18-01-2017 - 03:12

Mười thế kỷ một sắc hoa

Tạp chí Hồng Lĩnh số tết Đinh Dậu giới thiệu bạn đọc bài viết "Mười thế kỷ một sắc hoa" của Nhà Lý luận phê bình Hà Quảng.

Các nhà thơ cổ điển nói nhiều về hoa mai. Cách đây mười thế kỷ, Thiền sư Mãn Giác Lý Trường (1052-1090), một người thông tuệ Phật pháp có để lại một bài thơ, thể tài tự do, nội dung siêu thoát mùi “thiền”, nhưng cũng đậm đà hương vị nhân sinh: 

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai.
                     (Cáo tật thị chúng)
dịch:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa lại nở
Việc đời theo nhau trôi qua trước mắt
 Tuổi già hiện đến trên mái đầu
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua một cành mai nở  trước sân
                             (Có bệnh bảo mọi người)

Giữa lúc bệnh tật sự sống không cầm chắc thiền sư vẫn bộc lộ một nhân cách cao thượng, một nhận thức sâu xa về cuộc sống: Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một cành mai... Mùa xuân qua đi, trăm hoa rụng hết, nhưng vẫn còn một cành mai bừng nở. Cành mai này vượt khỏi không gian và thời gian. Nó vượt khỏi mọi định thể của con người, siêu vượt cả sự sống và lẽ chết. Đó là chân lý luân hồi đạo giới nhà Phật nhưng cũng là hy vọng muôn đời của cõi nhân sinh và cũng chính là cái bản ngã đầy tính lạc quan của tác giả. Tính lạc quan này tạo sức sống cho bài thơ qua bao thế kỷ!
Bốn trăm năm sau, Nguyễn Trãi (1380-1442) một nhân cách lỗi lạc của dân tộc, có bài thơ vịnh “Cây mai già” chiêm nghiệm lẽ đời bằng những câu thơ không kém phần  sinh động:

Đêm có mây nào quyến nguyệt
 Ngày tuy gió chẳng bay hương
Nhờ ơn vũ lộ đà no hết
 Đông đổi dầu đông hãy một đường.
           (Quốc âm thi tập - Hoa mộc môn - Mai già)

Nguyễn đã xử dụng lối ẩn dụ - tượng trưng, hóa thân vào cây mai già, tâm sự: Đêm có mây che khuất nên không quyến luyến trăng, Ngày tuy gió nhiều hương vẫn giữ.  Mai càng sương tuyết càng tốt đẹp, Thời tiết có thay đổi mai vẫn giữ cốt cách riêng mình! Nói văn tức là người, ứng dụng vào đây thực hợp. Cuộc đời bao gian khó, bao thăng trầm thì tâm hồn vẫn thanh cao, cốt cách Nguyễn vẫn ngời sáng như cây mai già Nguyễn tả vậy! Đó cũng chính cái bản ngã của ông, càng cảm thông cho sự chông chênh của  một kiếp người trong xã hội xưa, dù đó là một bậc đại tài.
Thời hiện đại có một bài thơ nói đến hoa mai rất được nhiều người nhắc đến. Đó là bài ngũ ngôn tứ tuyệt, Bác viết năm 1942:
Thướng sơn

 Lục nguyệt nhị thập tứ,
Thướng đáo thử sơn lai.
Cử đầu hồng nhật cận,
Đối ngạn nhất chi mai.
                 (Lũng Dẻ, 1942)
Hai mươi tư tháng sáu
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu mặt trời đỏ
Bên suối một nhành mai
                                           (Lên núi - Tố Hữu dịch)

Bài thơ có nhiều tầng ý nghĩa. Hai hình ảnh mặt trời và nhành mai có nhiều cách giải thích khác nhau. Là một cảnh thực, một bức tranh đẹp; là một bài thơ ngụ ý: mặt trời - lý tưởng cách mạng, nhành mai - hạnh phúc nhân dân. Con đường kháng chiến có lý tưởng cách mạng soi sáng sẽ đưa đến hạnh phúc cho nhân dân. Có người lại cho rằng bài thơ là một lời thổ lộ, tự biểu hiện về bản ngã, về nhân cách. Mặt trời - ý chí nghị lực, nhành mai - tình cảm, lương tâm. Đi trong cuộc đời, con người cần mài giũa ý chí, bồi dưỡng tình cảm vươn lên những tầm cao của nhân cách. Không thể chọn một cách hiểu duy nhất ở những hình tượng thơ như thế này, chỉ có thể áp dụng cái phương thức lý luận về tính đa nghĩa của hình tượng nghệ thuật mà cảm nhận vậy thôi. Bằng lối hiểu nào thì cũng phải công nhận bút pháp tượng trưng đã được vận dụng sâu kín ở đây.
Hoa xuất hiện trong thơ Bác so với người xưa khác nhau ở thời điểm và không gian, tuy vậy vẫn luôn nhuần thấm một tình cảm thân thương và một niềm tin sâu đậm với cuộc đời, vẫn tiếp tục vẻ đẹp của hoa trong thi ca truyền thống cũng chính là cái vẻ đẹp, của những nhân cách cao cả đậm đà hồn cốt dân tộc, có thêm chăng nó  được bồi đắp thêm cái sức sống tràn đầy trong hành động, cái tình thương yêu đùm bọc những con người bị áp bức mà thời đại trao cho!
Thơ xưa cũng như nay viết nhiều về các loài hoa, riêng hoa mai có một vẻ đẹp riêng. Nó quá trong sáng và thanh cao. Chính bởi vậy một nhà nho ngang tàng như Cao Bà Quát chưa biết cúi đầu trước ai dù đó là hoàng đế, nhưng trước hoa mai cũng kính phục nghiêng đầu: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa !
Một bức tranh “Hoa hướng dương” của Vangốc  là vô giá, một câu thơ về “hoa mai” đươc hàng chục triệu người mê say. Cảm xúc về cái đẹp là vô tận. Những bông hoa trong thơ kim cổ đã và đang nâng đỡ tâm hồn đôi khi còn lấm nhiều  bụi bẩn của chúng ta./.                                                                                                                             

                                        H.Q

. . . . .
Loading the player...