28-02-2017 - 03:22

Truyện ngắn: Đêm hoa mai nở

Tạp chí Hồng Lĩnh giới thiệu truyện ngắn: Đêm hoa mai nở của tác giả Nguyễn Xuân Diệu.

Sáng 30 Tết. Những cơn mưa phùn đầu xuân như những tấm voan buông nhè nhẹ trên những lộc cây mới nhú. Sớm nay trời hưng hửng nắng. Vừa mở cửa bước ra ngoài, chị sững lại khi thấy cây mai trồng trước sân nhà những ngày anh đi xa, hôm qua còn chúm chím nụ, đã bật nở những đóa hoa. Sắc hoa mỏng tang như những đốm nắng vàng non tơ, e ấp. Chị chạy ra đưa hai tay nâng niu, vuốt ve những cánh mai, miệng chúm chím cười mà đôi mắt cứ nhòe đi. Thế là đã 15 cái Tết rồi anh đi biền biệt. 15 năm, có lúc chị ngỡ dặc dài cả đời người, có lúc lại ngỡ như anh vừa ra đi hôm qua. Chị buông thõng hai tay xuống, nén tiếng thở dài...

Ai cũng bảo chị đẹp. Đất Quảng Trị cỗi cằn héo hắt sim mua, oằn mình trong từng cơn gió Lào hừng hực, nhưng da chị cứ trắng nõn, trắng nà. Trong đội du kích Do - Cam ngày ấy, hầu hết là con gái, chị nổi lên như một đóa hoa lộng lẫy. Không ít những chàng trai quê chị, những anh lính giải phóng quân thấy chị, chân không bước nổi nữa, cứ đứng ngẩn ngơ như bị hút hồn. Có câu chuyện mỗi khi nhớ lại, chị lại tủm tỉm cười một mình. Ấy là cái lần đội du kích của chị bắt được mấy thằng lính Mỹ. Chị được giao nhiệm vụ giải tù binh về. Dọc đường một thằng lính Mỹ trẻ măng cứ len lét nhìn chị, xì xồ, xì xào gì đó với tụi tù binh. Đến chỗ nghỉ, thằng lính mặt ghệt ra, cóm róm đến trước mặt chị, nói ngượng nghịu: “ You look beautiful!”, chìa ra một tấm hình của nó. Người du kích đi cùng nói với chị hay rằng, thằng Mỹ khen chị đẹp, xin được tặng tấm ảnh làm kỷ niệm. Chị ôm bụng cười rũ ra. Rồi chị gặp anh, một đại đội trưởng đặc công quê Hà Tĩnh. Anh đến như bao người lính khác. Cái mùi mồ hôi nồng nồng, cái mùi sương giá, mùi cỏ dại ngai ngái tỏa ra từ người anh trong căn hầm bí mật, đã đọng lại trong người chị. Và một ngày cuối năm 1971, dưới căn hầm bí mật ấy, trong tiếng bom chát chúa, tiếng máy bay gầm rít và tiếng pháo bầy, chị đã trao cho anh nụ hôn đầu đời của người con gái cùng lời hứa đợi chờ, khi anh ngỏ lời yêu! 15 năm rồi, với chị, lời hứa cùng anh ví bằng sông cạn, đá mòn...

Một đêm cuối năm, anh An đội trưởng du kích gọi chị ra bìa làng. Chị được giao nhiệm vụ đặc biệt giấu toán trinh sát đặc công của Mặt trận ở hầm bí mật nhà mình và dẫn đường cho anh em “điều nghiên” căn cứ hỗn hợp của Mỹ ở Động Tranh. Hầm bí mật nhà chị giấu mình dưới bụi tre già. Ngày mạ chị chưa bị bom Mỹ giết hại, hai mạ con đã cẩn thận đào thành hai ngách. Toán trinh sát 3 người. Ngách trong rộng hơn dành cho hai chiến sĩ, ngách ngoài chỉ một mình đại đội trưởng Vĩnh. Hơn một tuần toán trinh sát đi về, chị chỉ nghe được giọng Vĩnh vừa trầm, vừa ấm thoảng trong đêm, na ná như tiếng Quảng Trị của chị, khi anh ra lệnh cho các chiến sĩ và trao đổi tình hình với chị. Hai chiến sĩ rỉ tai chị, đại đội trưởng của mình là người Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Còn nét mặt Vĩnh, chị chỉ nhận ra mờ mờ trong ánh sáng đục lờ dưới hầm bí mật. Ban đêm pháo sáng giăng đầy trời nhưng khuôn mặt anh lại bôi đen đặc nhọ nồi. Chỉ có hàm răng trắn ngần, đều tăm tắp của anh là chị nhìn thấy rõ. Những khi hai người loay hoay trong căn hầm chật hẹp, chị  nhận ra từ người anh cái mùi mồ hôi nồng nồng, cái mùi sương giá và cả mùi cỏ dại ngai ngái. Những cái mùi ấy theo ngày, theo đêm quyện lại, cứ như chất men vô hình làm chị chuếnh choáng. Mãi sau này, khi xa anh rồi, chị mới nhận ra đó là mùi đàn ông. Người ta bảo “quen hơi, bén tiếng” có lẽ là thế. Bởi một ngày không thấy cái mùi quen thuộc ấy, chị đã thấy nhớ cồn cào. Hôm cuối cùng của đợt trinh sát, mới hưng hửng sáng, chị đang đưa cơm vắt xuống tiếp tế cho anh em dưới hầm thì địch đổ quân càn vào làng. Tiếng địch la ó, tiếng giày đinh thình thịch âm âm dội vào lòng hầm cùng tiếng súng bắn loạn xị, tiếng thuốn sắt xiên lạnh người ngay sát vách hầm. Chị nép sát vào người anh, bụng lo thắt lại. Dù đã từng qua lại đồn giặc như cơm bữa, đánh nhau với chúng dư trăm trận mà sao lúc này chị cứ run bắn lên. Chị sợ! Không phải chị sợ chết mà chỉ sợ bọn địch xiên trúng hầm, toán trinh sát phải nhảy lên đánh trả. Quân địch đông thế, giữa ban ngày ban mặt, anh em làm sao thoát được vòng vây? Lúc đó bao nhiêu công lao “điều nghiên” cứ điểm Động Tranh cũng đi đứt. Bỗng anh quay sang chị thì thào:

- Nếu...lộ, cứ để một mình anh lên trước. Anh có kinh nghiệm chống trả địch đánh hầm bí mật hơn em và hai chiến sĩ. Anh sẽ thu hút hỏa lực chúng tập trung  vào anh. Lúc đó em tìm cách đưa hai chiến sĩ phá vòng vây rút vào rừng...!

Tay trái anh cầm quả lựu đạn mỏ vịt đã rút chốt. Tay phải vừa cầm một quả khác vừa choàng qua vai chị ôm chặt vào người mình. Cái “mùi đàn ông” gần quá, nồng nàn quá, ngột ngạt quá và hơi nóng như lửa đốt từ người anh tỏa ra hừng hực làm chị trấn tĩnh lại. Chỉ mấy chục phút quân địch càn qua làng mà chị thấy dài dằng dặc như cả đời người, lại vừa thấy ngắn tun ngủn như chỉ mấy giây đồng hồ...

Khi trên mặt đất đã im ắng, hai người lính ngách trong đã ôm nhau ngủ lại, vọng ra tiếng thở đều đều, vòng tay rắn như sắt của anh bỗng xoay người chị về phía mình. Gương mặt anh đã gần chị lắm. Hơi thở anh phả nóng hổi trên mặt chị. Tiếng anh dồn nén:

- Mừng ơi! Anh yêu em mà! Hết giặc rồi, anh sẽ về thưa với bố mẹ được đón em về Nghi Xuân, về Hà Tĩnh với anh! Được không em? 

Chị sửng sốt. Sửng sốt đến bàng hoàng! Dẫu chẳng phải lần đầu chị nghe lời tỏ tình của đàn ông, mà sao lần này...? Chị nhắm nghiền mắt lại, người rũ ra, mềm nhũn như sợi bún. Lần đầu tiên trong đời, chị cảm nhận được cái cháy rát của những nụ hôn...

...Động Tranh bị tiêu diệt. Quê chị được giải phóng. Chị được đón cái Tết đầu tiên trên quê hương không còn bóng giặc. Vĩnh xin phép đơn vị về ăn Tết với chị. Trên bàn thờ có đủ bánh chưng, bánh tét, thịt heo...vậy mà Vĩnh cứ xuýt xoa mãi:

- Anh đã lùng khắp chung quanh đây mà chẳng tìm được cành mai nào. Bom đạn Mỹ phá trụi hết rồi. Ngoài Hà Tĩnh quê anh, khi Tết đến, nhà nhà dù nghèo đến mấy cũng có một cành đào...Đào, Mai là loài hoa quân tử, là biểu tượng của mùa Xuân đất nước mình đó em. Ngày hết giặc, anh sẽ tìm về cho em một cành mai thật đẹp để chúng mình cùng đón Tết, vui Xuân..!

Chị đâu ngờ sau cái Tết ấy, anh cùng đơn vị đặc công của mình hành quân về phương Nam và từ đó chị phải xa anh đằng đẵng. Sài Gòn giải phóng rồi, chị thấp thỏm chờ đợi. Nhiều đêm đang ngủ, chị thảng thốt bật dậy khi nghe mơ hồ có tiếng chân bước, tiếng bước chân nghe quen quen như mỗi lần anh trở về từ đồn địch về  sau chuyến trinh sát. Và hình như mỗi lần nghe tiếng bước chân như thế, sóng sánh trong căn nhà đơn chiếc cái mùi mồ hôi nồng nồng, cái mùi sương giá, cỏ dại ngai ngái...lắm khi cứ như quánh lại. Nhiều đêm nằm mơ, chị thấy người anh sạm đen khói súng, đang chạy như bay về phía chị. Tay anh cầm một cành mai vàng lấp lóa màu lửa cháy, rạng rỡ như nụ cười anh. Chị ngồi bật dậy, trân trân nhìn vào bóng đêm, cố tìm lại hình ảnh ấy. Thế rồi tảng sáng thức dậy, chị đùm cơm, cầm dao, vác xẻng nhằm phía rừng đi tìm mai. Đi tìm suốt hai ngày ròng rã, chị đào được một cây mai thật đẹp mang về trồng trước nhà. Ngày ngày chị cặm cụi tưới tắm, chăm sóc. Những mong ngày anh trở về, cây mai sẽ đơm hoa. Năm tháng đợi chờ nhọc nhằn, khắc khoải đi cùng đời chị. Nhiều lúc thoáng thấy bóng người lính mang ba lô đi về hướng làng, chị lật đật chạy ra ngõ rồi lại ủ rũ quay vào khi thấy người lính rẽ sang lối khác. Con đường hun hút vào nhà chị không bóng anh càng hun hút trong đôi mắt chị...!

Bao đêm chị trằn trọc không sao ngủ được. Nhớ anh, chị chạy ra giếng múc nước tưới cho mai. Nhiều khi ruột gan nóng hôi hổi, chị để nguyên cả quần áo cầm gàu dội ướt đẫm cả người mình. Đôi lúc tự dưng chị thẫn thờ đánh rơi cả gàu nước. Một năm, hai năm, ba năm...năm năm...rồi mười lăm năm...Sao anh mãi không về? Bạn bè cùng đội du kích Do - Cam ngày nào, những lúc đến thăm chị, ai cũng bảo: “Xinh đẹp như mi, lấy ai nỏ được. Đừng có chờ đợi nữa, không chừng hóa đá đó! Eng ta không về với mi nữa thì lấy chồng đi...!”. Những kẻ phải lòng chị, năm lần, bảy lượt đến tán tỉnh, bị chị lắc đầu, xoay sang hằn học: “ Tay Vĩnh chẳng qua như con bướm, thấy hoa là đậu. Đậu rồi lại bay. Thằng con trai nào chẳng rứa! Với lại quê hắn ở tít ngoài Hà Tĩnh. Hà Tĩnh xa xôi rứa, xóm thôn, nhà cửa mi chưa biết ở mô, thì biết đằng mô mà rờ...!” Nghe họ nói, gương mặt chị ráo hoảnh. Nhưng đêm về một mình trong căn nhà vắng lạnh, chị ôm ghì chiếc gối đơn vào ngực mình, dàn dụa nước mắt. Anh An đội trưởng du kích ngày ấy, thỉnh thoảng đến thăm chị. Vẫn cái giọng như khi giao nhiệm vụ cho chị ngày nào, anh ôn tồn:

- Giữ lấy đức tin mi ạ! Tau chẳng phải là thấy tướng số, nhưng nhìn vô mắt thằng Vĩnh tau biết hắn chẳng phải là thằng lừa lọc. Chắc tổ chức đang giao cho hắn làm việc chi quan trọng lắm, hắn không nói được với mi đó thôi. Tin tau đi! Cứ đợi! Hắn sẽ về...!

Nghe anh nói, chị mủm mỉm cười. Nụ cười méo mó mà đôi mắt thăm thẳm thì nhìn hướng về phía chân trời phương Nam vời vợi. Không nói ra, nhưng tự sâu thẳm lòng mình, chị tin anh sẽ về. Bởi với chị, lời anh hứa cùng chị còn quý hơn mạng sống của mình...!

 ***

Đêm cuối năm. Trời đất đặc quánh một màu đen như miếng nhựa  đường hình cầu úp chụp xuống. Thỉnh thoảng những ánh chớp pháo đùng, pháo tép xanh đỏ lóe lên cùng tiếng nổ lẹt đẹt, đì đoàng xen trong mùi hương trầm ngan ngát. Sắp đến giao thừa, trong căn nhà trống trênh, chị vẫn khóa chặt cửa, ôm chiếc gối đơn nằm cố ngủ. Thoảng trong tiếng pháo nổ và tiếng gió như tiếng thở dài ngoài vườn, chị chập chờn nghe tiếng chân bước. Đã bao đêm trong giấc ngủ mơ màng, chị từng nghe tiếng chân quen quen này rồi. Chị trở mình, cố nhắm mắt. Vẫn tiếng bước chân mơ hồ đang rõ dần. Tiếng bước chân bỗng im lặng như dừng lại một lúc lâu nơi cây mai trước sân, rồi chợt có tiếng gõ cửa. Chị lại trở mình. Vẫn tiếng gõ cửa ấy mà nửa như ngập ngừng, nửa như gấp gáp. Những người ngỏ lời yêu chị, bị chị từ chối, không ai dám đang đêm đến gõ cửa thế này. Hay là mình mơ ? Chị dụi mắt rồi tự véo vào tay mình. Đôi mắt chị ráo hoảnh, còn nơi bị véo thì đau điếng. Thế thì chị đã ngủ đâu mà mơ! Nhưng rồi thật lạ, chẳng hiểu vì sao nữa, như một linh cảm, chẳng lo mình thân gái đơn chiếc trong ngôi nhà đơn chiếc, tự dưng chị bật dậy, luống cuống bật công tắc đèn. Căn nhà chói lòa ánh điện. Run run, chị đưa tay đẩy cái chốt. Cánh cửa bật mở. Một người lính đã luống tuổi mặc bộ quân phục bạc phếch, khuôn mặt dày dạn phong trần, vai mang ba lô, tay cầm cành mai như đang phát ra ánh sáng màu vàng hiện ra ở khung cửa. Trông thấy chị, người lính buông rơi cả cành mai, nhào đến. Tiếng anh vỡ òa:

- Mừng! Mừng! Phải em đó không? Ôi! Em thật đây rồi! 

Họ ôm choàng lấy nhau. Tiếng chị thổn thức:

- Hòa bình lâu rồi, răng eng ác thế? 15 năm ni, eng đi mô mà không về với em?

- Đơn vị anh nhận nhiệm vụ đặc biệt ở nước bạn em ạ. Tất cả những người lính nhận nhiệm vụ này không được báo tin cho ai, kể cả cha mẹ mình. Thương em vô chừng, mà nào có được viết thư cho em. Nhiệm vụ đặc biệt mà em. 15 năm, bằng thời gian Kim Trọng xa Thúy Kiều rồi đó! Bây giờ hết nhiệm vụ rồi, được trở về Tổ quốc, chưa kịp về nhà, anh liền tìm đến với em ngay!

Chị nép vào khuôn ngực vạm vỡ của anh tin cậy. 15 năm biền biệt, cái mùi mồ hôi nồng nồng, cái mùi sương giá, mùi cỏ dại tỏa ra từ người anh vẫn nồng nàn như ngày xưa làm chị ngây ngất. Chị hỏi mà chẳng biết đang tỉnh, hay mơ:

- Eng về với em rồi, răng chừ eng lại đi?

- Suốt tuổi thanh xuân trận mạc, chúng mình phải xa nhau. Chuỗi ngày còn lại, ta phải bù đắp cho nhau chứ em! Lúc tìm được nhà em, anh đứng chết lặng khi nhìn thấy cành mai anh hứa đem về trồng cho em mà chưa làm được, vậy mà em tự trồng lên đã nở hoa rồi. Đến bông mai còn biết chờ anh về để nở nữa là...! Đêm nay chúng mình sẽ cùng nhau đón giao thừa, sẽ cùng nhau đón Tết ngày mồng một. 15 cái Tết xa cách đằng đẵng rồi mà em! Mồng hai đẹp ngày, anh sẽ đưa em về Nghi Xuân, Hà Tĩnh để ra mắt bố mẹ, em nhé! Được không em?

Chị dụi đầu vào ngực anh. Sau lần áo quân phục sương gió bạc màu, chị nghe thật rõ nhịp tim anh đập. Chưa bao giờ trong suốt 15 năm đằng đẵng cách xa, chị có giấc ngủ bình yên như đêm nay. Lúc chị tỉnh giấc, bình minh ngày năm mới đã ửng. Những tia nắng đầu tiên đang miên man trên những bông mai trước sân nhà, làm nó cứ rực lên như lửa cháy. Cây mai chị đã kiếm tìm, đã trồng, đã cặm cụi chăm chăm sóc trong đau đáu nỗi yêu thương, trong đau đáu nỗi đợi chờ, đã bật nở những đóa hoa. Chị đứng dậy cầm lấy bàn tay đầy chai sạn, ấm áp của anh áp vào ngực mình. Trong nhịp đập rạo rực của trái tim, như một đứa trẻ, chị ào chạy ra sân và chợt nhận ra Mùa Xuân đã đến thật rồi!

       N.X.D

. . . . .
Loading the player...