11-06-2021 - 08:44

Bút ký dự thi LÀNG TÔI - NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN của Đinh Sỹ Minh

Tạp chí Hồng Lĩnh số 177 trân trọng giới thiệu bút ký dự thi "Làng tôi - những ngày tháng không quên" của Đinh Sỹ Minh

 

 

làng tôi - những ngày tháng không quên

                   Bút ký dự thi   

Thanh Lạng quê tôi, đó là tên thời các cụ. Sau này, thời tôi lớn lên gọi là Đức Thanh, thuộc huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Còn giờ, mới năm ngoái thôi, hợp nhất ba xã cũ: Đức Thanh, Đức Bình, Đức Thịnh lại làm một, lấy tên Thanh Bình Thịnh. Trong ký sự này tôi chỉ nói đến xã cũ Đức Thanh của tôi, và cũng chỉ trong phạm vi hai làng: Làng Tiền, làng Hậu, nơi in dấu tuổi thơ tôi.

Thanh Lạng  nằm trên trục quốc lộ 15. Làng cách đường cái quan chỉ một cánh đồng. Hồi chiến tranh chống Mỹ, con đường 15 là đường chiến lược. Hàng ngày hàng ngàn các loại xe vận tải chở lương thực, vũ khí và cả trọng pháo, đi vào chiến trường. Trước khi qua ngã ba Đồng Lộc huyền thoại, để vào chiến trường miền Nam, là đi qua làng tôi. Tôi nhớ rõ, các loại xe Zil ba cầu của Liên Xô, xe Gaz, Uoat, và thỉnh thoảng có xe Giải Phóng của Trung Quốc. Hồi đó, cứ đêm đêm, là chạy ầm ầm, với ánh sáng đèn le lói, vì phải chạy đèn gầm. Bộ đội còn phải che bớt ánh sáng, sợ máy bay địch phát hiện. Ngày thì vắng tanh, chả biết cả đoàn xe lớn như vậy mà trốn đâu biệt tích, tôi cũng không thể hiểu nữa. Trong trí nhớ trẻ con hồi đó, nhìn đoàn xe hùng dũng tiến về Nam, lòng trào lên cảm xúc tự hào. Ước lớn thật nhanh, để được lên đường vào mặt trận. Trên đường quốc lộ 15 khi đó là thế. Còn làng tôi, có những ngày vui như hội. Đó là những ngày bộ đội hành quân trên đường vào Nam. Cứ đi dọc quốc lộ, nhưng đi theo đường làng. Họ băng qua những cánh đồng, dọc làng, nhiều khi gặp sông suối, họ vượt bằng cầu máng, dây, hay tự bơi qua.

Khi qua làng tôi, đúng bữa họ dừng lại nấu ăn. Thỉnh thoảng, tôi thấy các chú bộ đội ở lại vài ba ngày, hay nửa tháng rồi mới đi. Vui nhất, là hôm nào đoàn có các chị thanh niên xung phong. Là tôi, khi đó mới 14 tuổi, được các chị o bế, chiều chuộng. Có cái gì ăn ngon, đặc biệt lương khô, các chị thường gọi tôi ra và dí vào tay "em ăn đi, răng tóm ri, thương em quá". Có chị, sau này ra quân, đi học nghề, còn viết thư cho tôi, nhận tôi là em kết nghĩa. Tiếc rằng, lúc đó tôi còn nhỏ, vô tư và đã quá lâu, nên đã không giữ được những bức thư đong đầy cảm xúc này. Tôi còn được các chú bộ đội tặng đôi giày vải, chắc side 40, 41. Chân tôi đi đôi dày bộ đôi nhìn chả khác chi "que tăm cắm củ khoai lang". Thế mà tôi cứ đi vào khoe khắp xóm, nghĩ lại, nhiều lúc cứ cười một mình.

Mẹ vợ tôi khi còn sống thường kể nhiều về những năm bom đạn. Mẹ kể, bộ đội về làng chưa kịp làm lán trại, đào công sự, là vào nhà mẹ ở. Lúa gạo trên chạn mẹ cứ bảo bộ đội lấy mà nấu ăn. Thức ăn trong vườn có gì mẹ hái đưa bộ đội hết. Chiến tranh, nhưng mỗi lần có bộ đội là nhà mình như ngày hội. Vui lắm, vừa bỏm bẻm nhai trầu, mẹ vừa kể với tôi như thế. Tôi biết sau này, những năm đầu đổi mới. Mẹ được chính quyền vinh danh "bà mẹ có công với cách mng". Mỗi tháng mẹ được nhà nước trợ cấp một khoản tiền kha khá. Làng tôi, còn là nơi quá giang của các bạn, anh chị học sinh miền Nam ra Bắc. Tôi chỉ được nghe họ với hai cái tên đoàn k8, k10. Mãi sau này, tôi mới biết họ là học sinh, cán bộ người miền Nam. Được đảng, nhà nước đưa ra Bắc, học tập đào tạo, là "hạt giống đỏ" trên đất Bắc. Để sau này về tiếp quản miền Nam, khi thống nhất nước nhà. Khi đó, nhà tôi mẹ và em ở cơ quan sơ tán, anh cả đang chiến trường, tôi thì ở với bác họ. Thế là nhà tôi thành nơi ở của bộ đội, thanh niên xung phong, mỗi dịp họ ở lại làng. Tôi còn nhớ có cặp vợ chồng trong đoàn k18, k10 khi qua làng, vợ đau đẻ, thế là em bé ấy được đẻ ra trong nhà tôi.

Cột cây số, đặt ngay trước cổng nhà tôi bây giờ ghi rõ: "ĐỒNG LỘC 9 Km", đó là đường bộ. Còn tính theo đường chim bay, tôi ước tính chắc chỉ dăm cây số là nhiều. Như vậy, nhìn từ máy bay, Đồng lộc với Thanh Lạng quê tôi là một điểm trên tuyến đường huyết mch quốc lộ 15. Là vệ tinh bom đạn, tai mắt cho các mục tiêu quân sự thời chiến tranh chống Mỹ, là một địa danh đã góp phần chia lửa với ngã ba Đồng Lộc. Có sự hy sinh không hề nhỏ của đồng bào làng tôi,

Một ngày hè nóng bỏng, gió Lào đã về. Tôi đang học lớp 5 trường làng, đã được nghỉ hè. Trưa 14 tháng 5 năm 1968, nhằm ngày 18 tháng 4 Mậu Thân, mới khoảng 10 giờ sáng, nhưng đã nắng như đổ lửa. Lũ trẻ bọn tôi khi đó, khoảng 4, 5 người có tôi, Nguyễn Đăng Khoa, vài người bạn trong xóm nữa. Chúng tôi, đang chơi trò “ô ăn quan”, ngay giữa làng sau. Cách trận địa Ra đa khoảng 400 mét. Trời nắng trắng, trong xanh, chợt nghe tiếng gầm rú của máy bay Mỹ. Tôi ngửa mặt nhìn qua vòm lá, có ba máy bay Mỹ. Hình như là loại F105, rà sát ngọn tre, tôi thấy rõ bánh xe và cửa sổ máy bay. Tiếng gầm rú inh tai nhức óc, tôi đưa hai tay bịt và ôm l tai. Ngay lập tức, đẩy Thìn Tài- Đăng Khoa, khi đó đang ngồi gần. Cả hai chui xuống nằm co quắp dưới miệng hào công sự,  trên có nắp đậy là ván hòm, mà khi người ta bốc mả sang tiểu, do ván tốt, nên dân lấy về làm cầu, bắc qua hào công sự, để làm lối đi lại. Thời đó, các hầm hào trú ẩn, được đào ngang dọc làng, hầu như nơi nào cũng có. Sau tiếng rạt, rạt của máy bay, là tiếng đất đá rơi. Tôi nghe tiếng lộp bộp trên đầu, ngưng đợt bom đầu, hơi yên lặng. Lúc sau, chui ra thì thấy trên mảnh ván nắp đậy có những vết cắt sâu, chỉ cách đầu của tôi và Khoa độ vài ly gỗ. Chắc tấm ván hòm (quan tài) cũ của người xưa nào đó đã cứu mạng tôi và bạn tôi. Bên cạnh còn vài mảnh vỡ của vỏ bom, còn vương mùi khói, tôi sờ vào bỏng cả tay.

Im lặng, gió Lào vẫn thổi nhẹ. Trận bom đầu, hình như thiệt hại không đáng kể. Tôi chỉ thấy tiếng gọi nhau í ới, tìm nhau, mẹ tìm con, vợ tìm chồng. Cả làng kéo nhau đi càng xa ụ Ra đa càng tốt, chưa có tiếng khóc của ai cả. Bọn tôi, mỗi thằng một hướng, chạy, chạy. Tôi và Khoa, và những người xóm Tây, chạy về phía Bắc. Gần Đức Thủy, làng Vân, rào Cạn. Những người xóm Đông chạy về phía Đông, gần Kim Lộc, Can Lộc. Trời cực nắng, thế mà tôi cứ đầu trần, cả làng đa số là thế, không kịp chuẩn bị nón, tơi hay hành lý gì, đi giữa đồng không một bóng cây. Tôi vượt rào, người ướt như chuột lột, lấm lem bùn đất. Cứ cứ trần truồng như thế mà đi.

Trưa, khoảng 12 giờ, cả làng lúc đó đã yên vị nơi họ chọn làm nơi trú ẩn. Thường là một lùm cây của đìa cá cạnh rào hay nấp dưới một bờ đất cao. Có người mang theo được chăn, chiếu thì có cái che nắng. Tôi khi đó chả ai chăm sóc, gặp đâu nghỉ đó. Phản xạ tự nhiên, cũng sợ chết, nên lúc đó chỉ mong tìm được chỗ ẩn nấp mà quên hết cả nắng và đói. Bỗng nghe tiếng máy bay, bay từ biển Đông lên. Lúc này, có đến 3 chiếc F4, và AD6, chúng bay theo hình tam giác. Mọi người đang vui nói cười đùa, đột nhiên ai cũng đều im lặng. "Mấy đứa Hùng, Hà bò đi tìm chỗ trú ẩn khác đi con, xa mẹ ra, gần chắc mần chi? Lỡ chết, không chết chùm cả nhà ta nha". Tôi nghe tiếng của bà Lan hàng xóm nói với các con. Rồi từng chiếc, từng chiếc máy bay phản lực, thi nhau hạ thấp xuống, bay sát trên đầu chúng tôi. Cảm giác bị kéo theo, nhấc khỏi mặt đất, sau đó là những tiếng nổ, những cột khói đen kịt. Bốc cao ngay xóm có ụ Ra đa, cả những cột khói phía cuối làng, nơi bà con xóm Đông đang trú ẩn. Nơi bọn tôi trú xa vị trí Ra đa, chắc gần cây số, ngay giữa đồng không. Nên quan sát rõ, máy bay lên xuống ném bom oanh tạc làng mình. Tôi thấy, có một số người trong làng chạy về phía bọn tôi. Khóc, kêu, hoảng hốt, giọng líu lưỡi, chết cả xóm rồi bà con ơi. Trừ bọn trẻ con bọn tôi, còn tất cả người lớn đều đứng dậy chạy về phía Đông.

Sau này, tôi mới nghe được rõ ràng câu chuyện. Còn khi đó, mình chỉ trẻ trâu, chưa có cảm giác đau xót như người lớn. Máy bay địch ném bom mục tiêu, nhưng bị bộ đội phòng không bắn trả quyết liệt. Chúng hoảng hốt cay cú, trút toàn bộ bom đạn vào mục tiêu là lùm đìa cá ông Sâm Nghịa. Vì nắng nên dân làng dùng chăn, chiếu căng ra che. Phát hiện mục tiêu, chúng điên cuồng trút hàng tấn bom đạn xuống lùm đìa. Có chú dân quân kể lại rằng, khi đi tìm xác. Người mất đầu, người banh ruột, tan xác, có cả hàm răng treo lơ lửng trên cành cây khô. Có xác chị Vân Lương, người chị con dì ruột của ông Tâm Chí, một năm sau mới tìm ra nhờ vạt cỏ xanh bất ngờ, trong khi cỏ xung quanh tàn lụi vì cháy.
Ngay hôm đó, dân quân gom về kho hợp tác ở Giếng Đàng, trung tâm làng, sau nhà tôi bây giờ. Có 22 xác người, từ trẻ con nhỏ nhất là 9 tuổi, già nhất là 70. Còn xác chị họ ông bạn tôi Nguyễn Chí Tâm cả năm sau mới tìm được, như đã nói ở trên. Một thời gian dài, sau đám tang tập thể đó, dân làng vẫn chưa lấy lại được tinh thần. Cuộc sống như lặng đi một thời gian, sau đó mới dần hồi phục .

9 năm bom đạn Mỹ đã ám ảnh tôi gần hết một đời người. Tôi xa quê lâu rồi vậy mà trong giấc ngủ vẫn thường bị giật mình bởi hình ảnh máu, nước mắt và những bước chân vội vã. Trên những cánh đồng lúa chín gục không người thu hoạch năm đó.

Chỉ còn 18 ngày nữa là ngày giỗ tập thể của những người dân vô tội làng tôi, những người con xa quê trong những ngày này lại có dịp về quê để nghe về những câu chuyện cũ, tôi lại nhớ đến đoạn trích trong Nếu đi hết biển của NSND Trần Văn Thủy:

“Nếu đi hết làng mình thì đến đâu hả vú? Vú già giải thích: Đi hết làng mình thì đến làng bên. Đi hết làng bên thì sẽ đến đâu? Qua xã khác. Hết xã khác? Ra phố huyện. Hết phố huyện? Đến tỉnh. Hết tỉnh? Thì ra đến biển... Vậy, nếu đi hết biển thì đến đâu hả vú? Đến đoạn này thì vú già đành chịu lắc đầu. Câu hỏi từ thuở để chỏm, gần hết đời người, bước chân đã lê khắp cả năm châu bốn biển, vị đạo diễn già mới ngộ ra một chân lý là nếu đi hết biển... cứ đi mãi đi mãi rồi thì sẽ về đến... làng mình. Đó chính là cái chốn lần đầu tiên mình đặt bàn chân đỏ hỏn lên đất. Lẽ giản đơn mà càng ngẫm lại càng thấy thấm”. Vậy là trong những ngày tháng cách ly xã hội này, tôi viết về những ngày tháng nóng bỏng ở làng tôi năm 1968. Viết để nhắc nhở con cháu, và cả chúng ta không được quên những tháng năm đau thương, nhưng thấm đẫm tình người. Họ xứng đáng là những tượng đài trong "ký ức làng" những tượng đài, mãi mãi sẽ không bị lãng quên. Nó nằm trong tâm hồn ta mãi mãi...


Hà Nôi, ngày 11.5.2021

Đ.S.M

           

ảnh nguồn internet

. . . . .
Loading the player...