10-10-2016 - 03:30

Bút ký "Đất và người Hồng Lĩnh"

Tạp chí Hồng Lĩnh số 122 hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc bút ký "Đất và người Hồng Lĩnh" của nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú

   Mấy lần về thị xã Hồng Lĩnh lần nào cũng để lại cho tôi nhiều ấn tượng mới mẻ. Mới mẻ bởi vùng đất này là“đất thiêng”, đất cội nguồn, đất gia phả. Lại luôn biến đổi mà vẫn giữ được vẹn nguyên địa linh, vượng khí trong cốt cách ý chí trong ứng xử giao hòa thân thiện với thiên nhiên của con người Hồng Lĩnh. Khó có vùng đất nào mà non nước hữu tình, cận thủy, cận sơn với bao di tích lịch sử như nơi đây. Ở đây đi đâu ta cũng như gặp hình ảnh người xưa, đôi mắt tinh tường thấu thị của người xưa đang dõi theo. Có khi đó là một tiếng chuông ngân vọng trên chùa Thiên Tượng hay những mái đao mái đình cong vút. Rồi bao huyền tích, huyền thoại cứ giăng mắc đó đây. Đất này là đất cội nguồn - Cội nguồn từ sự tích Kinh Dương Vương, tên húy là Lộc Tục con cháu họ Thần nông, theo truyền thuyết là thủy tổ dân tộc Việt đóng đô ở Hồng Lĩnh. Ông là ông nội của các Vua Hùng.


Thị xã dưới chân núi Hồng - Ảnh: Trần Hướng

         Khi đứng dưới những rặng thông xanh cao vút ở chân núi Hồng Lĩnh, tôi đã hình dung ra có lẽ khi Nguyễn Công Trứ viết hai câu thơ tự bạch nổi tiếng của mình: “Mai sau xin chớ làm người - Làm cây thông đứng giữa trời mà reo” chắc là ông bao lần vượt qua non cao ngàn Hống lên rồi xuống, trập trùng lận đận như cuộc đời của ông vậy. Nhà văn Nguyễn Thế Quang khi viết cuốn tiểu thuyết về Nguyễn Công Trứ đã đặt tên là “Thông xanh ngàn Hống”, ngàn Hống là tên Nôm. Và đọc lên tôi như  nghe được vang vọng của khí phách độc lập, như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng ngợi ca cốt cách quân tử con người đất này: “Như Hồng Lĩnh tự mình xây núi lớn”. Núi lớn, năm Minh Mệnh thứ 17 được khắc vào Anh Đỉnh là một biểu tượng của thiên nhiên Việt Nam - một bách khoa thư cửu đỉnh hiện đặt tại Cố Đô Huế. Tôi cũng không hiểu sao ở đây có truyền thuyết về 99 ngọn núi mà nhà thơ Trần Mạnh Hảo trong bài thơ “Gió ngàn Hống” đã thổi vào đây cả linh khí đất trời: “Gió ngàn Hống thổi vênh trời Hà Tĩnh - 99 cột kê làm núi đỡ trời”. Và ông hoàng cách tân thơ lục bát Việt hiện đại - thi sỹ Phạm Ngọc Cảnh một người con của đất Hà Tĩnh đã đo núi lớn trong tâm hồn mình một kích tấc trong thăm thẳm sâu và chập chùng cao: “Chín mươi chín ngọn trời  trồng - Sót hòn côi cút chạy rong về Nghèn”. Trời đã trồng xuống đây 99 ngọn. Những cây đá núi trầm tư ấy mang theo bao dáng dấp của hình voi tượng, của ngổn ngang trần thế cứ võng xuống, cứ đeo đẳng gánh bao nỗi nhọc nhằn để bấm chí vút lên, tạo ra cái địa thế vừa bí ẩn, vừa  phóng túng. Lúc nào cũng như tư thế khởi đầu cho những cuộc biến đổi quyết liệt mà lại ung dung tự tại biết bao. Như ngọn nồm thổi từ biển vào hây hẩy gió. Như bước chân xê dịch của Đại thi hào Nguyễn Du năm xưa vượt núi Hồng vào Trường Lưu hát ví và lên núi Hồng để săn - săn thú và săn thơ. Những câu thơ giăng mắc vào lưới chiều đến đắm đuối cả lòng người.
         Tôi cũng đã đến Song Trạng Nguyên Từ thờ hai cha con họ Sử là Sử Hy Nhan và Sử Đức Huy. Vì họ viết sử và không gì can đảm bằng dám viết sử, nói rõ sự thật chính sử của thời mình sống. Không chịu sự can gián của các thế lực khác mà được đổi từ họ Trần sang họ Sử. Họ Sử rất lạ, hiếm. Thế mà một lần vào dự trại viết văn ở thành phố Nha Trang, tôi lại thấy cả một tên đường mang tên họ Sử ở một ngõ hẻm chạy ra phía biển. Mới biết sức sống của người Việt, người Hồng Lĩnh thật kỳ lạ: “Họ gánh theo cả tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân” (Nguyễn Khoa Điềm). Hôm lên chùa Đại Hùng tôi gặp tượng Kinh Dương Vương nặng đến mấy tấn được đúc bằng đồng do một Phật tử cúng tặng. Bức tượng rất thần thái. Thần thái từ trang phục như các vị Lạc Long Quân xưa được chạm khắc trên trống đồng hay trong các trang sách cổ. Nhưng lại rất thân thiện như một người nông dân bình dị, vừa xong công việc cày ruộng bước lên an tọa nhìn ngắm núi non với thành quả gieo trồng. Dưới chân núi kia trải dài những ô ruộng, những ngọn khói làng quê trầm mặc. Và tôi nghe trong cái trưa cồn cột gió Lào thổi hanh khô có cả tiếng chim cu gáy gù. Tiếng kim xen tiếng thổ và xa lắc xa lơ hình như có cả tiếng  mõ trâu thủng thẳng đi về thung lũng xưaTreo Vọt dù chỉ trong tâm tưởng. Một vùng quê quấn quýt cội nguồn với thiên nhiên như thế thì sao mà không khởi sắc được. Vâng, tôi muốn dùng hai từ “khởi sắc” để nói một vài điểm nhấn thật ấn tượng về con người của vùng đất này.
         Nhà văn Đức Ban - chủ biên cuốn sách Kỷ niệm 25 năm thành lập thị xã Hồng Lĩnh có gợi ý cho tôi viết về cái sự học của con người vùng đất này khi ngồi trên xe ông đi thực tế ở thị xã Hồng Lĩnh. Cái sự học thì mênh mông lắm, có từ bao đời nay. Học trong sách vở, học trong thiên nhiên và học trong cuộc sống. Cái sự học là cả một truyền thống như cái thời hai cha con họ Sử trạng nguyên. Cũng như tôi, cũng khá tự hào khi được làm công việc biên tập của một tờ tạp chí Văn học nghệ  thuật  mang tên Hồng Lĩnh. Còn nhớ, hai chữ Hồng Lĩnh in trên bìa tạp chí những ngày mới chia tỉnh còn khiêm nhường lắm. Nó mực thước, cân xứng như có gì thu nhỏ trong cái khuôn khổ của một nhãn hiệu chứ chưa phải cho một thương hiệu. Qua mấy kỳ xuất bản cũng chính ông nhà văn này đã trực tiếp mời nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo vẽ cho một cái bìa có tên Hồng Lĩnh kiểu chữ khác. Không biết trong cơn cao hứng nào đó thi sĩ, nhạc sĩ tài hoa này ngà ngà hơi men nhìn lên rặng thông xanh vút cao không giới hạn của núi Hồng Lĩnh. Lại sẵn có ông bạn đang hút thuốc lá nhãn hiệu “Dunhil” chữ vượt ra khỏi vỏ bao, thế là ông cho cả hai chữ Hồng Lĩnh tràn ra khỏi bìa không cần chữ có chân như trước. Mới biết cái khí núi ở đây cũng tạo cho tờ báo vượng khí đến bây giờ vượt ra khỏi tầm của một tỉnh lẻ nhưng vẫn giữ bản sắc nguồn cội.


Tượng Kinh An Dương Vương - Ảnh: Ngọc Phú

         Ở đây tôi muốn nói tới cái sự học của truyền thống và của công nghiệp hiện đại. Tôi nói với ông nhà văn đã từng nghiên cứu khá kỹ về văn hóa Hà Tĩnh, bởi có thời ông là giám đốc Sở, rằng: Bác cho em viết tự do - viết cái gì em thích, viết cái gì để em còn học họ! Hồng Lĩnh nhiều người biết rồi, lĩnh vực nào cũng có cả nhưng nghiệm ra càng đi càng thấy mới càng thấy hấp dẫn. Không chỉ là những con số thống kê, không chỉ là những trầm tích huyền thoại, mở mạng ra gõ vào “bác google” là đủ cả. Cái em muốn là tìm được sự ngạc nhiên trước những mẫu người sinh động, những câu chuyện sinh động và những bí ẩn sinh động.
         Tôi cùng nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hướng làm một chuyến tự do ra Hồng Lĩnh. Ông nghệ sĩ này là người mê công việc, mê “nghệ thuật được vẽ bằng ánh sáng” như ông thường nói. Thế rồi chọn ngày đẹp trời, ánh sáng đẹp chúng tôi lỉnh kỉnh đồ nghề lên cái “con xe” mới tậu của Trần Hướng. Tôi thì đơn giản chỉ cuốn sổ nhỏ cây bút và nhiều khi không sử dụng đến. Tôi tin vào trí nhớ của mình, những gì ám ảnh sẽ có bộ nhớ sàng lọc. Nhưng Trần Hướng thì khác. Ông có cả máy ảnh hiện đại mà nghe nói riêng bộ ống kính cũng đã một trăm triệu. Vâng, máy bắt nhạy như thế mới bắt được cái ánh rèn của làng rèn Trung Lương - ông bảo thế!. Còn tôi, tôi muốn bắt cái nhạy cảm, đôi tay thần thái và ngọn lửa trong tâm hồn lòng yêu nghề của họ. Chúng tôi liên hệ với anh Vinh - Trưởng Ban Tuyên giáo Thị xã, chỉ xin đi hai nơi đó là làng rèn Trung Lương và nhà máy Cốc Sợi. Tôi bảo Hướng: chúng ta chọn hai thái cực khác nhau của một thỏi nam châm - rắn và mềm, lửa và lụa, đỏ và trắng; truyền thống và hiện đại; cá thể và dây chuyền. Trần Hướng có vẻ hào hứng với hai sắc màu lửa đỏ của ngọn lửa rèn và trắng như lụa của những sợi vải mịn màng ở phân xưởng máy Cốc Sợi.
         Đến khu rèn công nghiệp, tôi ngồi nói chuyện với anh Nguyễn Ngọc Dương - Giám đốc Công ty TNHH Núi Hồng, còn Trần Hướng tranh thủ ánh sáng, chọn góc độ để chụp công nhân làm việc. Câu chuyện của tôi với Dương ban đầu có vẻ rời rạc, xung quanh chuyện nguyên liệu sản xuất đầu vào, sản phẩm xuất xưởng đầu ra... Nguyên liệu thì có sẵn như phôi sắt, phôi gang. Sản phẩm là những chi tiết máy công cụ và nông cụ như: dao, búa… Lương công nhân tháng 5 triệu, nhiều tỉnh đến đặt hàng, nhất là khu vực miền trung. Tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ viết về “Bệ lò rèn làng tôi thủa nhỏ” của thi sĩ nổi tiếng Huy Cận. Ông viết thật hồn nhiên. Cứ tưởng kể như thật mà có gì cứ chập chờn, thảng thốt ẩn hiện và da diết níu kéo: “Bệ lò rèn làng tôi thủa nhỏ - Tôi nhớ hoài không chán, không về - Sắt  đập sắt nguội rồi lại đỏ - Cái lò cừ thôn xóm sớm khuya”. Lại nhớ cái hôm khai mạc trại sáng tác ở thị xã Hồng Lĩnh, đoàn  văn nghệ sĩ được vào thăm đền thánh thợ Vân Chàng thờ ông tổ nghề rèn và những người thợ rèn giỏi có công trong việc truyền nghề và chống giặc ngoại xâm. Tôi hỏi Dương:
         - Nghe nói ở Nam Định cũng có làng rèn Trung Lương, rồi ở huyện Triệu Phong - Quảng Trị cũng có làng rèn Hiền Lương. Thế thì ông tổ làng rèn ở đây có phải là tổ chính gốc không? Bởi tôi thấy đền thờ còn nguyên vẹn cả một trầm tích quá khứ trong câu chuyện của người làng. Kể cả cái giếng mắt rồng ở ngay cổng đền không cạn nước bao giờ.
         Như bắt được mạch, cái huyết mạch làng nghề cụ tổ truyền cho nằm ẩn sâu trong mình, Nguyễn Ngọc Dương nhổm người dậy rót nước chè xanh đặc sánh mời tôi. Và anh biến thành một con người khác hẳn. Ở đây cái chất thợ chạy cuồn cuộn trong người mới được kích hoạt, thăng hoa. Anh sôi nổi:
         - Bác có biết không, dân Trung Lương mang lò bể đi nhiều miền quê trong nước sang cả Lào, Thái Lan. Cái làng rèn Hiền Lương chính là do người thợ giỏi làng Trung Lương là hai anh em Trương Như Trung và Trương Như Hiền. Trung ở lại Trung Lương, còn Hiền vào Quảng Trị lập làng rèn Hiền Lương. Xu thế ngày xưa là đi về phía Nam (tôi chợt nhớ chuyện Chúa Nguyễn Hoàng mở cõi trong cuốn tiểu thuyết Minh Sư của nhà văn Thái Bá Lợi). Vì thế chuyện người Trung Lương ra Bắc ít thấy. Ở đây còn truyền lại truyền thuyết tổ sư nghề rèn là ông Không Lộ - Ông Đùng. Chuyện về làng Trung Lương thì nhiều người biết rồi, nhưng…
         Thấy Dương ngập ngừng, tôi đoán trong tâm trạng của anh có gì đó vẫn chưa được thoải mái. Tôi hỏi:
         - Hình như anh vẫn còn băn khoăn điều gì với làng nghề ở đây phải không. Tôi thấy ở khu công nghiệp này được đầu tư máy móc khá hiện đại, nhưng nhiều nhà vẫn làm ăn nhỏ lẻ. Hay cái nghề truyền thống này có bí quyết gì chăng?.
         Dương bảo: Anh hỏi thì em cũng xin nói thật. Người làng nghề rèn Trung Lương cần cù, thông minh, chịu khó nhưng vẫn còn bảo thủ. Chưa chịu đầu tư và mở rộng thị trường, làm đến đâu ăn đủ đến đó, an phận. Công cụ thì sắc nhưng mẫu mã chưa đẹp, tiếp thị còn yếu…
         Tôi nhớ cạnh đền thờ cụ tổ làng rèn có một gia đình hai vợ chồng làm nghề rèn. Nghề rèn vất vả lắm - nhất là mùa nắng. Ba giờ sáng đã dậy để quạt lò, nhóm lửa và tranh thủ trời mát để nung đỏ phôi. Chồng quai búa, vợ thụt lò - Cái lò bể vẫn như ngày xưa. Những tiếng đập búa vọng trong không gian đơn độc, như một khúc nhạc đồng quê rời rạc nhưng thắm đượm ân tình của cái cảnh: “Thuận vợ, thuận chồng” thuần nông nhỏ lẻ. Tính toán làm sao khoảng 9 giờ nắng lên là đến công đoạn mài giũa. Dương đưa cho tôi xem phiếu đăng ký tham gia bình chọn sản phẩm công nghiệp tiêu biểu là bộ “Hố ga giao thông”. Phần mô tả sản phẩm có ghi: Thu gom nước thải, rác thải trên hệ thống các trục đường giao thông, các khu vực quy hoạch như: sân bay, công trình thủy lợi được  nhiều nơi đến đặt hàng.
         - Thế bí quyết khó nhất nghề rèn là gì mà  chỉ có ở Trung Lương mới làm được - Tôi hỏi
        Dương thủng thẳng nói với tôi thật tự tin, rành rẽ như đang đối thoại với chính mình.
         - Đúc gang. Đúc gang thật khó. Khó hơn đúc các vật liệu rắn khác. Ở đây đòi hỏi tay nghề cao, tinh xảo. Có một số phụ tùng phải đúc bằng gang có độ chính xác tuyệt đối của các chi tiết máy. Nguyên liệu thì cũng giống nhau, khuôn thước như nhau. Nhưng để có những sản phẩm hoàn hảo ấy chí có làng  rèn Trung Lương mới đảm bảo  được yêu cầu của khách hàng.
         - Anh học được nghề rèn từ ai?
         - Từ bố tôi. Và đặc biệt là ông tôi được dân làng ở đây xem như là ông tổ nghề rèn thời hiện đại. Mà cuộc đời  ông tôi cũng nghệ sỹ lắm!
         Nghệ sĩ - tôi thốt lên ngạc nhiên bởi không ngờ hai chữ “nghệ sĩ” luôn dành cho những người làm văn nghệ như chúng tôi lại được dân làng tôn vinh ông như vậy.


Thợ rèn làng Trung Lương - Ảnh: Ngọc Phú

        Dương kể: Ông tôi lạ lắm và đa tình lắm. Là một nghệ nhân giỏi đã từng đi thi đúc đồng từ thời Pháp thuộc và được phần thưởng cao nhất. Đó là đúc những chi tiết tinh  xảo trên cán cân của cái cân ngày trước. Chữ con số, chữ nổi rất đẹp lại sao cho cân bằng động thật chi li đến nỗi mấy ông Tây thán phục lắc đầu: Dân An Nam giỏi thật Một lần đi vào Thạch Linh rèn nông cụ và dạy nghề ông tôi mê một cô bé 13 tuổi rất xinh. Ông đã xin phép đưa về nhà sắm  sửa  không tiếc thứ gì cho người đẹp còn tuổi thiếu niên đến khi trưởng thành thiếu nữ thì cưới làm vợ.
         Câu chuyện nghe cứ như văn chương. Thì ra trong sâu thẳm tâm hồn của những người quen quai búa, nói to, bắp tay vồng ngực cuồn cuộn luôn tiếp xúc với  sức nóng ngàn độ lửa với  những âm thanh va chạm sắt thép khô khan lại thăm thẳm đắm đuối  trước tình yêu, cái đẹp, cái mềm mại duyên dáng của ngàn đời. Đó chính là sự đối trọng để cân bằng lại của những gì ngỡ như thái quá. Tôi lại chợt nhớ và không hiểu sao khi đến đây thỉnh thoảng bất chợt trong tôi lại lóe lên những hình ảnh liên tưởng chắp nối như ánh lửa hàn trong trí nhớ của mình vậy. Như chợt nhớ ra “Thép đã tôi thế đấy”  một tác phẩm văn học xô viết hấp dẫn tôi ngay từ tuổi thanh xuân. Không ngờ câu chuyện lại kết thúc thật có hậu khi tôi biết thêm cái bí quyết để ông nội Dương: Cụ Nguyễn Phác (Mất năm 1983) truyền lại cho con cháu là nước tôi của phôi sắt
         - Nước tôi! Tôi cứ tưởng cái đó đã thành một công thức như một phản ứng hóa học.
         Dương cười - Nụ cười rạng rỡ như người lần đầu tiên được công bố phát minh của mình.
         - Không đơn giản thế đâu, tất nhiên là tôi trong nước có pha hóa chất. Nhưng thời gian tôi là cả một bề dày kinh nghiệm và cả linh cảm của người thợ. Có người tôi trong nước tôi trong bùn. Có người tay nghề cao hơn thì cắm phập mũi dao còn đỏ lửa vào đất. Nhưng là cái đất của Trung Lương, đất thịt pha cát chứ không phải là đất nơi khác. Riêng ông nội tôi có một phép tôi thật độc đáo chưa ai làm và cũng không thể làm được đó là …
         Dương dừng lại cứ nhẫn nha rót nước, nhẫn nha hút thuốc lào phả khói lim dim, nhẫn nha ngước nhìn ra xa. Phía xa kia là làng Trung Lương với màu xanh bạt ngàn của tre và bụi chuối. Và nhẫn nha nhìn tôi để nhấn nhá rành rọt:
         - Ông tôi tôi phôi trong thân cây chuối hột.
        Đến lúc này thì tôi bật dậy như cái lò xo nắm lấy hai tay Dương lắc mạnh:
        - Kỳ diệu, kỳ diệu quá. Nhưng sao lại tôi trong thân cây chuối hột.
        Thì ra thân cây chuối hột có nước, nước ngấm dần làm cho phôi sắt đỏ lửa nguội dần. Chao ôi, cái sáng kiến này thật thuần nông, thuần việt, thật gan ruột, thật nồng nàn, thật đôn hậu có một không hai. Cây chuối bao đời gắn bó với người nông dân từ  nải chuối chín “Mẹ già như chuối chín cây” đến tàu lá chuối xanh gói bánh mà hương vị bánh thơm từ hương vị lá. Rồi củ chuối đào lên chế biến thành món nộm của những ngày đói kém là đặc sản “Rau sạch” của bây giờ. Thì ra thân chuối là chiếc hàn thử biểu, chiếc nhiệt kế kỳ diệu đo được thân nhiệt thật chính xác…
        Buổi chiều chúng tôi sang nhà máy Cốc Sợi. Sang đây là hạ nhiệt rồi. Xưởng máy có điều hoà mát lạnh nhưng tiếng động cơ chạy thì người không quen đứng trong đó khoảng 20 phút đã long óc khó chịu. Nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Hướng như một con thoi chạy giữa những hàng máy dệt nhịp nhàng đưa thoi. Anh Nguyễn Thanh Sơn - Trưởng phòng điều hành dẫn chúng tôi đi tham quan và cho biết: nhà máy Cốc Sợi thuộc tập đoàn dệt may Việt Nam. Nhà máy đưa vào sản xuất năm 2013, với vốn điều lệ ban đầu là 80 tỷ đồng được trang bị các máy móc thiết bị hiện đại, hiện có 4 vạn cọc sợi. Mỗi năm nộp thuế cho tỉnh 7 tỷ đồng. Công nhân chủ yếu là con em trên địa bàn được đào tạo trực tiếp ở đây ba tháng. Bốn trăm công nhân, lương mỗi tháng năm triệu, có bữa ăn trưa với một hộp sữa tươi tiệt trùng cùng một hộp sữa chua chống độc. Tôi hỏi Sơn:
         - Theo bạn lý do gì mà nhà máy lại đặt trên đất thị xã Hồng Lĩnh chứ không phải nơi nào khác trong tỉnh Hà Tĩnh.
         Nguyễn Thanh Sơn dáng dấp còn rất trẻ, nhưng cũng khá chững chạc trong vai trò của một “ông chủ nhỏ’’:
         - Em cũng quê Hồng Lĩnh nên rất tự hào khi được làm việc trong nhà máy đặt trên đất quê hương. Trước khi tập đoàn dệt may quyết định đặt nhà máy ở đây họ cũng đã khảo sát rất kỹ. Trước hết là các cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư của thị xã, tạo mọi điều kiện thuận tiện nhất. Mặt khác nhân tố con người cũng rất quan trọng. Đội ngũ công nhân con em Hồng Lĩnh vốn có truyền thống cần cù, chăm chỉ, hiếu học, vừa có công việc làm, vừa đóng góp sức mình cho quê hương. Và một điều rất quan trọng là địa bàn ở đây thuận tiện giao thông để chuyên chở nguyên liệu và sản phẩm.
         - Thế tiêu chuẩn chọn công nhân ngoài lý lịch, sức khỏe tình độ văn hóa 12/12 sinh năm 1980 trở lại thì còn điều kiện gì nữa không
         - Tôi hỏi quản đốc.
         - Cân nặng và chiều cao nữa anh ạ. Ví như Nam 1m55 trở lên, nữ 1m50 trở lên. Thì ra thời buổi công nghiệp, con người không chỉ được trang bị kiến thức trí tuệ mà cả về thể chất nữa. Chắc đất Hồng Lĩnh với thông xanh cứng cáp với khí hậu ôn hòa với những sản phẩm nông nghiệp tự mình làm ra, với cái “gien” trội của linh khí đất này sẽ sinh ra và nuôi dưỡng một lớp người mới với dáng vóc mới. Thật ra có xa lạ gì đâu, vải vóc ta mặc trên người hàng hiệu Coton 100% lại bắt đầu từ đây từ mảnh đất nghèo này. Từ những nam thanh nữ tú đứng máy uyển chuyển cứ như nghệ sỹ đàn  piano vậy. Nguyên liệu thì tất nhiên phải nhập từ nước ngoài như Ấn Độ, nhưng sản phẩm làm ra … Khi thấy tôi e ngại Nguyễn Thanh Sơn trả lời quyết đoán :
         - Sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài đến 95% sang cả Trung Quốc và Nhật Bản, không có hàng ứ đọng, việc làm không hết quanh năm. Chúng tôi đang xây nhà ở cho công nhân. Chủ yếu con em địa bàn ở đây và các huyện lân cận như Đức Thọ và Can Lộc, nên bước đầu hết ca có thể về nhà.
        Nhìn khuôn viên cây xanh, cây cảnh khá khang trang của  nhà máy và đặc biệt khi thấy một đội ngũ công nhân được đào tạo tại chỗ, thao tác máy  móc nhịp nhàng tôi như ngỡ lạc vào một không gian thế giới trắng của ánh điện, của màu trắng mịn màng   sợi vải ánh lên như một hào quang trắng. Chia tay Nguyễn Thanh Sơn tôi bảo : Ở nhà máy Cốc Sợi Hồng Lĩnh này có hai Sơn là Nguyễn Thanh Sơn còn có tổng giám đốc Nguyễn Trí Sơn. Sơn là núi chính các anh Như Hồng Lĩnh  tự mình xây núi lớn ….
 

Hà Tĩnh, ngày 14 tháng 9 năm 2016

                                                                                          N.N.P

 

. . . . .
Loading the player...