Tạp chí Hồng Lĩnh số 124 tháng 12 giới thiệu bạn đọc bút ký "Ngày mai đồng lại lên xanh" của tác giả Trần Thị Tú Ngọc
Về với Hương Khê là về với vùng đất trập trùng đồi núi và bát ngát màu xanh. Xanh thăm thẳm của rừng, xanh biêng biếc vườn cam vườn bưởi, xanh tươi đồng cỏ mới, xanh rờn những bãi ngô non. Giữa màu xanh miên man điệp trùng ấy, con sông Ngàn Sâu như một dải lụa xanh buông lơi từ trên những đỉnh núi cao quanh năm mây mù bao phủ của dãy Giăng Màn, nhẹ nhàng chảy về xuôi rồi hợp lưu với sông Ngàn Phố tại ngã ba Tam Soa tạo thành dòng La để về với biển. Thượng nguồn con sông nằm trên địa bàn huyện Hương Khê, từ hàng trăm năm nay đã là nơi quần tụ của những xóm làng đông vui trù phú. Con sông mang dòng nước mát tưới cho cánh đồng tháng bảy tháng tám khô kiệt nứt nẻ bởi gió Lào. Con sông chở nặng phù sa bồi đắp cho những bãi bờ hai bên thêm màu mỡ. Đầu nguồn sông nơi những khe những suối tụ về còn là nơi cư trú của loài cá mát, cá lúi ngon nổi tiếng. Thế nhưng cũng chính con sông hiền hòa ấy mỗi khi giận dữ trở mình lại gây ra bao thảm họa kinh hoàng.
Nhớ thủa bé theo mẹ về thăm nhà ông bà ngoại, tôi vẫn thường ngạc nhiên không hiểu nổi sao nhà ông bà đắp nền cao đến thế. Nền nhà cao hơn khu vườn đến nỗi con ngõ dẫn vào nhà trở thành con dốc. Không chỉ riêng nhà bà mà tất cả nhà xung quanh xóm Bãi này đều như thế. Hỏi thì bà tôi chỉ móm mém cười: Rứa thì khi lụt trèo lên chạn mới không bị ngập chứ răng. Tôi nhìn ra con sông nằm xa xa bên cánh đồng mỏng manh như một lằn sáng bạc, đầu óc trẻ thơ không thể tưởng tượng nổi có khi nó lại phình to ào ạt tràn qua đồng rồi dâng lên mấp mé nóc nhà bà tôi. Cảnh tượng đó khác gì đại hồng thủy trong sách vở.
Thế nhưng với người Hương Khê sinh ra và lớn lên bên sông, những mùa lũ như thế không có gì xa lạ. Hầu hết nhà cửa ở đây đều là nhà cấp bốn, nhà gỗ nhỏ, chiều cao chỉ từ hai mét đến hai mét rưỡi. Vì vậy khi làm nhà phải tính toán đắp nền cao để khi nước ngập vẫn không quá mái. Trên mỗi nhà đều có chạn, là bộ phận giống như căn gác sát mái, được kê bằng những dầm gỗ chắc chắn như gỗ vàng tim, gỗ mít gác lên vì kèo của cột nhà. Sàn chạn được lát ván để có thể đặt đồ đạc, đảm bảo cho cả gia đình bốn năm người có thể trú ngụ trong những ngày nước ngập. Để leo lên chạn người dân thường dùng thang gỗ hoặc thang tre buộc vào cột nhà. Khác với căn gác mái thông thường, chạn tận dụng khoảng không gian trống giữa hai mái nhà và nóc nhà nên rất thấp, ở trên chạn phải ngồi hoặc đứng lom khom. Đối với những đứa trẻ sinh ra trong vùng lũ, mỗi cái chạn là một thế giới đầy ắp điều bí mật. Vào mùa khô, đó là nơi cha mẹ dùng để cất thóc giống, lạc giống, khoai lang…Giữa những bồ những cót trong khoảng không gian tôi tối ấy, có bao nhiêu chỗ có thể ẩn nấp khi chơi trốn tìm hoặc lẩn trốn khi bị mẹ đánh đòn. Vào ngày lũ, cả gia đình rút lên sống trên chạn, trong khi cha mẹ lo lắng nhìn nước bạc băng vời bốn phía thì trẻ con lại hồn nhiên tưởng tượng cái nhà của mình sắp biến thành con thuyền. Cảm giác sợ hãi chỉ đến khi nước đã mấp mé gầm chạn mà trời vẫn không ngừng mưa. Thế rồi nước tiếp tục dâng lên, dâng lên. Chạn rồi cũng ngập. Đồ đạc soong nồi bắt đầu trôi lềnh phềnh. Cha hoảng hốt trổ mái nhà cho mẹ con chui ra leo lên nóc. Bên ngoài mưa như trút nước, bốn phía tối om vì lũ thường lên đột ngột vào đêm. Trong tiếng mưa gầm thét, tiếng người kêu cứu, tiếng trẻ con khóc thét, con đò nhỏ chòng chành không đủ chỗ cho cả gia đình. Bao giờ cha cũng là người ở lại sau cùng trong căn nhà đã ngập. Sau những mùa lũ như vậy, có những đứa trẻ thêm vành khăn tang trắng trên đầu.
Lại nói về những con đò ở Hương Khê. Đây không phải là vùng sông nước, núi dựng bốn bề, đường đi quanh co đèo dốc. Thế nhưng hầu như gia đình nào ở Phương Điền, Phương Mỹ, Hương Thủy, Hà Linh …đều sắm cho mình một con đò nhỏ. Ở đây người ta gọi là nôốc. Giải thích cho sự ngạc nhiên của tôi, bác Trương Văn Dũng, một người dân Phương Mỹ sống ngay bên sông Ngàn Sâu bảo: Đất đây lạ lắm, nhìn thì toàn núi non thế thôi, chứ một trận mưa xuống là đường ngập, cầu ngập, ruộng vườn ngập, làng xóm thành ốc đảo, có khi chia cắt cả nửa tháng trời. Xung quanh chỉ toàn nước bạc, nếu không có cái nôốc này thì lấy gì chở con đi học, chở người đi chợ, chẳng may đau ốm thì biết kêu ai. Thì ra cái câu chảo lửa túi mưa để chỉ một dải miền Trung khắc nghiệt thật chẳng sai chút nào. Mùa nắng thì nắng rát mặt, nắng cho sông hồ khô kiệt, nắng đến nỗi trẻ em chảy máu cam. Đến khi mưa thì mưa như thác đổ, chập tối mới mưa nửa đêm nước đã vây quanh nhà. Cho nên như một cái sự lo xa, nhà nào cũng sắm cái nôốc nhỏ treo đầu hồi. Phòng khi nước lên để còn có phương tiện đi lại, mua dầu đèn thuốc thang, chở nước sạch về dùng, hay chèo ra chỗ cao ráo nhận mì tôm cứu trợ cho qua ngày khốn khó. Hơn nữa trong những trận lũ kinh hoàng khi nước lên nhanh quá trong thoáng chốc đã ngập đến chạn thì còn có chỗ đưa con cái lên đó cố gắng bám trụ đợi người tới cứu. Dân nghèo nên cái nôốc như phương tiện cứu sinh mà cũng rất sơ sài. Có cái đóng ghép bằng gỗ dù trám kĩ đến mức nào thì vào mùa hè cũng bị hong khô nứt nẻ bởi gió Lào, đến khi hạ thủy nước chảy ồ ồ, vừa chèo đò vừa tát nước. Có cái làm bằng vật liệu mới như nhôm tuy nhẹ lại bền nhưng ít đằm nên khi nước chảy mạnh hay gió to dễ dạng bị lật úp. Tay người chèo yếu ơt mà con nước mùa lũ hung hiểm khó ngờ. Nhìn những cái nôốc nhỏ chòng chành trên sông Ngàn Sâu mùa nước lũ chở trẻ em Phương Mỹ đến trường, nghĩ cái sự học ở đây còn nhọc nhằn lăm lắm. Ước mơ có một cây cầu cho Phương Mỹ, ước mơ có hàng nghìn cây cầu cho những vùng khó khăn trên đất nước hơn hai nghìn ba trăm sáu mươi con sông này.
Nếu những cánh rừng xanh ngắt vẫn còn, nếu những hồ thủy điện nơi đầu nguồn vận hành đúng qui trình, nếu Trái Đất đừng biến đổi khí hậu dữ dội như hiện nay, thì có lẽ người dân Hương Khê vẫn bám trụ được với con sông Ngàn Sâu như hàng trăm năm qua họ vẫn sống bình yên như thế. Thiên nhiên càng khắc nghiệt càng tôi luyện ý chí con người. Mỗi một mùa lũ qua họ lại nhìn ngấn lũ để gia cố nền nhà chắc chắn hơn, để sửa sang cái chạn rộng rãi hơn, để gia cố lại con đò vững vàng hơn. Thế nhưng lũ chồng lên lũ như những trận lũ liên tiếp như tháng 10 năm 2016 vừa rồi thì người dân quê tôi gần như kiệt sức. Sức người đã không thể địch nổi sức thiên nhiên. Con người không thể đoán nổi mức độ tàn phá của thiên tai. Bác Nguyễn Hữu Tình ở Phương Điền chỉ vào ngấn lũ trên cột nhà, buồn bã nói: “Ngày 14.10 mưa trút cả ngày, tôi đoán lũ sẽ vào nên vợ chồng dọn dẹp đồ đạc lên cao, chở các con vào trú trong nhà bà ngoại rồi quay về đưa đàn gà vịt lên bè. Thế mà chỉ vài tiếng đồng hồ sau nước đã chảy vào lút lên sát mái. Chỉ còn mỗi một bộ đồ mặc trên người, còn thóc gạo quần áo gà vịt trôi hết. Làm lụng cả năm trời phút chốc trắng tay”. Chị Phạm Thị Vị ở xóm Phù Lập vừa dọn dẹp vườn bưởi tan hoang sau lũ, vừa lau nước mắt: “Khổ lắm cô ơi, người chạy lũ chứ cây cối chạy đi đâu được. Cả vườn bưởi nhà tôi trồng hơn mười năm, đợt một lũ vào ngập lút ngọn, bao nhiêu trái chưa kịp bán thối ủng hết. Đất chưa kịp khô thì lũ lại lên, nước chảy mạnh quá bật hết gốc. Còn sót lại cây nào thì cũng thối rễ mà chết. Trồng một cây bưởi lên chăm mòn tay năm năm sau mới có quả, vậy mà chỉ cần một trận là mất tất cả rồi.”. Về thủ phủ của vùng bưởi Hương Khê sau khi lũ rút, chỉ thấy ngổn ngang một vùng như trận bão lớn vừa càn qua. Những cây bưởi lâu năm tháng trước còn um tùm tỏa bóng quả sai trĩu trịt thì giờ đây chết lụi ngọn giơ bộ xương trắng xóa bùn trơ trọi giữa trời. Cây nào thấp nhỏ bám yếu hơn thì bị kéo bật cả gốc, nguyên cả tảng đất và bộ rễ trồi lên để lại bên dưới là hố đất toang hoang. Nhìn vài cây ngã hay gãy đổ đã xót xa, đằng này kéo một vệt dài hàng chục cây số hai bên đường là hàng nghìn hàng nghìn cây bị nước lũ cuốn xô rụi vào nhau. Lẫn trong đó là những người nông dân tuyệt vọng đứng nhìn cơ đồ chắt chiu suốt đời làm lụng của mình bị lũ san phẳng.

Bưởi Hương Khê - Ảnh Minh Chiến
Đã từ lâu, bưởi Phúc Trạch là đặc sản nổi tiếng của huyện Hương Khê. Qủa bưởi to tròn ngắt xuống bôi vôi đầu cuống để ba bốn tháng không hư hỏng, múi bưởi ngọt thanh ăn vào nhớ mãi không quên. Mỗi gia đình ở Phúc Trạch, Hương Đô, Lộc Yên… đều có vài chục đến và trăm gốc bưởi. Mùa xuân hoa nở trắng vườn, khi nắng hè sang quả xanh bóng lớn dần lên để đến rằm Trung Thu bưởi nằm viên mãn như vầng trăng tròn trên mâm ngũ quả giữa những hồng những chuối. Mỗi vườn bưởi hàng năm cho thu hoạch trên dưới trăm triệu đồng, là cây đặc sản giúp người dân thoát nghèo vươn lên làm giàu bền vững. Thế nhưng khi cơn lũ đi qua, hơn 400ha bưởi của Hương Khê thiệt hại nặng nề, hàng vạn cây bưởi độ tuổi 10 đến 15 năm gãy đổ, bật gốc, kéo theo sinh kế của hàng nghìn hộ dân mất trắng. Xã Hương Trạch là nơi thiệt hại nặng nhất khi có hơn 60ha bưởi với khoảng 2,4 vạn cây bị hư hỏng hoàn toàn. Nguy hiểm hơn, cùng với sự mất đi của vườn bưởi, nước lũ cũng đào khoét tại nơi gốc bưởi bị bật lên thành các hố sâu hoắm trong vườn, muốn trồng cây mới phải mất bao công san lấp. Người dân kiệt sức vì lũ nhưng vẫn phải gượng dậy để dọn dẹp, cắt cành, chặt cây, san đất. Rồi còn tính toán cho những mùa sau. Mùa sau cây bưởi trồng lên đã kịp bén rễ trước khi lũ về hay chưa?
Lũ qua rồi, con sông Ngàn Sâu lại rút về dòng cũ, bình thản trôi xuôi như chưa từng gầm thét bao giờ. Công việc tái thiết sau lũ biết bao bộn bề khó nhọc. Những ngôi trường chưa khô sạch cho trẻ học bài. Những cánh đồng sạt lở mất cả bờ bao. Những khu vườn trắng xóa bùn đất và xác cây chết. Rồi đàn trâu đàn bò không còn rơm cỏ để ăn khi mùa rét đã cận kề. Cùng với việc đón nhận những đoàn xe cứu trợ sẻ chia đùm bọc từ mọi miền đất nước gửi về, người Hương Khê lại đặt cày lên vai để lặng lẽ ra đồng. Vụ đông đã muộn vì lũ lụt, nhưng nước rút đến đâu gieo trồng đến đó. Bởi vì sau những luống cày còn vương mùi bùn ải, là hạt giống gieo xuống gửi gắm biết bao hy vọng, là ước mơ thầm lặng cho những ngày mai. Ngày mai đồng lại lên xanh.
T.T.T.N