồm các xã Tùng Lộc, xã Phù Lưu, xã Ích Hậu).

Hành trình hơn 550 năm, từ khi có địa danh Thiên Lộc (lộc Trời) từ năm 1469 đến nay, con người Thiên Lộc - Can Lộc đã lao động, chiến đấu, gian khổ, hy sinh, chiến thắng thiên tai, giặc giã... tạo dựng lên vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử - văn hoá, đáng trân trọng và tự hào. Tất cả gắn với dòng sông Nghèn. Bờ bắc con sông có một bến đò mang tên Thượng Trụ, nơi những người cộng sản thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của Hà Tĩnh. Thời đất nước đỏ lửa chiến tranh, sông Nghèn mang trên mình biết bao thương tích. Để chặn con đường vào Nam, cầu Nghèn là một mục tiêu của hủy diệt. Khi tôi ý thức được về “bom rơi, đạn nổ” từng chứng kiến giữa đêm các làng quanh rú Nghèn bừng tỉnh, dỡ nhà, đốn cây, chặt bờ bụi ...đi cứu cầu Nghèn, băng bó vết thương cho dòng sông.

"Can Lộc còn, đường vào Nam còn", "Xe chưa qua, nhà không tiếc" là những lời thề của người dân Can Lộc nói chung và Đại Lộc nói riêng. Mỗi tên đất, tên làng còn mang trong mình đầy những chiến tích, cứ thế đi vào lịch sử. Đó là xã "thép" Tiến Lộc với tên Làng K130 huyền thoại; đó là Đồng Lộc đã trở thành "Ngã ba soi đường cho thế kỷ phong ba"; đó là sự hy sinh anh dũng của 10 cô gái thanh niên xung phong tại chiến trường Đồng Lộc. Tiêu biểu cho truyền thống của người dân quê hương, đó là gương các anh hùng La Thị Tám, Nguyễn Tiến Tun, Nguyễn Tri Ân, Cao Bá Tuyết, Vương Đình Nhỏ cùng hàng trăm chiến sỹ các lực lượng vũ trang nhân dân đã anh dũng hy sinh để bảo đảm mạch máu giao thông. Trên quê hương Can Lộc, tại Ngã ba Đồng Lộc có Tượng đài ghi ơn nhân dân đã ngã xuống vì giang sơn, đất nước, thời “máu và hoa.

*

Ngồi nói chuyện về sông Nghèn với Bí thư Huyện ủy Can Lộc Nguyễn Như Dũng trong buổi chiều nghiêng nắng, tôi nhớ ông Nguyễn Lương Dần, cố Chủ tịch, cố Bí thư Huyện ủy Can Lộc. Ông mất cách đây gần chục năm. Trước lúc ông mất, tôi có hạnh phúc được tham gia biên tập sách “Từ Thổ Sơn ra đi(3) – tập hồi ký của ông. Thời gian làm sách, tôi được ông nói chuyện nhiều về quê hương.

Tháng 5/1975, ông Nguyễn Lương Dần tái cử vào HĐND huyện Can Lộc. Tại hội nghị HĐND huyện phiên đầu tiên, ông được đề cử và trúng cử Chủ tịch UBND huyện. Khi đó, tôi mới 15 tuổi, đủ cảm nhận đói, rét sau khi đất nước mới thống nhất, gánh trên mình biết bao bầm dập. Theo ông Nguyễn Lương Dần, tình hình chung của huyện lúc này khá phức tạp, nhiều khó khăn. Can Lộc “rơi” vào nhóm phong trào yếu kém nhất nhì Hà Tĩnh. Điều này được nêu trong Thông báo số 45, ngày 18/8/1975 của Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh. Đội ngũ cán bộ cốt cán huyện, xã đều trưởng thành trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng bảo thủ, ngại khó, không dám tiếp thu cái mới.

Lãnh đạo Huyện thế hệ ông Nguyễn Lương Dần đề ra phương châm “Nói ít làm nhiều", "Dám làm, dám chịu trách nhiệm", làm dứt điểm một số mũi công tác trọng tâm mà nghị quyết Huyện ủy đề ra để lấy lại niềm tin cho Đảng bộ và nhân dân. “Mũi nhọn” trước hết là huy động lực lượng thanh niên, dân quân khai hoang, phục hóa mở rộng diện tích cấy lúa, sản xuất rau, màu.

Can Lộc được xem là huyện lúa của Hà Tĩnh, nhưng hạt thóc lúc này là “mục tiêu số 1”. Khẩu hiệu của Can Lộc hồi đó là “Đánh một trận sạch hoang hóa, đánh hai trận lúa khoai dư thừa”. Tiếp đến, toàn dân tham gia chiến dịch làm thủy lợi. Mở đầu làm kênh Giua nối liền với kênh chính Linh Cảm từ xã Nhân Lộc (nay là xã Gia Hanh) đến xã Tân Lộc (nay thuộc huyện Lộc Hà) có chiều dài gần 20 km đi qua một số đồi núi, vùng sâu trũng, khe hói, với hàng triệu khối đất đào đắp và hàng trăm công trình lớn nhỏ, bao gồm công trình tưới, tiêu, cầu qua kênh, xi phông qua sông Nghèn.

Bao đời nay, nước sông Nghèn chủ yếu là nước mặn lợ nên ruộng đất hai bên bờ luôn bị nhiễm mặn. Chính vì thế, Dự án ngọt hóa sông Nghèn tháng 12/2000 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với mục đích xây dựng cống ngăn mặn, giữ ngọt tại ngã ba sông Đò Đim và hệ thống kênh trục sông Nghèn, nơi tiếp giáp với biển Đông. Năm 2001, dự án được khởi công và mãi đến 2004 mới thực sự bắt tay vào xây dựng. Tháng 3/2008, cống Đò Đim trên sông Nghèn hoàn thành, đưa vào sử dụng đã tạo một “cú hích” lớn cho nông nghiệp Hà Tĩnh nói chung, Can Lộc nói riêng.

Từ thời Bí thư Nguyễn Lương Dần cho đến nhiều nhiệm kỳ bí thư sau này, Can Lộc chỉ lo xoay quanh hạt lúa. Có nước ngọt cho đồng ruộng, cải tạo được đất vùng Hạ Can hạ lưu sông Nghèn làm lúa thì mất giao thông thủy nối liền biển bờ và mất cá, mất tôm ...Những đàn cáy, rạm… .trở thành ký ức sông.

Thời gian trôi qua, từ ngày sông Nghèn ngừng chảy, mỗi tên đất, tên làng Can Lộc đã đổi khác. Từ chỗ 32 xã, Can Lộc hiện còn 16 xã, 2 thị trấn; tất cả các xã đều đạt chuẩn Nông thôn mới. Năm 2019, Can Lộc là huyện thứ hai của Hà Tĩnh được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới.

Thời tôi lớn lên, Can Lộc thiếu ăn, nay Can Lộc thừa ăn. Thậm chí gạo, hoa trái vùng Trà Sơn đã trở thành hàng hóa có giá trị cạnh tranh. Năm 2020, Can Lộc đạt sản lượng trên 100 ngàn tấn thì đúng là kỷ lục. Hai bên bờ sông Nghèn đã có những khu công nghiệp, đón đợi nhà đầu tư. Bí thư Nguyễn Như Dũng không dấu được niềm vui khi nhắc lại con số chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Từ huyện thuần nông, trôi nổi cùng hạt lúa, nay công nghiệp, xây dựng đã chiếm tỷ trọng 40%; thương mại, dịch vụ chiếm 40%; nông, lâm chỉ còn 20%. Hai mươi phần trăm nhưng sản lượng kỷ lục, đó là câu chuyện của mơ ước. Câu nói của Lê Quý Đôn: “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”, đang là hiện thực của Can Lộc. Sông Nghèn hoàn thành sứ mệnh đối với một vùng đất.

*

Sông Nghèn đã đi vào văn thơ của nhiều nhà văn, nhà thơ đương đại như Mai Hồng Niên, Lê Tất Hán, Trần Đắc Túc, Đức Ban, Lê Thành Nghị, Ngô Đức Hành… Nhà văn Trần Đắc Túc đã từng có bút ký “Dòng sông bi hùng” viết về sông Nghèn những năm tháng chống Mỹ cứu nước.

Ngày ra đi

Ta rất trẻ và sông rất trẻ

Vừa đi vừa bay, ta vẫn thấy mình sao chậm thế

Còn sông thì thầm điềm tĩnh chảy giữa bờ ngô(4)

Bao giờ “sông thì thầm điềm tĩnh chảy giữa bờ ngô”? Tôi đưa câu chuyện này ra trao đổi cùng Bí thư Nguyễn Như Dũng. “Tiếp xúc cử tri hai khóa, tiếp xúc nhân dân trong lãnh đạo chỉ đạo các đồng chí lãnh đạo Huyện đều đã nghe ý kiến này. Báo chí cũng đã nói, nhưng đây có lẽ còn là câu chuyện nhạy cảm”, Bí thư Nguyễn Như Dũng chân tình. Sông Nghèn đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, viết nên lịch sử bi hùng. Sông Nghèn đã hoàn thành nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo, xây dựng lại quê hương, cùng Can Lộc hành trình qua hơn 35 năm đổi mới. Nhưng khơi thông lại sông Nghèn như thuở chưa có cống Đò Điệm, khởi động tư duy bền vng, tư duy sinh thái, thì bao giờ?

...

“Hôm nay về

Sông còn trẻ nhưng ngườikhông còn trẻ

Bước già nua từng bước để sang đò

Ta nhận ra hai bờ xanh đến thế

Và nụ hoa trong cỏ tím dường kia!” (5)

Bí thư Huyện ủy Can Lộc Nguyễn Như Dũng tiếp tôi tại phòng làm việc của Huyện ủy. Tại căn phòng này, tôi đã diện kiến mấy đời Bí thư Huyện ủy Can Lộc như các anh Bùi Đức Hạnh, Võ Hồng Hải bằng tất cả nghĩa tình quê hương. Cuộc sống ngoài kia đã thay đổi, Can Lộc thay da đổi thịt hàng ngày. Duy có căn phòng của Bí thư, không thay đổi, giản đơn đến bất ngờ.

Nói đến sông Nghèn, tôi chùng xuống. Tất cả kỷ niệm ùa về, thay cho dòng chảy của sông. Đó là tiếng chuông nhà thờ từ xứ đạo Tân Vĩnh mạn Bắc sông Nghèn dội vào lưng rú Nghèn, là tiếng hò khoan đối đáp tìm bạn. Là bến đò Bắc Sơn, Phúc Sơn; cả làng, từ con nít, người già ra tắm chiều hè sau việc đồng áng. Và hơn hết, nói đến Sông Nghèn, tôi dẫu ở muôn nơi cũng như nghe được tiếng nói quê hương gần gũi thiết tha như từ trong tiềm thức.

Cuộc sống luôn có hai mặt, “được mùa lúa, úa mùa cau”. Đặc biệt, từ ngày “ngăn dòng”, sông Nghèn trở thành “túi rác” khổng lồ của cả một vùng quê. Mỗi năm sông Nghèn phải ôm vào lòng mình hơn 3.200 tấn tải lượng ô nhiễm từ rác thải sinh hoạt, rác thải chợ cùng với hàng trăm nghìn tấn tải lượng ô nhiễm khác từ các cụm công nghiệp, làng nghề, bệnh viện…

Tôi hiểu, chia sẻ, đọc được tiếng lòng của người dân, tha thiết trả lại dòng chảy cho sông Nghèn như thuở ngày xưa. Những lãnh đạo tỉnh, huyện gắn bó với vùng đất Can Lộc, với Dự án ngọt hóa sông Nghèn còn đó. Với những người có công lao, dự án của hơn chục năm trước là một “tượng đài”. Vượt qua tâm lý“tượng đài” không dễ. Bứt phá, thay mình ngày mai khác hôm qua, hôm nay, không dễ.

Câu chuyện về những điều trước mắt và dự định. “Can Lộc đang chỉ đạo bà con nông dân bước vào thu hoạch vụ Xuân Hè 2021; tập trung cho phòng, chống dịch Covid-19 và chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp”, Bí thư Nguyễn Như Dũng nở nụ cười tự tin, nhưng không dấu được lo lắng. Tôi hiểu, mầm bệnh nCoV trong cộng đồng không thể chủ quan, nguy cơ dịch bệnh trên diện rộng đang hiện hữu. Can Lộc không thể chủ quan. Về sự chân tình, tôi không nghi ngờ Nguyễn Như Dũng. “Vừa rồi đã có nhà đầu tư giới thiệu dự án quy hoạch không gian đô thị hai bên bờ sông Nghèn, từ khối Tân Vĩnh xuống cầu Bến Chăn. Thường vụ Huyện ủy đánh giá rất cao ý tưởng. Hy vọng tìm được nhà đầu tư hoặc đối tác chiến lược có năng lực”, Bí thư Huyện ủy Can Lộc trao đổi với tôi về quy hoạch, mở rộng không gian đô thị của thị trấn Nghèn. Hy vọng, sông Nghèn sẽ được cứu vớt.

Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người”(6), là câu hát nằm lòng với mỗi người Việt. Với người Can Lộc nói chung, sông Nghèn thực sự “Sông cứ chảy trong ta, núi cứ lớn trong ta/ Đi xa muốn về, khổ đau càng muốn về(7). Với tôi, “đi xa lòng tôi đặt trửa đất Nghèn/ em tập hát ca trù trên môi thơ Xuân Diệu/ con tép kiễng chân tìm bạn tình đầu bờ xóm hói/ thia lia vác cờ mở hội Trảo Nha”(8).

...

rễ tôi cắm đất quê

vỉa đá ong mạch nước ngầm ngậy thơm bùa trinh tiết

giếng Chạ giấu đôi mắt tự tình duy nhất

phía đa đoan rắc tím bồng bềnh (9)

Tôi chia tay Bí thư Huyện ủy, Nguyễn Như Dũng giữa chiều hè gắt gỏng. Đồng ruộng Can Lộc chỉ còn chừng chục ngày rộ mùa thu hoạch. Mùi thơm của bông lúa bắt đầu cúi xuống, nồng nã. Tôi nghe lời sông ao ước. Tôi nghe lời bà nội hát “Phụ tử tình thâm” vọng về từ vô thức./.

          N.Đ.H

__________________

(1) Sông Nghèn, thơ Ngô Đức Hành

(2) Mạch nguồn, thơ Ngô Đức Hành

(3) Từ Thổ Sơn ra đi, Nguyễn Lương Dần, NXB Hội Nhà văn, năm 2012

(4) Sông Nghèn, thơ Lê Thành Nghị.

(5) Sông Nghèn, thơ Lê Thành Nghị

(6) Quê hương, nhạc sỹ Giáp Văn Thạch (thơ Đỗ Trung Quân)

(7) Hà Tĩnh mình thương, ca khúc của nhạc sỹ An Thuyên

(8) Mạch nguồn, thơ Ngô Đức Hành

(9) Mạch nguồn, thơ Ngô Đức Hành

Một góc thị trấn Nghèn (huyện Can Lộc). Ảnh: Nguyễn Thanh Hải

. . . . .
Loading the player...