Sự phát triển của công nghệ hiện đại mở rộng thông tin xóa bỏ sự ngăn cách biên giới, Thơ được giao lưu gần nhau hơn, đổi mới hơn nhưng vẫn còn để ngỏ vài góc khuất và còn vài khoảng cách. Trên cơ sở sự giao lưu và những gặp gỡ về tư tưởng thẩm mỹ nảy sinh những ý tưởng về thơ và thơ hay mà chúng tôi muốn trao đổi. Không gian thơ còn có những miền cần khai phá để giải phóng những năng lượng tiềm ẩn, để cho Thơ kịp Đời, để thơ Việt tự tin đi vào qũy đạo những nền thơ tiên tiến. Tạp chí Hồng Lĩnh số 238+239 giới thiệu bài viết “Thực và ảo trong thơ” của Nhà lý luận phê bình Hà Quảng
1. Không gian thẩm mỹ mới
Phải mở rộng biên độ sáng tạo và không gian thẩm mỹ của Thơ, phải có một cách tiếp cận tinh tế đối tượng thẩm mỹ ngày càng đa dạng của thơ để tạo được những hình ảnh trọn vẹn hấp dẫn chân thật về cuộc sống, mang đến hơi thở mới cho sự tiếp nhận ngày càng đa dạng đầy khám phá của độc giả. Từ lâu Nguyễn Du đã cho là văn chương có khắp trái đất rộng lớn (Đại địa văn chương tùy xứ kiến), cả những miền hiển hiện, cả những vùng bí ẩn, hư ảo. Bên cảnh đời thực, cụ đã để cho Thúy Vân nghe hơi gió mà tưởng Thúy Kiều về “Thấy hiu hiu gió là hay chị về”, để cho Kiều đi hội đạp thanh mà mơ thấy Đạm Tiên, để cho vải Giác Duyên thấy Kiều báo mộng… Hay như Văn học dân gian đã để cho con người giao lưu với thần tiên “Ngồi buồn đốt một đống rơm, Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào, Khói bay lên tận thiên tào, Ngọc hoàng phán hỏi thằng nào đốt rơm?”.
Song hành cùng sự phát triển về văn hóa, khoa học, Thơ đương đại từ những miền có thực mở rộng đề tài (phạm vi cuộc sống miêu tả) vươn tới cả miền hư ảo, cõi tâm linh, nơi mà logic suy tưởng con người vươn tới, đó là một thế giới đa chiều mà ngày nay trí tuệ thông minh không còn xa lạ, nó thể hiện sự chân thực bên trong, sự chân thực nội sinh của con người, khi tiếp cận xã hội và thế giới. Nó bổ sung cho hiện thực khách quan mà có nhà khoa học gọi hiện thực đó là “hiện thực tinh thần - thần thực” (1). Ở rất nhiều bài thơ trong các tập như Trăng Tân Trào (Hữu Thỉnh), Ký ức người xem đồng hồ (Nguyễn Quang Thiều), Người câu gió (Hoàng Vũ Thuật), Ngỗng trời kêu xa xứ (Vũ Quần Phương), Bầu trời không mái che (Mai Văn Phấn), Mạc khải (Lê Quốc Hán) và một số tác phẩm khác của các tác giả trẻ đều có những chi tiết thể hiện một hiện thực đa chiều, không chỉ là hiện thực khách quan, mà có thể là một hiện thực tinh thần, một hiện thực kỳ ảo của thế giới tâm linh. Có những dòng thơ như “sát na” của giây phút mà nhà thơ/ người nghệ sĩ “đốn ngộ” trước chân lý, lạc vào một miền biên viễn khác để sáng tạo. Văn hóa đương đại khích lệ con người vươn tới những miền xa của trí tưởng tượng trong khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội. Nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng nằm trong quỹ đạo đó… Bằng Việt với bài thơ Đệ nhất tổ phái Trúc Lâm Giảng Thiền! (2), qua hai cuộc hội thoại mà tác giả vẽ ra bằng một “hiện thực ảo”, lần một giữa vị cao tăng và bậc chân tu, lần hai giữa tác giả và Phật tổ. Trong cuộc hội thoại thứ nhất. Hỏi về Phật, về Pháp, về Tăng đều được trả lời “Chấp theo lối cũ là không đúng!”. Ở cuộc hội thoại thứ hai:…Bảy trăm năm sau / tôi hành hương lên Yên Tử/ Đêm nằm mơ thấy Phật/ Nhớ chuyện xưa bèn hỏi:/ Bạch Thầy, việc đời thế nào là đúng?/ Người ngậm ngùi: Chấp theo lối cũ là không đúng!/ Lại hỏi: Thế nào là hạnh phúc trần ai?/Người bật cười to: Chấp theo lối cũ là không đúng!/. Hỏi tiếp: Vậy thế nào là Thơ?/Người phủi tay: Chấp theo lối cũ là không đúng. Cả hai cuộc hội thoại đều là những hiện thực ảo nhưng quy tụ về một suy lý, việc đời cũng như việc đạo, tu hành cũng như đời sống, chính trị cũng như văn hóa, tác giả đã bày tỏ một suy cảm của mình về sự kế thừa và đổi mới trong cuộc sống.
Sự hấp dẫn, hiệu ứng thẩm mỹ của bài thơ tạo được tiếp nhận của người đọc là tứ bài thơ kết hợp thực và ảo. Chân lý đời sống lồng vào câu chuyện có màu hư ảo về một thế giới không thực. Thủ pháp đó góp phần thành công cho các bài thơ vừa có tính truyền thống vừa hiện đại hấp dẫn người đọc.
2. Phương thức Cấu tứ mới
Trong sự hình thành tác phẩm văn chương thì việc xây dựng hình tượng là công việc vô cùng quan trọng, việc xây dựng hình tượng gần như một yếu tố tiên quyết để thơ trở thành hay. Vượt qua lối xây dựng hình tượng thơ chủ yếu bằng cách mô phỏng hiện thực, một số tác giả phá cách đã để lại một số thành tựu khá ấn tượng nhờ biết cách đổi mới phương thức cấu tứ bằng các yếu tố hư ảo, khác lạ.
Trong ca dao dân ca, trong thơ cổ điển truyền thống nhiều bài thành công nhờ điều này. Ca dao, xét về mặt nghệ thuật, hình như không biết đến sự xói mòn của thời gian có những bài ca dao cấu tứ rất "hiện đại" như bài ca dao sau đây:
Bao giờ cho đến tháng ba/ Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông/ Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười/ Con gà be rượu nuốt người lao đao…
Thường ca dao hay cấu tứ theo các thể phú, tỷ, hứng, nhưng bài ca dao trên lại cấu tứ theo kiểu "nghi vấn ngược" đậm chất hư ảo. Toàn bài là một câu hỏi, các mệnh đề là các nghịch lý, bài ca dao là một nghi vấn “ảo”, nghịch dị với đời sống. Nó vừa thể hiện một thực tế chua xót, nhưng vừa thể hiện một khát vọng đổi đời của người dân lao động trong chế độ cũ. Cuộc sống đầy nghịch lý cũ đã được người dân lao động thể nghiệm sâu xa cháy bỏng khát vọng đổi thay nhưng bất lực, chính đó là cơ sở giúp họ sáng tạo những tứ thơ độc đáo có nhiều yếu tố hư tưởng.
Tác giả bài thơ Vãn cảnh (Hồ Chí Minh - Nhật ký trong tù) đã vận dụng khéo léo thủ pháp này:
Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ, Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình;
Hoa hương thấu nhập lung môn lý, Hướng tại lung nhân tố bất bình.
Trong chốn lao tù mờ mịt, một đời hoa, hoa nở, hoa tàn nào ai để ý tới. Riêng hoa biết trong chốn u tối ấy có một trái tim nhân hậu nên đêm đêm hoa tỏa hương bay đến thổ lộ tâm tình…
Rất nhiều nhà thơ sử dụng các yếu tố siêu thực để lại dấu ấn trong cảm thụ độc giả, Hàn Mặc Tử được coi là người mang nhiều tính siêu thực nhất trong phong trào Thơ mới."Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.../ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh" (Đây thôn Vĩ Dạ). Cảnh vật được nhân cách hóa một cách phi lý, không gian chìm trong sương khói hư ảo, rất giống một giấc mơ. Bích Khê: "Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông" (Tỳ bà). Sự buồn bã được vật chất hóa thành thứ có thể "vương" lại trên cây, và sắc vàng rơi đầy không gian tạo cảm giác phi thực.
Vượt lên các yếu tố hình ảnh chi tiết nhiều tác giả khi cấu tứ xây dựng hình tượng tổng thể toàn bài ưa sử dụng lối nói ẩn, gián tiếp giàu màu sắc siêu thực, hoặc qua những ẩn dụ có tính tượng trưng, ước lệ, phóng đại tạo ra một góc nhìn khác lạ với sự vật. Nó buộc người đọc phải suy nghĩ mong khám phá nhiều tầng nghĩa trong các thông điệp mà tác giả gửi gắm.
Yếu tố ảo/siêu thực khi thực hiện để xây dựng hình tượng thơ thường đem đến những cảm thụ mới mẻ cho độc giả, nhờ kích thích trí tưởng tượng của họ mà cách nói bình thường không mang lại. Bài ca dao Con mèo mà trèo cây cau. Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà? Chú chuột đi chợ đường xa. Mua mắm, mua muối, giỗ cha con mèo là sự kết hợp sinh động hai tính thực và ảo, để nêu một thực tại nhân sinh chua xót trong xã hội cũ. Một nụ cười mỉa mai nhưng bất lực, thông qua hình ảnh chú chuột kẻ bị áp bức tức tối mua mắm mua muối nhưng đành cam chịu giỗ cha con mèo, đó là thân phận của người nông dân thời bấy giờ.
3. Hiệu ứng thẩm mỹ mới
Trong nền thơ đương đại nhiều thi phẩm của nhiều tác giả đã tạo được những xúc cảm thẩm mỹ mới mẻ nhờ đổi mới cách xây dựng hình tượng xen lẫn thực và ảo, góp phần lấp bằng được khoảng cách, để song hành với các nền thơ tiên tiến. Yếu tố siêu thực/ảo giống như một “phép thuật ngôn từ”, nó hấp dẫn người đọc vì bài thơ như một câu đố thách thức sự sáng tạo, vừa diễn tả những cảm xúc sâu kín nhất lại mở ra chân trời mới, cho ta thấy thế giới không chỉ có một cách nhìn nhận duy nhất. Sự thích thú đó đến làm chúng ta như được “bước vào một thế giới song song” - vừa lạ lẫm nhưng lại vừa quen thuộc một cách kỳ diệu, nơi logic bị đảo lộn để nhường chỗ cho cảm xúc và trực giác lên ngôi. Đó là một cuộc phiêu lưu tinh thần đầy mê hoặc.
Nếu sáng tạo khoa học kỹ thuật hướng vào tư duy logic thì văn học nghệ thuật hướng đến tư duy hình tượng. Khoa học hiện đại có nhiều lĩnh vực đi vào cái ảo dùng cái ảo để hiểu cái thực dùng cái ảo để hướng dẫn cải tạo cái thực, quan điểm đó ngày nay trong nhiều lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) xen vào chi phối tất cả. Thực và ảo suy cho cùng là hai thuộc tính của thơ ca truyền thống cũng như hiện đại, chúng bổ trợ cho nhau, vấn đề là nhà thơ sử dụng nó thế nào để tái tạo hình tượng nghệ thuật sâu sắc hơn, tinh tế hơn, trung thành hơn, diễn cảm hơn bức tranh về thực tại trong sự chuyển hoá hết sức đa dạng từ hiện tại đến tương lai. Quan điểm về cái hay, cái đẹp sẽ còn thay đổi hoàn thiện không ngừng theo thời gian, bước đầu có thể nghĩ đến các yêu cầu đa dạng của đời sống, của người đọc hiện đại để giải phóng năng lượng cho thơ theo kịp.
H.Q
___________
(1). Diêm Liên Khoa (Trung Quốc) - Chủ nghĩa thần thực.
(2). Bằng Việt - Đệ nhất tổ phái Trúc Lâm Giảng Thiền - Nhà văn và Cuộc sống - số 1 - 2021.