02-12-2015 - 04:16

Giai thoại về Đình nguyên Thám hoa Phan Kính

Cuộc đời Đình nguyên Thám hoa Phan Kính đã để lại nhiều giai thoại đẹp đẽ và kỳ bí. Nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày mất của danh nhân ( 06/12/2015), xin cung cấp cho đọc giả một vài mẩu chuyện được lưu lại trong gia phả cũng như dưới dạng truyền ngôn của bà con trong làng và trong dòng họ.

GIAI THOẠI VỀ THÁM HOA PHAN KÍNH
 

        Phan Kính ( 1715- 1761) tự là Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 06/12/1715, quê làng Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn ( nay là xã Song Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh). Với tài cao học rộng, Cụ  thi đỗ Đình nguyên Thám hoa năm 1743, từng đảm nhận nhiều trọng trách của triều đình đương thời, để lại nhiều dấu ấn trên con đường võ công cũng như văn nghiệp. Vua Càn Long mến phục tài năng của cụ Phan nên đã gia phong danh vị “ Lưỡng quốc đình nguyên Thám hoa" tặng áo cẩm bào và  bức trướng, có ghi dòng chữ “ Thiên triều đặc tứ Bắc Đẩu dĩ Nam nhất nhân nhi dĩ” (về phía Nam sao Bắc Đẩu chỉ có một người mà thôi). Sau khi Cụ mất, vua Lê Hiển Tông và Minh đô vương Trịnh Doanh đã tự tay đề bức trướng phúng viếng: " Lưỡng đồ văn hữu vũ - Vạn lý hiểm vy di" (Hai đường văn lẫn võ – Vạn dặm hiểm lại bình), ban sắc truy phong chức Hữu thị lang Bộ hình, tước Quỳ dương bá, thụy Trung hiển. Năm 1783,  vua Lê Hiển Tông phong sắc tôn cụ là Thành hoàng, gia phong  là “Anh nghị đại vương”.Sắc phong mỹ tự của vua Cảnh Hưng năm 1783 đã viết: “…Tướng công văn tài đứng hàng đầu nho sĩ, võ lược xếp vào loại tướng giỏi, được trong triều ngoài quận kính trọng, là người có danh vọng cao như sao Bắc Đẩu trong số các bậc sĩ phu ở trời Nam. Chốn miếu đường cũng như nơi chiến địa đều lẫy lừng tiếng thơm, một miền biên thùy phía Bắc đều khen tài lạ. Từng được ban khen vinh hiển. Sống vẻ vang chết cũng vẻ vang nên cho được hưởng lộc đời đời…”. Năm 1992, nhà thờ Phan kính được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia.
         Cuộc đời Thám hoa Phan Kính đã để lại nhiều giai thoại đẹp đẽ và kỳ bí. Nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày mất của danh nhân ( 06/12/2015),  xin cung cấp cho đọc giả một vài mẩu chuyện được lưu lại trong gia phả cũng như dưới dạng truyền ngôn của bà con trong làng và trong dòng họ:
1. Thần đồng Lai Thạch
Năm Nhâm Dần (1722) trong xã Lai thạch có kỳ thi sát hạch, năm ấy cụ Phan Kính mới lên 8 tuổi, biết mình chưa đủ tuổi nên cụ đã bí mật xin ghi tên dự thi. Đề thi là một bài thơ thất ngôn và một bài văn sách. Sau khi công bố kết quả, người cậu ruột là Nguyễn Quỳnh (Giám sinh Quốc Tử giám) biết chuyện, tìm đến huấn đạo xem bài thi của cháu, thấy bài thơ thất ngôn ca ngợi thời Đường ngu có câu:
“Đệ nhất hoa huân thâm hoán tưởng
Khả tam sự nghiệp đốc tư duy….”
Nghĩa là:
Nhất lập huân công lòng nổi dậy
Ba kỳ sự nghiệp chí vươn lên
Người cậu rất ngạc nhiên và tự hào, và cảm ơn vị huấn đạo rồi nói: “Rất xứng đáng”.
2. Đối đáp khi thi Hương
Năm Giáp Thìn ( (1724), Phan Kính mới 10 tuổi đi dự kỳ thi hương trường huyện La Giang. Quan giám khảo là người Đức Quang (Đức Thọ) thấy Phan quá bé nhỏ, nhưng bài vở lại đạt loại ưu nên ra thêm một vế câu đối: “La Sơn, Lai Thạch thằng bé lách chách vào hạch trường Hương”. Sau vài giây duy nghĩ, Phan đối đáp luôn: “Nghệ An, Đức Quang, võng lọng nghênh ngang làm quan giám khảo”.
Thấy Phan nhỏ tuổi mà thông minh, có khẩu khí tốt, đối đáp chặt chẽ nên quan giám khảo lấy đỗ hàng đầu.
3. Qua đò ném dao “thề”
Khoa thi Hội năm Quý Hợi (1743), sau nhiều phen lận đận nơi trường ốc, Phan Kính ra Thăng Long dự thi, khi qua bến đò Phù Trạch,  ra đến giữa sông Lam, Phan đã ném một con dao xuống sông thề rằng: “Thi hội, thi đình lần này không đỗ, ta quyết không trở về qua đây nữa”. Kết quả thi lần này, Cụ đã Đỗ Đình nguyên Thám hoa và được triều đình ban cấp ngựa tiền về quê vinh quy bái tổ.

Sắc phong của vua Cảnh Hưng “Cho đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh" năm 1743

4. Anh này thế nào cũng đỗ
Năm Quý Hợi (1743), Phan Kính đi thi, trên đường đi gặp một ông phú hộ, biết tiếng cụ Kính là người hay chữ xin giúp một bài văn tế, biết phận nhà nghèo nên cụ giúp ngay, kiếm thêm chi phí đi đường.
Do vui chuyện cùng ông phú hộ mà đến trường thi bị trễ, sáng mai vào thi rồi mà chiều tối nay mới tới nơi, không kịp làm thủ tục, cổng trường đã đóng chặt. Phan Kính buồn chán tính đợi khoa sau.
Bất ngờ đêm ấy bỗng mưa to gió lớn, lều chõng của các sĩ tử bị đổ hết, ban giám khảo phải xin phép hoãn lại hôm sau. Nhà vua lệnh cho hoãn và cho xem xét các trường hợp đến chậm được vào thi. Khi xét cụ thể chỉ còn một sĩ tử duy nhất được xét đó là Phan Kính, chúa Trịnh nói: “Anh này thế nào cũng đỗ”. Quả nhiên Phan Kính đã đỗ Đình nguyên Thám hoa.

5. Người con gái cụ Thám
Phan Kính có một người con gái tên là Phan Thị Toản. Sống trong một gia đình khoa bảng bên nội, bên ngoại đều quen với đèn sách văn chương, cô Toản cũng giữ được gia thanh, có tiếng tài sắc vẹn toàn. Nhiều chàng trai đã rắp ranh giương cung bắn sẻ, trong đó có cả chàng trai Nghi Lộc đã nổi danh thông minh linh hoạt ở đất Nghệ An đó là Nguyễn Hữu Chỉnh, sau là Bằng Quận công, có vai trò quan trọng ở thời đại Lê Trịnh – Tây Sơn cuối thế kỷ thứ XVIII.
Chuyện kể rằng: Nguyễn Hữu Chỉnh tìm đến gia đình cụ Phan Kính ở Vĩnh Gia để xem mặt cô Toản và tìm cách ướm lời. Cô Toản cũng được phép tiếp chuyện với các nhà danh sĩ lui tới để tìm ý trung nhân.
Vào một buổi hoàng hôn, trên trời đã xuất hiện nhiều ngôi sao lấp lánh. Nhìn cái hồ bán nguyệt có bậc tam cấp, cô Toản nảy ra ý tứ, đọc cho Nguyễn Hữu Chỉnh một vế đối:
Tây trúc trì trung, ba động bán thiên ngư đẩu
(Rửa chân trong sao, lay động nửa trời tinh tú)
Nguyễn Hữu Chỉnh nghĩ mãi chưa ra, chợt nhìn vào tường nhà có treo một bức bản đồ trang trí nên ứng khẩu đáp lại:
Họa đồ bích thượng, tận thâu tứ hải sơn hà
(Vẽ đồ trên vách, thu hết bốn bể non sông)
Cô Toản khâm phục tài năng của Chỉnh, khẩu khí đó chứng tỏ con người này có thể làm nên đại sự, có thể gửi phận trao duyên. Cô Toản kể lại với cậu ruột là Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử). Cậu nói với cháu: “Câu ra của cháu rất hay, mà câu đối lại cũng rất chỉnh, ý tứ văn chương đều xuất sắc cả, chỉ có điều … bản đồ thu hết sơn hà chẳng qua chỉ là một tờ giấy mà thôi”.
Cô Toản lẳng lặng ghi nhớ lời của cậu. Ít lâu sau, Nguyễn Hữu Chỉnh cho người sang xin ý kiến để chuẩn bị chạm ngõ vấn danh, nhưng cô Toản đã lựa lời từ chối.
6. Đền thờ cụ Thám linh thiêng


Hội đồng Phan tộc Việt Nam dâng hương tại Nhà thờ nhân kỷ niệm 250 năm ngày mất danh nhân Phan Kính


         Đền thờ Thành hoàng Anh nghị đại vương Phan Kính được xây dựng tại thôn Vĩnh Gia, xã Song Lộc.  Nghe kể, sau ngày lễ tế yết hoàn thành lăng, đền cụ Thám, từ đó cứ đến tối ba mươi rạng ngày mồng một và tối mười bốn rạng ngày rằm hàng tháng, hoặc tối của ngày giỗ Cụ, người dân vùng này thường trông thấy trên bầu trời xuất hiện một làn ánh sáng dài  vài mét, như một dải lụa, bay từ núi Bụt, hoặc từ núi Hồng Lĩnh về tới lăng một lúc, sau đó lại bay  lên đền cụ Thám, hạ xuống đền khá lâu, tiếp tục bay về từ đường họ Phan “Vĩnh Gia” rồi biến mất.
         Đền cụ Thám có cái giếng đổi màu, nhìn vào đó, dân làng có thể đoán được nhiều điều may rủi sẽ xẩy ra. Mỗi lần ở phía Nam giếng tự nhiên đục ngầu thì mấy hôm sau có chí sĩ phía đó từ trần, hoặc nửa giếng phía Bắc đục thì sau đó dân chúng phía ấy thấy có người chết.... Vì thế, chẳng ai bảo ai, khi đi qua đền đều tự bỏ mũ nón xuống để tỏ lòng tôn kính và biết ơn ngài. Nhân dân địa phương thường truyền khẩu câu ca dao, nhắc nhở nhau là:“Ai ơi cất nón qua đền -Nghiêm thờ quan Thám bình yên mọi nhà”.


Các đoàn đại biểu dâng hương, hoa nhân kỷ niệm 250 năm ngày mất danh nhân Phan Kính tại Nhà thờ Phan Kính tại xã Song Lộc

Bảo Phan
( Sưu tầm và giới thiệu)
 

. . . . .
Loading the player...