ạp chí Hồng Lĩnh giới thiệu bài viết "Một bài thơ xuân của Nguyễn Du" của Phạm Tuấn Vũ.
Trong số 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, có mấy bài nhà thơ viết trong những ngày xuân: Quỳnh Hải nguyên tiêu, Xuân nhật ngẫu hứng, Xuân dạ, Thanh minh ngẫu hứng, Mộ xuân mạn hứng, Xuân tiêu lữ thứ…Thơ xuân của Nguyễn Du không chú trọng miêu tả phong cảnh mùa xuân mà nghiêng về thể hiện cảnh ngộ nhà thơ và bộc lộ những suy tư xúc cảm về nhân sinh thế sự nên thường buồn. Bài thơ Thanh minh ngẫu hứng rất tiêu biểu cho thơ xuân của thi hào. Bài thơ như sau:
Đông phong trú dạ động giang thành,
Nhân tự bi thê, thảo tự thanh.
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng,
Thiên nhai vô tửu đối thanh minh.
Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh.
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn,
Mạc giao mao thảo cận giai sinh

Minh họa: NAM HÀ
(Dịch nghĩa:
TIẾT THANH MINH NGẪU HỨNG
Gió đông thổi qua tòa thành bên sông suốt ngày đêm. Người buồn thì cứ buồn, cỏ xanh thì cứ xanh. Ngày xuân, mình có thân nhưng không còn trẻ nữa. Ở góc trời, không có rượu uống tiết thanh minh. Câu hát thôn dã giúp ta hiểu tiếng nói của kẻ trồng gia trồng dâu. Ngoài đồng nội thỉnh thoảng nghe tiếng người khóc như buổi chiến tranh. Ở nơi lữ xá đã buồn quá rồi, chớ để cỏ săng mọc gần thềm!)(1).
Trong thơ Việt Nam và Trung Quốc xưa kia, cùng với đào hoa, đông phong trở thành tín hiệu điển hình của mùa xuân. Đông phong là gió từ biển phía Đông thổi vào lục địa Trung Hoa. Hiện tượng này diễn ra phổ biến nhất vào mùa xuân. Người xưa dù mới đến với đèn sách đã được giảng “đông phong tức thị xuân phong” (đông phong là gió xuân). Hiện tượng tự nhiên đó đã trở thành chất liệu văn chương cổ điển quen thuộc cả trong những nền văn học xung quanh. Gió xuân và sắc cỏ tòa thành bên sông và khung cảnh khiến nhà thơ nảy sinh cảm xúc:
Đông phong trú dạ động giang thành,
Nhân tự bi thê, thảo tự thanh.
Trong Truyện Kiều có câu thơ khẳng định tâm trạng của chủ thể đồng hóa phong cảnh xung quanh: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ Bên cạnh cái lý của tình cảm đó, còn có cái lý của sự vật. Hai thứ này không loại trừ nhau:Nhân tự bi thê, thảo tự thanh. Đời người ai cũng từng có lúc xót xa khi thấy không chỉ cỏ cây mà mọi thứ xung quanh không biết đến cảnh ngộ bất như ý của mình.
Ngắm cảnh xuân, nhà thơ tự thấy mình có hai điều không tương hợp:
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng,
Thiên nhai vô tửu đối thanh minh.
Xưa kia người ta thấy đời người tương tự cây cỏ, cũng “xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng” (mùa xuân sinh ra, mùa hạ trưởng thành, mùa thu thu mình lại, mùa đông giấu mình đi). Trong ngày xuân của đất trời, nhà thơ càng ngộ ra rằng tuổi xuân của mình đã qua lâu rồi. Đương thời vào dịp thanh minh tao nhân mặc khách thường uống rượu thưởng thức tiết trời tươi đẹp, người người vui lễ hội cổ truyền(2). Vậy mà nhà thơ phải làm khách nơi chân trời, đến chén rượu cũng không có để nhâm nhi ngắm cảnh đẹp, thật đáng ái ngại.
Trong tiết thanh minh, nhà thơ nghe cả hai loại âm thanh đối nghịch: tiếng hát và tiếng khóc. Rất có thể những âm thanh đó do lễ và hội truyền thống trong dịp này sinh ra.
Hai câu thơ của phần kết bộc lộ trực tiếp tâm trạng của chủ thể trữ tình:
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn,
Mạc giao mao thảo cận giai sinh
Trong ngày xuân tiết trời ấm áp, muôn loài cỏ cây thu hút được sinh khí của trời đất, đua nhau khoe sức sống. Trời đất không ưu ái loài cây cỏ nào, riêng con người thì thụ cảm có chọn lựa. Cỏ săng, một loài cỏ gợi lên sự hoang dại thật không nên xuất hiện ngay cạnh nơi ở của nhà thơ lúc này, vì chỉ với từng ấy cơ sự, nhà thơ đã thấy quá buồn bã.
Bài thơ xuân này của Nguyễn Du vừa quen vừa lạ. Quen ở chỗ sử dụng các chất liệu phổ biến của thơ ca cổ điển dùng để tả mùa xuân. Lạ ở giọng điệu buồn thương thấm nhuần trong toàn bài thơ.
P.T.V
_______________
1. Phiên âm và dịch nghĩa theo Nguyễn Thạch Giang - Trương Chính biên khảo và chú giải, Nguyễn Du niên phổ và tác phẩm, Nxb Văn hóa Thông tin 2001.
2. Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
(Truyện Kiều)