Tạp chí Hồng Lĩnh số 127 giới thiệu bài viết "Đệ nhất thiên hạ" trích tiểu thuyết "Thông reo Ngàn Hống" của nhà văn Nguyễn Thế Quang
Trời nắng hanh vàng nhưng khí lạnh vẫn thấm vào ngôi chùa nhỏ phía trái sau dinh Tổng đốc Hải-Yên Nguyễn Công Trứ. Niệm xong kinh nhật tụng, mặc cho mười hai đồng nữ đang tiếp tục đọc kinh, Hiệu Thư- thiếp thứ bảy của ngài Tổng đốc, thong thả đi vào lục giác lầu, ngồi xuống bộ tràng kỷ gỗ mun đen bóng. Trước mắt Hiệu Thư, các dò phong lan rừng mà hồi đi dẹp cuộc phiến loạn Nông Văn Vân, Nguyễn Công Trứ mang về, những chùm hoa vàng nở rộ càng tươi thêm trong nắng chiều. Hiệu Thư nhìn ra mặt hồ: nước trong xanh êm ả, thỉnh thoảng gió Bắc thổi qua làm cho mặt nước hơi gợn lên nếp lượn nhẹ. Nàng nhìn về nơi công đường lặng im, Nguyễn Công Trứ không có ở đó. Năm hôm nay, người cùng Trịnh Quang Khanh - tổng đốc Định -Yên và Hà Thúc Lương- tuần phủ Hưng Yên đang đi về mạn Kim Động, Ân Thi đo đạc để đào sông Cửu An. Nàng biết Nguyễn không muốn đi nhưng chỉ dụ của Hoàng đế Minh Mệnh bảo “phải thân hành đến tận nơi những chỗ sông Cửu An chưa khai đào mà đo đạc” nên Nguyễn đã phải xa nàng. Dù xa, nhưng Hiệu Thư biết Nguyễn vẫn luôn nhớ nàng, điều này làm cho nàng cảm động. Nàng không ngờ đời nàng lại có ngày được như thế này. Mùa xuân năm ấy- năm Tân Tỵ (1821) khi cậu cử Nguyễn Công Trứ vào làm quan ở Phú Xuân thì nàng lên thuyền theo chồng- một thương gia giàu có về phố Hiến. Cuộc hôn nhân của nàng là một cuộc chạy trốn- chạy trốn Nguyễn Công Trứ, chạy trốn cả chính mình. Nàng yêu Nguyễn cháy lòng và biết chắc Nguyễn cũng yêu nàng hết mực. Thế nhưng nàng không muốn làm khổ chị Đặng Thị Minh- người vợ cả đã hết lòng lo việc nhà, lo việc học cho Nguyễn Công Trứ. Vả lại, nàng là con của một gia đình làm nghề đào hát “xướng ca vô loài,” làm thiếp Nguyễn, làng xóm sẽ chê cười nàng hám danh hám lợi, sẽ coi khinh nàng. Mẹ nàng luôn dặn: dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được làm điều gì để mất danh giá. Điều cốt yếu hơn cả để nàng phải đi: để cho Nguyễn khỏi vướng bận chuyện thê nhi mà làm hỏng công danh của chàng. Nàng phải vội đi. Nàng sợ. Nếu Nguyễn về mà ngỏ lời cưới nàng làm thiếp thì nàng sẽ dẫm lên tất cả để lấy chàng! Thế là nàng chấp nhận làm thiếp một thương gia- nhất là người đó buôn bán dọc ngang sông biển. Như thế để chàng không biết ta ở đâu mà tìm, còn ta cũng không phải gặp gỡ để khỏi chịu đau tiếp nỗi đau chia xa. Thế rồi lênh đênh đến bao nơi, mua bán bao nhiêu hàng, ngồi trên bao tiền của nhiều khi nàng nhớ chàng đến quay quắt. Càng dằn lòng, tự nhủ lòng đừng nhớ chàng nàng lại càng nhớ đến da diết. Phải mấy năm sau, sống bên người chồng hào hoa mà giàu có, nỗi nhớ mới nguôi ngoai dần. Khi về phố Hiến, biết tin chàng dẹp được Ba Vành, có thêm Trịnh nương nàng mỉm cười: thế càng hay, có người thay mình hát cho chàng nghe. Nàng yên phận cùng chồng. Rồi tai họa ập đến, được dạt trôi vào gia đình Tô Văn lòng tan nát thương chồng, thương mình tứ cố vô thân, càng mong gặp lại chàng. Thế nhưng hay tin chàng đã làm quan to, đã làm nên bao công chuyện lớn lao, lập nên Tiền Hải, Kim Sơn, rồi dẹp tan cả Nông Văn Vân và giờ được thăng Thượng thư bộ Binh kiểm Tổng đốc Hải Dương và Quảng Yên nàng vừa mừng cho chàng vừa buồn cho mình. Có lúc, nàng muốn tìm đến chàng, nhưng lại ngại ngần. Thói đời, bao kẻ giàu sang rồi khinh bỏ vợ, còn chàng và mình chỉ có chút tình lứa đôi trẻ trung, chưa qua một khó khăn thử thách nào, biết lòng có còn nhớ đến nhau? Giờ chàng là quan đầu triều oai phong lừng lẫy, còn mình là đào nương hoa tàn nhị rữa, tứ cố vô thân, không một mái nhà, không một đồng chinh dính túi. Nàng quyết chôn chặt tất cả, thay tên đổi họ sống một thân phận khác.
Đêm đi hát ở Vĩnh Lại bất ngờ gặp lại cố nhân, nàng choáng váng muốn kêu lên một tiếng: “Cử Củng” nhưng kịp nén lại. Thân phận khác vời, “người làm quan nhất tự cách trùng...”. Ngồi nghe Tô Mai hát mà lòng rối bời. Thế nhưng, nhìn gương mặt cương nghị với vần trán rộng thấy lại vẻ nam nhi hào hoa xưa, rồi bắt gặp ánh mắt chàng nhìn mình, trái tim nàng đập gấp, tình yêu nén chặt bao năm lại trỗi dậy bừng bừng. Nàng cố nén.. Khi đến lượt mình, không kìm lòng được, nàng hát bài thơ chàng tặng... Cả quá khứ thức dậy, bùng cháy ..nàng quyết lộ diện. Muốn ra sao thì ra. Chàng có quên ta, có khinh ta, có xua đuổi ta... ta cũng cam lòng. Được gặp chàng ở kiếp này, được thấy chàng vinh hoa, là ta mãn nguyện. Nàng thêm vào bài hát lời nói về thân phận, về kỷ niệm xưa...Và Nguyễn đã nhận ra nàng…Nhớ cái hôm đầu tiên về dinh này, Hiệu Thư lại thấy lòng rạo rực. Dưới ngọn nến hồng lung linh, nàng chọc Nguyễn:
- Thiếp mười lăm năm lưu lạc bể dâu, giờ gặp lại chàng giống như Thúy Kiều gặp Kim Trọng. Chàng có mấy thiếp rồi, giờ ta làm bạn bè “khi chén rượu, khi cuộc cờ, khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” thôi nhé.
Dè đâu, chàng ôm lấy nàng, bồng gọn nàng lên giường:
- Tố Như và Kim Trọng là kẻ nhát gan, tự mình làm khổ mình. Ta dại gì mà theo họ. Nàng cũng đừng theo cái o Kiều hay sợ ấy làm khổ mình. Đêm nay đoàn viên phải là đêm hội của tất cả những gì chờ đợi, mong mỏi trong bao nhiêu năm.
Tình yêu của tuổi thanh xuân, nỗi đau mất mát của sự trống vắng và khát khao hạnh phúc đích thực bùng lên trong người nàng. Chưa bao giờ mà Hiệu Thư lại hào hứng, dồi dào mãnh liệt đến thế. Thoáng nhớ đến người chồng yêu thương nhưng rồi nàng lại đê mê quên đi tất cả trong vòng tay cường tráng và sự dẻo dai của Nguyễn: Năm mươi mà trai tráng hai mươi khó bì-nàng sung sướng đến mê mệt. Nguyễn nhẹ nhàng, từ từ mà lôi cuốn nàng đến khi nàng như lịm đi mới thôi. Thế nhưng được một lúc, Nguyễn đã cù nàng tỉnh dậy:
- Nàng có thích ta đọc thơ cho nghe không?
Nàng chọc tức:
- Không. Thơ nghịch, thơ ngộ, thơ quỷ, thơ quái, không thích.
Rồi nàng xoay người, úp mặt xuống mặt gối. Nguyễn cười khà khà, hình như không sợ ai nghe thấy, lật người nàng dậy, đôi mắt như có lửa nhìn nàng, hớn hở đọc:
...Giăng xế nhưng mà cung chẳng khuyết,
Hoa tàn song lại nhụy càng tươi
Chia đôi duyên nợ đà hơn một
Mà nét xuân kia vẹn cả mười...
Nghe vậy, nàng không kìm lòng được, giơ hai cánh tay vẫn nõn nà kéo Nguyễn nằm xuống.
Nghĩ đến đây, lòng bồi hồi, Hiệu Thư nhìn ra ngoài xa: nắng vàng ửng mênh mông... Mấy ngày nữa là đến ngày sinh của chàng rồi, bao giờ chàng mới về. Sao Ba Giai không có tin tức gì cho mình cả.Chợt có tiếng gọi:
- Chị có khỏe không?
Nhìn Ba Giai người đầy bụi đường, mặt mũi hình như hao gầy, chỉ có đôi mắt vẫn tinh nghịch như cười, Hiệu Thư hỏi:
- Em vất vả lắm phải không?
Ba Giai nhìn Hiệu Thư nghĩ: Bà này nhớ và mong tin tức của chủ mình lắm đây bèn cố trêu:
- Em vẫn khỏe... chỉ có...
Giai dừng lại, thấy Hiệu Thư có vẻ lo lắng, nôn nóng nên lặng im, cúi xuống nhổ cỏ may dính đầy ống quần. Hiệu Thư nắm lấy vai lắc, miệng hỏi dồn:
- Tướng công thế nào?
Bấy giờ Ba Giai mới thủng thẳng: “Vẫn...” rồi sảng khoái đọc:
- “Đường đường một đấng anh hào” chỉ huy đo đạc giỏi mà làm phó cối cũng giỏi.
Hiệu Thư tròn xoe mắt:
- Sao tướng công lại phải làm phó cối?
Bấy giờ Ba Giai mới kể chuyện: tướng quân lúc ngồi trên ngựa, lúc lội xuống ruộng, xuống sông để chỉ cho lính đo đạc hoặc kiểm tra lại. Xông xáo thế, làm tổng đốc Trịnh Quang Khanh, tuần phủ Hà Thúc Lương cũng phải luống cuống lội xuống. Giai vừa kể vừa bắt chước điệu bộ của hai người đó làm Hiệu Thư cười chảy cả nước mắt. Rồi Giai kể chuyện tướng công đóng giả làm anh thợ phó cối, một viên thư lại đóng làm thợ, còn Ba Giai gánh đồ nghề. Trời chập choạng tối, giả làm người lỡ đường, vào mấy làng ở Đường Hào để xem dân tình sống ra sao, bọn cường hào thu sưu thuế thế nào. Tướng công hỏi, thư lại cố nhớ rồi tìm cách ghi chép lại.
- Sáng qua cô ạ, Giai nghe được tướng công sai viên thư lại thảo sớ tâu về triều đình: ba huyện Đường Hào, Đường An, Thanh Miện ruộng xấu, dân nghèo, lại gặp năm mất mùa đời sống ngày một cùng quẫn thêm, xin nhà vua cho nợ thuế năm trước được nạp bằng tiền và xóa thuế năm nay.
Giai nhìn thấy gương mặt Hiệu Thư như tươi lên, thầm nghĩ: Chị ấy cũng như mình, thấy quan nhà mình lúc nào cũng lo đến dân mà mừng. Nghĩ đến chuyện sắp tới, Ba Giai hỏi Hiệu Thư một cách bí mật như thách đố.
- Giai đố chị Thư hai ngày nữa là đến ngày chi?(Khi chỉ có hai người Ba Giai đều nói tiếng Nghệ.)Hiệu Thư đã biết ngày đó là ngày gì rồi nhưng giả vờ không hay, dơ tay lẩm nhẩm tính:
- Hôm nay là ngày 28 tháng mạnh (tức tháng 10 âm lịch) ngày mai là 29 ngày kia là 30, tiếp đó là mồng một ngày sóc, chị em mình đi chùa nhé.
- Bữa đó, tui đố chị đi.
Hiệu Thư thản nhiên:
- Đi chứ. Cuộc.
- Chị thì cũng như quan Tổng đốc, có cái cóc khô chi mà cuộc.
Hai chị em cùng cười.Thấy trời đã chiều, Giai bèn nói với Hiệu Thư:
- Ngày kia, mồng một tháng mười một là ngày sinh thứ bốn mươi tám của quan gia đó.
Hiệu Thư vờ ngạc nhiên:
- Thế à? Thế ta phải làm gì?
- Làm một bữa cơm mừng quan gia vào chiều mồng một. Hôm ấy có cả tổng đốc Định An và tuần phủ Hưng Yên đến dự. Quan bảo thế.
Nghe vậy, Hiệu Thư thật sự lo lắng: lấy cái gì để tiếp khách mà lại là khách sang? Từ hôm vào Dinh đến nay, Thư biết rằng quan Trứ không có nhiều tiền, không lấy công quỹ chi dùng cho mình. Người, Ba Giai và vợ con ăn ở bếp gia đình với số tiền lương được cấp. Có khách xa đến thì mới ăn ở bếp công.
- Hay là nói bên nhà bếp đãi khách.
- Không được! Quan gia dặn em không được cho ai biết đó là ngày sinh của mình nhưng ngài lại nói: “Ta muốn cho mấy người ấy biết cái tài, cái tình của các bà thiếp của ta”.
Hiệu Thư nghĩ: Thật chẳng giống ai cả - cái tính ngông thích chơi trội, thích khoe lắm thú ăn chơi và cả cái tính gàn cố hữu của mình nữa.Thôi được! Phải cho lang quân biết chị em chúng ta là người thế nào.

Tối hôm ấy, trong dinh Tổng đốc xứ Đông có một cuộc hội ngộ thú vị giữa năm người thiếp của quan Tổng đốc Hải Yên. Mỗi người sống mỗi miền khác nhau nhưng đều say đắm cùng một người và đều muốn làm đẹp lòng người đó: Nguyễn Công Trứ.
*
Tiếng trống trên chòi canh vang lên báo hiệu một ngày đã hết. Gió lanh. Mưa phùn lất phất. Làng quê chìm vào trong bóng đêm. Tại dinh Tổng đốc Đông, những ngọn bạch lạp đã sáng lung linh. Trên chiếc bàn ăn bằng gỗ màu cánh gián sẩm là bốn đĩa lộc xanh, tía đủ màu, bốn chén nước mắm cốt, bốn bộ bát đũa khá đẹp và một khay sứ có mấy chén nhỏ. Quanh bàn, Nguyễn Công Trứ, Trịnh Quang Khanh, Đặng Huy Nhật, Hà Thúc Lương ngồi đối diện nhau.
- Hôm nay nhân chuyến công cán theo chỉ dụ của hoàng thượng, mời các đệ ăn bữa cơm dân giã do các thiếp của ta làm.
Nguyễn vừa nói xong, các bà bước ra chào. Nguyễn Công Trứ giới thiệu lần lượt từng người. Mấy vị khách vừa ngạc nhiên, vừa thú vị. Người nào cũng duyên dáng, cũng đẹp. Thật là một tập hợp hiếm có. Năm bà tản ra, quay vào phòng bên. Mùi mỡ rán ngào ngạt. Cô Năm, khuôn mặt trái xoan, áo nâu yếm thắm, ngực tròn căng, dáng người chắc khỏe cùng cô Bảy mình cá trắm, người cao cao mặc bộ đồ màu thanh thiên uyển chuyển bước ra, mỗi cô đặt một bình rượu đất nung lên bàn, đứng chờ hầu rượu. Lát sau, cô Ba trong bộ đồ nhung màu tía khuôn mặt đài các cùng cô Sáu khăn mỏ quạ, gương mặt búp sen, quần áo lụa màu mỡ gà đi tới, mỗi cô bưng một đĩa chả rươi vàng khươm, bày lên bàn. Cô Sáu nhẹ nhàng nói:
- Thưa lang quân và quý khách, đây là món chả rươi tự tay thiếp làm, kính mời lang quân và các vị …
Bấy giờ cô Năm và Hiệu Thư bước tới, tay đỡ bình rượu. Cô Năm nói:
- Còn đây là rượu Kim Sơn, được nấu từ hạt nếp đất Kim Sơn do Dinh điền sứ mở nên, nước lấy từ giếng trên núi Ngọc Mỹ Nhân và men rượu gia truyền của nhà thiếp, kính mời lang quân và quý khách khai vị.
Rượu được rót ra trong vắt, tăm sủi nho nhỏ, hương nồng thoảng bay. Trịnh Quang Khánh nói khéo:
- Chà! rượu chưa uống đã nồng, rươi chưa ăn thoáng nhìn đã biết ngon.
Nguyễn nâng chén, vui vẻ: “Xin mời,” rồi nhìn người thiếp của mình. “Ngọc Mỹ Nhân,” mới đó mà đã sáu năm. Chiều hôm đó, từ Dục Thúy Sơn về, Trứ cùng viên Tư vụ và một người lính trở lại vùng Kim Sơn, dừng chân lại trong ngôi đình mà vua Minh Mệnh cho xây để người và khách ngoạn cảnh chùa trên núi, ngắm cột buồm bến sông. Nguyễn thấy một cô gái áo nâu, quần lụa, dáng người tròn lẳn, thắt đáy lưng ong, gánh rượu đi bán. Nguyễn gọi. Cô ấy ngoảnh lại. Và Nguyễn bị hút hồn bởi gương mặt trái xoan, tóc đen vấn đuôi gà, da trắng bóc mà đôi mắt đen dài như cười. Nhìn bàn tay thon thả của cô rót dòng rượu trong suốt vào bát sủi tăm nho nhỏ thơm lừng thì lòng Nguyễn cũng nổi sóng: “Ta phải cưới bằng được cô gái này.” Đêm ấy, cả ba người về làng Lai Thành, nghỉ tại nhà cô. Không ngờ, bố của cô lại là một ông trùm chèo.
Thấy chiếc đàn nguyệt treo trên vách, Nguyễn xin cầm chơi một đoạn.Thoáng nghe, biết đây là khách tài tình, ông liền cho trải chiếu ra sân, rồi cho làm một đêm hát chèo.
- Xin hỏi quý khách muốn nghe tích chèo nào.
Nguyễn nói ngay:
- Xin cụ cho chúng tôi được nghe vở “Từ Thức gặp Tiên”.
Chao ơi! Một đêm tuyệt vời. Nhìn nàng diễn cảnh “gội đầu” mà Trứ mê mẩn tâm hồn. Có ai đó ngồi sau Nguyễn trầm trồ:”Cô Mai múa đẹp như tiên giáng trần.”À!Tên cô ta là Mai-người đẹp, tên cũng đẹp. Bất ngờ, có một quan nhân gần đó đến xem chèo nhận ra quan Tổng đốc, bèn ghé tai nói với chủ nhà. Cụ Trùm vội chắp tay chào. Sau đó ít lâu, ngai Dinh điền sứ cùng con gái ông trùm nên vợ nên chồng.
Giờ nghe nàng nhắc đến Kim Sơn, Ngọc Mỹ Nhân, lòng Nguyễn lại bồi hồi. Nhìn các bạn ăn uống ngon lành, nhìn các bà thiếp vui vẻ biết mời khách, đón chén rượu trong tay cô Năm, Nguyễn uống một mạch ngon lành rồi cao hứng đọc:
Còn trời còn nước còn non
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa.
Cô Năm nghe mà lòng dạt dào sung sướng. Còn tuần phủ Hưng Yên gắp miếng rươi hồng hồng, ngắm nghía: rươi tươi, đánh nhuyễn, gia vị khéo, rán vừa chín thơm, nhẹ nhàng bỏ vào miệng.
Vừa lúc đó cô Ba và cô Tư bưng bếp hỏa lò ra, căn phòng càng trở nên ấm áp. Cô Ba nói, giọng Hà Thành ngọt lịm:
- Giờ thiếp xin mời lang quân và quý khách món chả cá Lã Vọng.
Những miếng cá đã được lóc ra, thái mỏng, ướp với riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, được kẹp vào những thanh tre tươi đặt trên lò than. Mỡ cháy xèo xèo, miếng cá cong dần, được lật đi lật lại, thơm lừng. Cô Ba trao từng kẹp cho cô Tư gỡ bỏ vào chảo mỡ đang sôi. Khi cá chín tới, vàng khươm, cô nhanh nhẹn đặt lên những đĩa rau thì là xanh mướt, bưng đặt lên bàn. Những chiếc bánh đa vừng được đưa ra.
Nhìn người thiếu phụ Hà Thành, con quan Thám hoa Đinh Văn Lục má ửng hồng, Nguyễn nghĩ: chỉ còn thiếu một khúc tì bà, một bóng trăng Tây Hồ là ta lại được sống như chín năm về trước. Trịnh Quang Khanh vừa ăn miếng chả cá, cứ để nguyên trong lưỡi, nhìn Nguyễn, nhìn Đặng Huy Nhật gật gù: tuyệt. Nhận thêm chén rượu từ tay Hiệu Thư, Khanh nâng chén lên về phía hai người, vừa uống vừa đọc mấy câu thơ trong bài “Tương tiến tửu” của Lý Bạch:
Sầm phu tử
Đan Khâu sinh
Bôi mạc đình
Dữ quân ca nhất khúc
(này Sầm phu tử
Này chàng Đan Khâu
Chớ ngừng nâng chén
Hãy chuốc mời nhau)
Ba người cạn chén. Nguyễn vui lắm nhưng cố uống ít để nhận cái sướng của bạn làm niềm vui của mình. Đặng Huy Nhật vừa uống vừa mừng cho Nguyễn. Đã sống cùng Nguyễn, Nhật biết đêm nay cuộc vui còn nhiều, buổi ăn nên kết thúc sớm, bèn nói:
- Cảm ơn các chị đã cho chúng tôi rượu nồng, cá ngon, rươi ngọt. Nhưng đêm nay còn nhiều việc vui, xin các chị cho chúng tôi chén cơm, chứ nếu tửu còn nhập thì không đứng lên được mất.
Những bát cơm gạo tám thơm vừa được bày ra. Bấy giờ cô Năm mới bưng những chiếc nồi đất đặt lên bàn. Nguyễn nhìn vào nói ngay “Gạo tám xoan, gan cá bống” thay mặt cô Tư mời các vị.” Nhìn Trịnh thị, Nguyễn nói với các cộng sự:
- Món cá bống kho này ta được ăn lần đầu tiên trên đất Trà Lũ.
Rồi quay sang Hiệu Thư, Nguyễn nói: “Cố nhân. Có món gì mang ra mời quý khách đi”.
Bấy giờ Ba Giai mang ra những tô canh, Hiệu Thư mang ra những chén cà muối mắm trắng muốt ướp mía. Nguyễn vui vẻ:
- Cà Nghệ muối mắm, ăn với canh tập tàng, đó là món ăn quê Nghệ của ta.
Nguyễn và cơm, gắp quả cà nho nhỏ ngắm nghía, rồi bỏ vào miệng, cắn kêu một tiếng “bốp.” Mọi người cười vang. Tuần phủ Hưng Yên cũng cắn một quả, hạt bắn ra văng lên trán Nguyễn. Hà Thúc Lương bối rối. Nguyễn cười khà:
- Ăn cà phải thế mới khoái. Thuở nhỏ cả nhà ăn cà, ruột té vào mặt nhau, cười vui như hội.
Mọi người vui vẻ ăn. Nguyễn lại nói:
- Ta có câu hát này, đố các đệ và cả các em giải. Ba Giai và Hiệu Thư không được trả lời đâu nhé.
Đêm năm canh nằm mơ cô đạnh
Ngày sáu khắc nhớ má với cằm.
Mọi người nhìn nhau, nghĩ không ra. Trịnh Quang Khanh nhìn mọi người rồi nhìn Nguyễn nói nửa đùa nửa thật:
- Bọn đệ chịu. Cái gì mà có cô, với má, với cằm, Đào hoa như đại huynh và các cô đây may gì hiểu được.
Cô Ba, cô Tư, cô Năm, cô Sáu nhìn nhau, rồi nhìn đức lang quân của mình, lắc đầu. Nguyễn thong thả:
- Đây là câu ca của dân xứ Nghệ, nói về chuyện ăn uống. Trong câu dùng cách nói lái theo kiểu xứ Nghệ nên các đệ không luận ra. “Cô đạnh” là canh độ - miền Bắc ta gọi là đậu. Mùa hè, đậu xanh cán vỡ, nấu nhuyễn thành canh, bỏ lá tía tô vào, ăn vừa bổ, vừa giải nhiệt. “Đêm năm canh nằm mơ cô đạnh” là muốn ngày mai được ăn canh đậu. Còn “ngày sáu khắc nhớ má với cằm” là nhớ “mắm với cà”chính là nhớ món này.
Nguyễn gõ đũa vào bát cà, nói tiếp: Hiệu Thư và ta lớn lên từ món cà và mắm này.
Mọi người vỡ nhẽ, cười vui.
Cuối bữa ăn, Tổng đốc Định -An Trịnh Quang Khanh nói:
- Đệ và các thân hữu đã dự nhiều bữa ăn có cả tiệc của các nhà đại quan, nhưng chưa có bữa ăn nào ngon như hôm nay, vui như hôm nay, được đích thân năm ái thiếp của đại huynh tự tay làm với năm đặc sản của năm miền quê.Thật đại hỷ, đại phúc, độc nhất vô nhị.
Khanh giơ tay về phía năm thiếu phụ đang đứng gần nhau, nói “xin cảm tạ”, rồi quay lại phía Nguyễn chấp tay nói “Bái phục! Bái phục!”.
Nguyễn cười khà khà nói với cả năm bà vợ: Ta rất vui vì các em đã làm thêm đẹp mặt chồng, rồi quay sang nói với ba cộng sự: Mời các đệ lên phòng trên thưởng trà, rồi chốc nữa xem hát.
Lại chắc là hát ca trù - Trịnh Quang Khanh nghĩ thế.
Đúng vậy. Lát sau, năm thiếp bước ra: bốn người bốn bộ áo dài bốn màu thanh thiên, huyết dụ, hổ phách, hồng đào, riêng bà năm – cô bán rượu mặc áo dài mớ ba mớ bảy đủ màu. Mỗi bà có một kép đàn kèm theo, còn đức lang quân Nguyễn Công Trứ cầm trống chầu. Bà Ba ca bài “Tỳ bà hành” nhớ buổi gặp Tham tri Hình tào Bắc Thành bên Hồ Tây, bà Tư ca bài “Duyên gặp gỡ” nhớ buổi gặp Nguyễn Công Trứ tại Trà Lũ, bà Sáu ca bài “Trần ai ai dễ biết ai” hát buổi đến dinh quan Tổng đốc Đông còn Hiệu Thư không ca bài “chữ tình” mà lại hát bài “Chí nam nhi.” Nguyễn cầm chầu say sưa, đĩnh đạc. Đặng Huy Nhật nhìn Trịnh Quang Khanh và Hà Thúc Lương đang gật gù theo tiếng hát, thầm nghĩ: “Thật là khéo, mỗi cô một cách hát mà cô nào hát cũng hay. Một bậc hào kiệt mà thâu tóm vào mình được bốn giọng vàng này cũng là đệ nhất làng chơi rồi.” Đến khi thấy cô Năm độc diễn đoạn “tiên tắm” trong vở chèo “Từ Thức gặp Tiên” thì Nhật và cả mọi người quá đỗi xúc động, ngẩn ngơ nhìn: cô Năm quả như tiên nga dáng thế, chiếc quạt trong tay múa lên cùng mấy giải áo bay lượn với thân hình uyển chuyển trông hoa cả mắt đẹp và khêu gợi lạ lùng. Hà Thúc Lương tấm tắc, gật gùi. Trịnh Quang Khanh nhìn mọi người miệng nói đi nói lại: Bái phục! Bái phục!Trống canh ba vừa điểm, Nguyễn Công Trứ cho ngừng cuộc chơi.
Trước khi lên giường ngủ, Hà Thúc Lương nói với Trịnh Quang Khanh:
- Hạ quan chưa bao giờ được xem một đêm hát nhiều vẻ mà thích như đêm nay.
- Ta đã sống ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều bậc quan chức quyền quý mà cũng chưa gặp ai như quan Tổng đốc: đánh giặc, khai hoang, trị nước đều giỏi mà hào hoa thanh lịch cũng ít ai bằng.
Đã chui vào chăn, Hà Thúc Lương còn ló đầu ra nói:
- Này quan bác. Đệ chỉ có hai bà nhà quê mà cũng lắm rắc rối, còn quan Tổng giờ đây có một lúc năm bà…làm thế nào nhỉ?
Khanh nhìn lên phía nhà nghĩ của Nguyễn đèn còn sáng, tủm tỉm:
- Hồi nãy, ta ghé tai ngài hỏi nhỏ:” Đêm nay, huynh tính sao?”Huynh ấy bình thản:”Đệ đừng lo! Ta sẽ làm vùa lòng cả năm bà”.
Nhớ đến đức Minh Mệnh” Nhất dạ ngũ giao…” Lương trầm trồ:
- Ghê thật! Đại Nam mình: Hoàng thượng là một, Nguyễn huynh là hai, đều là Đệ nhất thiên hạ !
N.T.Q