Hà Giang vùng đất địa đầu Tổ quốc với cột cờ Lũng Cú, mùa hoa Tam giác mạch và đặc biệt là phiên chợ vùng cao mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Tạp chí Hồng Lĩnh số 124 xin giới thiệu bút ký của nhà văn Nguyễn Quang ở Hà Giang gửi cho BBT.
Từ bốn giờ sáng những bước chân đã rậm rịch, những tiếng còi xe đã hối hả dồn về khu trung tâm thị trấn Tam Sơn. Hôm nay là chủ nhật, một ngày chợ, một ngày hẹn hò, một ngày đợi chờ cho những đợi chờ của trai tài, gái sắc ở một huyện vùng biên giới này. Nơi ấy không chỉ có bán mua, cũng không chỉ có trao đổi hàng hóa, nông lâm sản. Mà nơi ấy còn có “cái nghĩa, cái tình” đến tìm nhau. Nơi ấy còn có những bát rượu nồng nồng hòa vào tiếng khèn bên góc chợ…
Mỗi người xuống chợ mang theo một sản phẩm của vùng quê, người từ Quyết Tiến lên, người từ Đông Hà, Lùng Tám xuống, họ cũng từ Nghĩa Thuận, Tùng Vài về. Những can rượu Thanh Vân thơm lừng mùi ngô mới xếp thành hàng chờ đợi, chờ đợi cái say của tình bạn lâu ngày gặp lại. Già có, trẻ có, mà nhừng nhừng, nhỡ nhỡ cũng có. Thôi thì đủ cả các dân tộc, đủ thứ tiếng nói tiếng cười, đủ sắc màu được mang ra khoe vào buổi chợ.
Em gái Mông xúng xính trong cái váy lanh mới dệt xong đêm trước, chưa kịp làm cái cạp màu xanh, cái áo chưa mua được hàng khuy ngang lạm bạc. Em gái Bố Y với cái khăn đen cao vút trên đầu, cái áo nóng đôi chống rét, để cổ áo trắng lấp ló trên cái màu đen truyền thống mà mang theo đôi mắt tình duyên, mang theo cái túi trầu đỏ môi, đen răng về chợ. Những chàng trai Tày, chàng trai Dao… chưa hề vào chợ mà bước chân đã liêu xiêu, mang cái say trên đường, để chú “gà cắp lách” cứ thò cái cổ dài ngoẵng ra phía sau lưng. Rồi chú gà khoái chí gân cổ lên “ò ó o” báo giờ buổi sáng, như chưa hề được ông chủ cắp vào nách mang xuống chợ bao giờ.
Hôm qua Nguyễn Xuân Thịnh, một giáo viên, đang dạy học ở huyện Quản Bạ này bảo tôi: “Anh xuống chợ phải đi sớm một chút, chợ thị trấn cũng nằm trong loạt chợ “luân chuyển” mà. Nói là chợ luân chuyển là vì từ ngày cơ chế thị trường “bung ra”, rồi tỉnh Hà Giang “rầm rộ” xây dựng chợ đầu mối, chợ trung tâm xã bên những chợ truyền thống. Vậy là mới sinh ra cái kiểu “họp chợ luân phiên” để cho người bán, người mua đi được nhiều chợ từ đầu tuần, đến cuối tuần.
Cũng may, những chợ truyền thống thường được giữ lại cái ngày “họp chợ nguyên bản” của nó. Sau đó là sự kế tiếp để cho những nhà “buôn vàng, bán ngãi” sau buổi sáng nay bán mua ở chợ này, khi chiều vãn chợ, lại có thể thồ hàng sang chợ khác, chờ đến sáng hôm sau. Bảo anh xuống chợ sớm là bây giờ cơ chế thị trường, mỗi người, mỗi nhà làm một kiểu, anh ra các đầu đường hướng về chợ, mua bán còn “rôm rả” hơn nhiều. Thôi thì chẳng có việc gì làm, ngày chợ phiên kiếm dăm bảy trăm nghìn bằng cách “chặn đường” mua gom hàng hóa, rồi tám chín giờ, “thốc tháo” mang hàng vào chợ bán kiếm lời”.
Ngừng lại một lúc như để suy ngẫm điều gì đó cho “thấu tình, đạt lý”, rồi anh lại tiếp tục kể tôi nghe: “Cũng không ít gia đình cả hai vợ chồng với đứa con cùng vào “cuộc mưu sinh”, họ hành nghề có bài bản anh ạ. Cô vợ phi xe lên một đoạn đường nào đấy, cách chợ chừng vài ba cây số mà mua hàng. Thôi thì trăm thứ “bà rằn”, từ nắm rau bí, xỏng khoai xọ, con gà, con vịt, chú lợn choai choai, đàn chó con… Gặp bất cứ thứ hàng gì, từ nông sản, lâm sản… mà nghe ra có thể bán được, khi giá cả có “hời” là mua tuốt tuồn tuột. Cứ mua được hàng gì, lại được cô con gái hay cậu con trai chằng lên xe lai về cho ông bố đã chờ sẵn ở chợ. Bà vợ cũng không quên ghé vào tai cậu con trai hay cô con gái làm công tác “lưu thông, vận chuyển hàng hóa” ấy: “Này, nhớ bảo bố, con lợn này phải triệu hai, con gà này phải hai trăm bảy, đàn chó con, mỗi con không dưới ba trăm, cân chè này trăm mốt đấy nhé”.
Đúng là tuyệt chiêu, trăm nẻo đường “khôn”, trăm cách “thương mại thời mở cửa” làm lên sự sôi động của cả một vùng quê. Món “hàng hóa” qua tay những “nhà thầu” ít nhất nó cũng đội giá lên gần “kịch trần”, trên dưới ba mươi phần trăm “lãi suất” chứ chả chơi. Thật là…
Vừa nghĩ, vừa cười, tôi xách máy ảnh bắt đầu rời nhà nghỉ Tam Sơn, nơi có cột “Ki lô mét không” xuống phố. Đúng là “trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một sờ”, cứ phải “bắt tận tay, day tận trán” mới hiểu một “thị trường phố”, “thị trường chợ” bây giờ quanh năm đã vào mùa.
Ở những huyện khác của tỉnh Hà Giang này, như Yên Minh, Bắc Mê, Hoàng Su Phì, Bắc Quang hay thành phố Hà Giang… thì bây giờ mới đang giữa thu. Nhưng ở Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc thì đã thuộc vào diện “đại hàn”. Cái lạnh như bó lấy tay, lấy chân, như phả sương đêm vào da cổ, da mặt, để cho cái câu: “Bà khen con bà tốt, đến tháng mười, tháng một bà biết con bà”.
Nhưng cái rét, cái đại hàn ở trên bốn huyện vùng cao phía Bắc tỉnh Hà Giang lại khác. Nó chẳng hanh heo như những vùng khác trong tỉnh, nó cũng không khô như “ngô rang” mà lại ẩm như “đậu phụ”. Để mùa đông về, môi thiếu nữ vùng sơn cước, má con gái Quản Bạ cứ đỏ như son, không sần da cáy, không nứt nẻ gót chân như ở vùng xuôi, làm cho câu “thần chú gia truyền” của tôi không còn hữu dụng.
Dọc theo hai bên đường phố, ngay cổng huyện ủy, ủy ban huyện là những hàng lâm sản “độc”, mà lại là dược liệu, quà biếu “không” của rừng, rồi cũng thành “sản vật” của một vùng núi “mát như Đà Lạt, sương dạt như Sa Pa” này. Đó là những hàng bán rễ Ba Kích, Giảo Cổ Lam đã phơi khô đóng vào hai loại túi ni lông, một loại lăm lạng, một loại một cân và đôi khi cũng “chiều” lòng “thượng đế”, bán “dúm” vài ba lạng.

Minh họa: Nguyễn Hà
Chị bán hàng, quê ở thành phố Hà Giang, lên sống cùng con, giới thiệu hàng không kém gì một nhân viên chuyên nghiệp, thật bài bản: “Hàng của em không mốc, không sâu, không phải đồ Tầu. Rễ Ba Kích cứ trong như thạch, phân đốt rõ ràng, được rửa sạch, phơi khô, ngâm rượu uống vào cứ gọi là “lên đơ, xuống nhũng” anh ạ. Còn Giảo Cổ Lam cứ gọi là ngon từng “xăng ti mét”, mát gan, bổ thận, rửa họng, long đờm, tăng minh mẫn, tăng men tiêu hóa. Loại này bảy lá, đắng tựa mật công, vợ uống thay chồng, chồng uống thay vợ…”.
Đúng là chuyện lạ, chuyện có một không hai ở “phía sau Cổng Trời” mà mãi bây giờ tôi mới được nghe và cũng bây giờ người ta mới kể. Chị lại cười, kéo tay tôi: “Anh cứ mua thử đi, em sẽ cho số điện thoại, nếu hài lòng, anh dùng hết, cứ “phôn” lên, em gửi về cho, ngày nào chẳng có dăm bảy xe xuôi thành phố. Loại rễ Ba Kích này em vẫn bán trăm rưỡi, nhưng anh lấy em chỉ lấy trăm hai. Còn đây là loại Giảo Cổ Nam rừng, em vẫn bán tám chục, em cũng chỉ lấy anh bảy chục để có đường “đi lại”. Giọng nói cứ ngọt như mía lùi, dẻo như kẹo kéo, đôi mắt chị bán hàng long lanh như đang đi tìm “chỗ vịn”. Ấy vậy mà ông chồng đứng bên cứ cười tươi như hoa, chẳng có chút gì “biểu hiện” ra “liệu pháp đàn ông” hay “khoanh vùng biên giới”. Tôi thầm nghĩ, nếu vào tôi, có một cô vợ mồm mép “thương mại thời mở cửa”, “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” kiểu này, thì có lẽ những gói Ba Kích, những gói Giảo Cổ Nam kia phải bay vèo ra đường cho các “thượng đế” tha hồ mà “nhặt nhạnh”. Ăn chẳng ăn thì đừng, bán chẳng bán thì thôi, chứ cứ “mắt la, mày liếm” thế kia có “bố ai mà chịu nổi”. Ấy thế mà chị vợ anh ta lại bán được hàng cho tôi, hẳn hai cân, mỗi thứ một cân. Và lại cũng là “ấy thế mà” ông chồng còn đon đả mời tôi vào nhà uống nước, lấy túi gói hàng cho tôi cẩn thận. Rồi khi tôi chào ra về, anh ta cũng không quên “gửi” cái số “phôn” của vợ anh ta vào máy của tôi. Khi bước ra đến cổng, anh ta còn dặn với theo: “Nhớ nhé, anh ghi vào không lại quên, vợ em tên là Hiền…”.
Đúng là phố thời mở cửa, tư duy mới, rất mới trong nền kinh tế thị trường, thời đổi mới nền kinh tế đất nước có khác. Có thế chứ, có thế mới là… đổi mới chứ, đổi mới ngay từ trong tư duy người bán, người mua.
Gửi luôn hàng ở quán bán hàng, tôi đi theo con đường vào cổng huyện ủy, huyện Quản Bạ rồi rẽ xuống chợ. Quản Bạ có mười hai xã là Thái An, Lùng Tám, Đông Hà, Quản Bạ, Quyết Tiến, Cán Tỷ, Thanh Vân, Bát Đại Sơn, Nghĩa Thuận, Cao Mã Pờ, Tùng Vài, Tả Ván. Cái đời làm báo tỉnh đã đưa tôi đến với đủ các xã trong huyện, có xã đến hàng chục lượt mà lần nào cũng hết lạ rồi lại quen.
Trong đó có những xã dù có đi đâu, về đâu cũng chẳng bao giờ quên được. Như Bát Đại Sơn nằm lọt thỏn trên đỉnh tám quả núi to, một cái tên làm cho ta nhớ, nhớ mãi không thôi. Ở nơi ấy có loài thông đỏ được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Rồi Nghĩa Thuận, một xã có cửa khẩu tiểu ngạch thông thương với nước bạn Trung Quốc, có phiên chợ đường biên, bà con hai nước cùng mua, cùng bán. Rồi Tùng Vài có những rừng chè, rừng thảo quả làm đổi đời người nông dân bao năm qua. Xã Thanh Vân lại có loại rượu “bi ô xít” nổi tiếng cả nước, say suốt đường đi đến đường về. Một loại rượu men lá của đồng bào dân tộc Mông, uống vào cứ nhẹ như bông, thế mà như có người dắt ta bay lên cưỡi mây, cưỡi gió cùng “Tề thiên đại thánh” để vượt mấy cổng trời. Có xã Lùng Tám nổi như cồn bởi cái nghề dệt thổ cẩm, sản phẩm đã có mặt ở nhiều thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn. Đêm đêm nằm nghe tiếng khèn Mông của những nghệ nhân ngay trên đỉnh núi, đỉnh trời Tả Ván, Cao Mã Pờ… Thế mà lần nào lên đây tôi cũng lạ…
Quản Bạ có phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, phía nam là huyện Vị Xuyên, phía Đông Bắc là huyện Yên Minh. Huyện có diện tích năm trăm năm mươi ki lô mét vuông và dân số trên ba bảy nghìn người. Thị trấn Tam Sơn cũng là trung tâm hành chính của huyện, nằm hai bên quốc lộ Bốn xê, cách thành phố Hà Giang bốn bảy ki lô mét về hướng Nam, cách huyện Yên Minh năm hai ki lô mét về hướng Đông Bắc.
Trên diện tích gần một phần tư Công viên địa chất toàn cầu này có mười bốn dân tộc anh em cùng chung sống, tạo ra sự đa dạng trong sắc thái văn hóa nơi đây. Cao nguyên đá gồm bốn huyện Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc và Quản Bạ đã được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu vào đầu tháng 12 năm 2010. Quản Bạ cũng được đánh giá là địa phương bảo tồn di sản khá nhất, các khu rừng tự nhiên, núi đá trên khu vực biên giới. Một vùng rừng được quần thể voọc mũi hếch, một loài linh trưởng chọn làm nơi sinh sống. Đó cũng là loài linh trưởng quí hiếm có tên trong sách đỏ thế giới…
Quản Bạ đã có cả một hệ thống các nhà nghỉ, làng văn hóa du lịch. Huyện đang thúc đẩy việc khôi phục các làng nghề truyền thống, như làng dệt thổ cẩm Lùng Tám, làng rượu ngô men lá Thanh Vân… Không những thế, những cảnh đẹp thiên nhiên như Núi Đôi, hang Khố Mỉ và những tộc người nơi đây đã làm nên sức thu hút, hấp dẫn du khách du lịch trong và ngoài nước lên với Cao nguyên đá. Đó là điều kiện cho Quản Bạ đưa ngành “công nghiệp không khói” vào cộng đồng trong mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế.
Bước theo dòng người về chợ, được chen chân trong nhiều màu sắc trang phục mà cảm nhận cái mùi nồng nồng âm ấm của chàm, mùi cay cay của cây lá đỏ, mùi đăng đắng của dây leo hồng hay còn gọi là dây máu. Những loại cây, loại dây, loại lá mà đồng bào lấy về giã ra, đun lên để thành màu, thành duyên núi, duyên rừng mà nhuộm quần, nhuộm áo, nhuộm khăn…
Tôi cũng được nghe đủ loại âm thanh, như tiếng kêu của ngan, của ngỗng, của vịt, của gà. Rồi lại nghển chân, dỏng tai lên nghe tiếng “eng éc” của lợn con, tiếng kêu “be be” của dê núi, dê rừng… Đi trong ngạt ngào hương thơm của bánh rán, bánh cù, bánh khoai, bánh quấn thừng. Qua hàng gạo trắng muôn muốt, thò tay vào bao, đưa lên mũi ngửi, một loại gạo thiếu nước, thừa sương thơm lừng, một đặc sản đất núi. Hàng ngô luộc bốc hơi, nóng hôi hổi, hàng ổi chín trái mùa vàng ươm, hàng đu đủ lốm đốm quả dài cả gang tay, làm ta cảm nhận ngon ngọt từ lúc chưa ăn. Nhất là những hàng bán xôi ngũ sắc, hương vị một chợ quê, không lẫn vào đâu được…
Bên kia, bên cái cầu chợ dài nhất mãi gần cuối chợ Tam Sơn là dãy hàng thịt, hàng cá, hàng rau, củ, quả… Tất cả giá cả cũng chẳng khác gì chợ tỉnh Hà Giang hay trên chợ tận cùng Đồng Văn, Mèo Vạc. May chăng chỉ có khác là thịt lợn đen, phản thịt nào cũng có những rẻ xương sườn dài tới bảy tám mươi phân, thăn thịt nạc săn lại như sợi lanh em se để thành khăn, thành váy. Nghe nói có những con lợn được nuôi tới hai ba năm, ở những thôn bản cách chợ hàng trăm ki lô mét. Những sản phẩm “nhà nông, nhà lâm” bây giờ cũng chẳng còn hiếm thấy ở một phiên chợ vùng cao. Cho tôi nhớ về cái ngày cách đây vài chục năm, cũng ở chợ này, đâu có những mặt hàng “nông dân quay vòng” như thế. Sản phẩm nông nghiệp thời sản xuất hàng hóa mà…
Cứ chen để được tìm về nơi tiếng khèn, cái tiếng khèn thẳm sâu vào cõi đá bên chảo thắng cố ngầy ngậy thơm thơm đang “dùn” cái khói ngon lên góc trời hòa lẫn vào mây, xả vào gió sớm. Bát rượu chứ không còn ống rượu như xưa, đôi bạn già, một nam, một nữ cứ lồng tay vào nhau. Cái thìa gỗ còn nóng hôi hổi bén duyên, ngụm rượu ngô nồng cháy. Có lẽ họ đang ôn lại cái thời: “Trời chỉ có sao sớm sao chiều, núi chỉ có hai người…” mà lắc lư theo tiếng khèn tìm bạn hay gọi bạn… Được ngắm những hàng quần áo mùa đông đủ loại, từ áo bông, áo len, áo phao, váy Mông, áo dài Nùng, khăn đen Bố Y... Rồi đứng trước cả đống “Ai phôn” trong tủ kính, có loại ba bốn trăm nghìn đồng, cũng có loại đến cả lăm sáu triệu. Hàng ti vi, đài điện, điện tử, thôi thì đủ sắc màu, đủ giá cả, “thượng vàng, hạ cám” mà bất cứ ai cũng có thể mua được.
Mải ngắm, mải nhìn, cố đưa những hình ảnh vào bộ nhớ đã bắt đầu có dấu hiệu suy yếu của tôi. Một bàn tay nắm lấy vai tôi, chưa quay lại đã cảm nhận được bàn tay ấy là của rừng, của núi, của nắng gió biên thùy: “Này, lâu lắm mới gặp, ông nhà báo có nhận ra mình không?”. Tôi quay lại: “Ôi, anh Mậu, anh đi chợ hả? Còn làm Bí thư xã không đấy?”. “Thôi rồi, mình nghỉ rồi, sau cái vụ chè cháo, sau cái vụ thảo quả ấy, mình nghỉ rồi. Cũng đúng dịp có cái anh “công chức xã”, trẻ hóa cán bộ mà. Thế là mình nghỉ luôn…”
Tôi đứng hẳn lại: “Thế hôm nay anh xuống chợ bán gì vậy?”. Mình bán mấy thứ của rừng, của núi mà, nào là khúc khắc, nào là cây mật gấu, mấy cân Giảo Cổ Lam, vài ba miếng u tầm gửi nghiến…”. “Anh bán nhiều thứ thế còn gì? Anh lấy ở đâu ra mà nhiều thứ thế?”. Anh lưỡng lự: “Đã bảo là của rừng, của núi mà. Mình có một đống con, mà có đống con thì phải có mấy đống cháu chứ. Ông nhà báo tính, ngày ấy mình chẳng bị kiểm điểm lên, kiểm điểm xuống vì cái tội sinh đẻ vô tội vạ là gì. Chung qui lại, cái tội ấy là do bà vợ nhà mình, ai đời, mình mặc quần đùi đi qua đầu giường bà ấy cũng chửa có chết mình không. Mà khi đã chửa rồi thì phải đẻ, phải nuôi chứ còn sao nữa. Các thứ mình bán mỗi phiên chợ đều do đàn con, đống cháu lên rừng kiếm cả đấy…”.
Tôi đứng nhìn anh. Lại đúng là cơ chế thị trường. Ngày ấy, cái ngày tôi vào Cao Mã Pờ, anh còn dõng dạc hô hào bảo vệ rừng, bảo vệ cây rừng để trồng thảo quả, để có nguồn nước. Nhưng nay…
Anh Mậu kéo tôi vào quán thắng cố, cái thìa gỗ lại chuyển từ tay anh sang tay tôi, rồi lại từ tay tôi về với tay anh. Bát rượu men lá Thanh Vân cũng vậy, nó được đẩy đi, đẩy lại trên mặt cái mâm gỗ đã nham nhở vết băm, vết chặt. Làm cái mặt của nó xơ dăm gỗ ra trắng bạc vào ánh nắng chợ trưa.
Chia tay cái ông “thần rừng” ngày xưa tôi đã viết và hết lời ca ngợi. Tôi tìm ra dãy hàng bán vật nuôi, có đủ cả từ chó con, mèo con, ngan, gà, dê, lợn... Cũng mong chiều lòng cô con gái út. Hôm qua cháu điện lên cho tôi: “Ba ơi, con được điểm tám văn đấy…”. Đối với các môn học khác, cháu được điểm chín, điểm mười là chuyện thường tình, chín năm học, chín năm là học sinh giỏi. Nhưng được điểm tám văn mới là chuyện lạ nhất trong các chuyện. Thế là tôi quyết định tìm mua một cái gì đấy để tặng thưởng cô con gái út trong chuyến đi này. Suốt đêm qua, nghĩ đi, nghĩ lại, cái gì cháu cũng có rồi. Cuối cùng thì tôi cũng nghĩ ra “cái món” con gái mình “thích”, đấy là một chú “Tô Ni” vùng cao.
Lần ra được tới dãy hàng bán vật nuôi thì đã gần trưa, nhìn chú “hắc xù” thích quá, sán lại hỏi giá. Cô bé bán “hắc xù” đòi lăm trăm nghìn đồng. Chưa kịp trả giá câu nào thì cái anh đứng bên cạnh, tay dắt ba chú “khuyển choai choai” nói vọng sang: “Mua mà không xem kỹ, gặp “khuyển Tàu” là toi”. Thế là tôi quay sang hàng anh, chọn ngay chú “Tô Ni” màu vàng nhạt. Anh ấy đòi ba trăm năm mươi ngàn đồng. Cô vợ anh ta đứng bên giật giật mép túi quần anh, rồi ghe vào tai anh, nói nhỏ, nhưng tôi vẫn nghe rõ: “Đòi gì mà cao thế, em mua cả ba con mới có năm trăm”. Anh ta phẩy tay cô vợ ra, mặt thản nhiên như không. Nhưng cuối cùng thì chú “Tô Ni” cũng về với tôi ở cái giá gấp đôi giá mà cô vợ của anh ta mua…
Giá cả chợ mà, thuận mua, vừa bán, có ai ép ai đâu. Ấy vậy mà khi tôi mang về ai cũng khen là khéo chọn, khéo mặc cả, mua được con “Tô Ni” rẻ hết chỗ chê mới chết chứ.
Chợ phiên ngày xưa, bây giờ đã trở thành “luân phiên chợ” nơi là những đầu mối cho mọi sản phẩm nông, lâm nghiệp thành hàng hóa. Quá mười hai giờ trưa, những chiếc xe chở hàng lại ngược lên Tráng Kìm, ngược lên Nghĩa Thuận. Những quầy kính bán điện thoại, đồng hồ, xoong chảo, nồi nhôm, bếp ga lại xuôi về Quyết Tiến hay đi ngang vào thanh Vân, Tùng Vài, ngược lên Bát Đại Sơn…
Một lần đi chợ trên vùng biên giới thời mở cửa mới thấy hết cái tinh túy trong cách “chuyển mình”, cách “vận hành” nền kinh tế mới ở một vùng quê núi. Chuyển những sản phẩm từ tự cung, tự cấp sang hàng hóa, sang những mô hình đa thu nhập. Điệu nhảy, tiếng khèn, bát rượu, bát thắng cố nơi góc chợ cũng tuy không còn nguyên bản, nhưng vẫn giữ được cốt lõi của truyền thống. Có lẽ nó cũng giành lại chút tâm tình, tình cảm cho một “chợ phiên” bằng “phiên bản” một “chợ phiên nối dài” vào sáng ngày mai ở đâu đó. Có thể ở trong Nghĩa Thuận, cũng có thể ở trên Tráng Kìm hay mãi Đường Thượng, Na Khê, Bạch Đích… của Yên Minh.
Câu chuyện về chợ thì còn dài, dài vô tận, bởi chợ có cả ở bên ta lẫn bên tàu, ở châu Á, rồi đến mãi trời Âu hay châu Phi, châu Mĩ, La Tinh. Vẫn cứ thế, đến chợ là hiểu hết, biết hết sự chuyển mình, sự hòa nhập mà không hòa tan, cả tình cảm lẫn phát triển kinh tế.
Cái duyên chợ, nỗi niềm chợ, mua bán chợ… từ quả hồng ngâm không hạt, đến cái bánh gù không nhân vẫn mãi mãi là như thế. Ấn tượng và ấm lòng, khi phiên chợ đường biên đã nói lên đủ những điều cần nói.
N.Q