17-03-2017 - 03:26

Truyện ngắn: Nắng quái chiều hôm

Tạp chí Hồng Lĩnh số 127 giới thiệu truyện ngắn "Nắng quái chiều hôm" của tác giả Phan Thế Dũng Toàn.

1. Lâu không có dịp, hôm nay nhân ngày lễ, tôi dành một ít thời gian đến thăm ông bạn vong niên X. Dù ở cùng làng, song thi thoảng tôi mới đến thăm ông, vì tôi còn bận công tác. Tôi làm việc ở thành phố, chỉ ngày cuối tuần mới được về nhà. Từ ngày vợ ông mất, tôi cũng chỉ mới ghé qua lần này là lần thứ ba. Bước vào ngõ, thấy mọi thứ vẫn sạch sẽ, gọn gàng như thuở bà còn sống. Cây trong vườn vẫn tươi tốt, đường sá sạch tinh tươm. Chỉ khác những lần trước tôi đến, bà thường là người ra xua con chó mỗi khi khách đến vẫn hay sủa inh ỏi, mắng con chó khách quen mà vẫn không nhớ, tươi cười chào tôi rồi gọi vọng vô nhà: “Ông ơi có khách!”. Hôm nay, bước vào nhà, không thấy con chó to và dữ tợn ngày nào. Ông X ngồi trước cửa nhà, hỏi tôi về quê từ lúc nào? Tôi vừa trả lời ông, vừa mang chùm hoa quả xin phép ông được vào thắp cho bà nén nhang. Khi tôi đi ra, ông chỉ cho tôi cái ghế trước sân bảo ngồi xuống đó. Tôi hỏi ông về cuộc sống. Ông bảo vẫn bình thường. Có vẻ ông kiệm lời hơn những lần trước. Mắt ông cứ tao tác nhìn đâu đó, đôi lúc thiếu tập trung. Tôi ngồi bên ông, thủ thỉ vài câu chuyện nhỏ. Định hỏi thêm ông đôi điều, song thấy ông như vậy đành thôi. Nhìn ông, tôi tự hỏi: Ông nhớ vợ ư? Hay ông nhớ các con? Là người bạn tâm giao với ông, từng được ông tâm sự nhiều chuyện, song tôi vẫn không dám tin chắc vào phán đoán của mình trừ khi ông nói ra điều đó.

*

2. Vốn là người cùng làng song ngày nhỏ tôi không biết ông. Tôi ở đầu làng, nhà ông ở cuối xóm. Từ nhỏ tôi đã là người ham mê đọc sách, thích tò mò những chuyện li kì. Những chuyện về ông người làng vẫn kể cho nhau nghe. Tôi chỉ là một đứa trẻ hóng hớt những chuyện vụn vặt, nhưng vẫn thấy câu chuyện về ông thật hấp dẫn. Ông là người vĩ đại nhất cùng làng mà tôi được biết, tôi đã nhìn ông đầy ngưỡng mộ.

…Thuở còn trẻ, X đã nổi tiếng là một người đẹp trai, hào hoa, lại được ăn học tử tế. Bố mẹ X làm nông nghiệp, không khá giả là mấy, nhưng biết chăm lo cho việc học hành của con cái. Nhà họ ở gần nhà địa chủ Thừa Bính, họ từng ngưỡng mộ con cái nhà Thừa Bính đi du học ở Pháp về oai phong thế nào, vậy nên thấy con mình ham học họ không tiếc công sức đầu tư. X là một trong ba cậu nhỏ ở làng Ba được đi học tiểu học ở trường Pháp - Việt dưới huyện. X là người sáng dạ, thông minh, con đường học vấn cũng khá suôn sẻ. Tốt nghiệp trường huyện, lên học trường tỉnh, rồi ra thủ đô theo học Đại học. 

Thấy con chăm lo việc học hành quên đi việc quan trọng là lấy vợ, bố mẹ X rất lo lắng. Không lo sao được khi ở quê tầm tuổi X, con trai con gái đã có vợ có chồng, có con bồng con bế. Ông bố bà mẹ ở nhà sốt sắng tìm cách dạm vợ cho con trai.

Trong làng, gia đình nhà ông T có hai cô con gái sàn sàn tuổi nhau. Cô Oanh là chị, người cao mảnh, sắc sảo, hát hay. Cô Yến là út em, dáng người tầm thước, xinh xắn dịu hiền. Hai chị em quả là mười phân vẹn mười, sẵn cả đức hạnh lẫn nhan sắc. Theo cách nhìn tướng của ông bố, cô út hiền dịu vẫn hợp với con trai ông hơn. Gia đình người ta là gia đình danh giá, bố làm cán bộ trên Tỉnh, anh trai làm cán bộ Huyện. Ông không thể vội vàng đến nhà người ta nói lời rồi nuốt lời. Ông vội biên thư cho con trai hỏi ý kiến nó trước, song đợi mãi không thấy hồi âm, con gái người ta lại có nhiều cậu trai trẻ đang dòm ngó. Ông bèn bàn với bà biện cái lễ nhỏ đến đặt vấn đề trước, hỏi ý con sau. Ngày ông cán bộ Tỉnh về thăm nhà, ông mạnh dạn tới có lời ướm hỏi. Ông cán bộ Tỉnh sai cô gái út ra đáp lễ. Cô gái bẽn lẽn thẹn thùng, lúng túng rót nước tràn cả ra ngoài ly. Ông cán bộ tỉnh hỏi thăm tin tức cậu con trai ông đương học tập ở Hà Nội. Không nói ra, song xem chừng ông cán bộ Tỉnh đã thuận lòng vừa ý.

Bố mẹ biên thư báo tin mừng cho anh. Anh không còn nhớ cô út nhà ông cán bộ Tỉnh giờ thế nào, nên hồi âm bảo cho bố là chuyện gia đình để con tự lo liệu. Ông giận dữ viết thư trách con trai có mắt mà không biết nhìn. Ngày tốt nghiệp Đại học, anh về quê và được bố đưa đến xem mặt cô út. Nhìn cô gái xinh xắn dễ ưa, anh cũng có chút cảm tình. Ông T lại hứa xin việc cho anh ở Tỉnh. Thế là đám cưới của anh được tổ chức sau đó vài tháng. Đến mùa thu, anh chuyển giấy tờ ở Hà Nội về tỉnh làm việc với ông bố vợ.

Vợ anh vẫn ở nhà, trồng trọt, nuôi con. Cứ hai năm một đứa sòn sòn, thế mà nhà anh đã có đến bốn nhóc tì. Cô vợ sinh nở nhiều lần, lại vất vả một mình nên cứ hao gầy dần đi. Chẳng phải anh không hiểu cho nổi khổ của vợ, mà vì công việc và khoảng cách xa xôi khiến anh không thể có mặt thường xuyên bên vợ và các con. Anh đề cao nghĩa vụ của mình với vợ và trách nhiệm với các con. Hàng tháng vẫn trở về chu cấp tiền cho vợ con trang trải cuộc sống vốn rất khốn khó và eo hẹp ở quê nhà. Đặc biệt anh rất quan tâm đến việc học hành của các con và công việc của vợ. Phúc đức anh được thừa hưởng là các con ngoan ngoãn và sáng dạ, học hành giỏi giang. Đã có lần anh bàn với vợ đưa thằng cả và con gái thứ hai vào thành phố với bố cho tiện việc học hành, song chỉ qua mấy tuần ngày hè đến ở với bố, thấy bố bận bịu như thế, cả hai đã xin bố về quê. Bà đành phải nghỉ công việc ở Hợp tác xã để về nhà chăm lo ruộng vườn, nuôi nấng con cái. 

*

3. Năm học cấp ba, tôi đỗ vào trường năng khiếu Tỉnh. Tôi phải xa nhà tới thành phố trọ học từ đó. Lần đầu tiên tôi trông thấy ông là lúc ông về trường tôi trong Lễ kỉ niệm ngày thành lập trường. Ông thay mặt cán bộ Tỉnh ủy lên phát biểu. Ông đứng trên diễn đàn, áo trắng thắt clavat, đóng thùng trong chiếc quần Tây màu xám, khuôn mặt đầy đặn, hồng hào, mái tóc đen mượt bồng bềnh, giọng nói trầm ấm mà vang vọng. Tóm lại là trông rất oai vệ và quyền uy. Những lời ông nói thật cao sang và nhiều ý nghĩa. Đấy là suy nghĩ của một cậu học trò lớp 8 như tôi vốn mang trong mình niềm tự hào và ngưỡng mộ ông từ nhỏ. Tôi nói thầm bên tai thằng bạn thân rằng: “Ông ấy là người làng mình đấy! Trước đây con gái út của ông ấy cũng học ở trường mình”. Cậu bạn tròn mắt ngạc nhiên nhìn tôi: “Thật ư?”. Điều tôi không ngờ là sau Lễ kỉ niệm mấy hôm, thầy giáo chủ nhiệm gặp riêng tôi và nói: “Đồng chí X. hỏi thăm em đấy. Đồng chí ấy bảo khi nào rảnh rỗi em tới cơ quan đồng chí ấy chơi! Hình như đồng chí ấy nói là bạn học với bố của em”. Tôi như choáng váng, nghe rất rõ nhưng vẫn không tin chuyện ấy lại là sự thật. Tôi cũng nhiều lần cùng bạn bè đi qua Ủy ban Tỉnh, nhưng chưa bao giờ dám nghĩ là mình sẽ được vào chứ chưa nói là sẽ vào đó. Ông X. là thần tượng của tôi đấy, nhưng tôi không dám nghĩ là mình sẽ gặp và nói chuyện với ông ấy. Ông ấy nói là bạn học với bố tôi, vì như những gì tôi biết bố tôi chỉ học trường làng, không học trường huyện. Cô tôi cũng đã xác nhận điều đó với tôi. Bố tôi thì đã mất khi tôi còn nhỏ. Sự thực tôi cũng chả mấy nhớ được hình ảnh bố. Còn một điều nữa, những gì tôi biết về ông ấy ở làng không giống với những điều tôi chứng kiến và biết về ông ở phố. Tôi ngày ấy là một cậu bé rụt rè, nên nghe thầy giáo nói thế nhưng chẳng lúc nào dám nghĩ mình sẽ đến gặp một người người như ông ở một nơi sang trọng và quyền thế là Ủy ban nhân dân Tỉnh, dù ông có là người cùng làng đi nữa.

Mãi đến sau này, sau khi tốt nghiệp Đại học, kinh qua công tác mấy năm ở huyện, tôi được điều về thành phố. Tôi có tham gia mấy hội tổ chức xã hội, mấy lần gặp ông về dự Đại hội, nghe ông phát biểu, vẫn giọng quyền uy và sang trọng. Tôi mới mạnh dạn tới gặp ông. Cũng chẳng biết từ lúc nào tôi đã thành người bạn tâm giao của ông. Nhiều lúc bận công việc ông không về quê, cần gửi gắm gì ông lại nhắn nhờ tôi. Tôi vẫn xem việc được giúp ông là một vinh hạnh nên không nề hà bất cứ việc gì. Đôi lúc ở một mình ông cũng gọi tôi tới. Tôi đã hiểu phần nào con người đời thường sau công việc của ông qua những lần gặp gỡ như thế.

…Ông là người đào hoa, lại có chức có quyền. Nhiều người đàn bà mê ông. Không thể nói ông không tôn trọng những tình cảm của họ. Không thể nói ông dành tình cảm cho họ ít hơn cho người vợ xinh xắn mà lam lũ đã cưới không vì tình yêu. Không thể nói khi sống ở thành phố ông không có một vài người phụ nữ mà ông thường qua lại. Vợ ông quá nhu mì và đủ sức chịu đựng để sống với người chồng thành đạt và hào hoa. Khi các con lớn lên, tự họ hiểu được gia cảnh mình, họ ít biết về người cha của mình nhưng vẫn hiểu ông là người ra sao, họ thấu hiểu cho sự lặng lẽ của người mẹ tần tảo mà cô đơn ngay trong chính nhà mình, song do được giáo dục nghiêm khắc và coi trọng về đạo đức, họ vẫn giữ nề nếp gia phong để không làm tổn thương đến bất kì một thành viên nào đó trong nhà mình.

*

4. Nghỉ hưu, ông ở lại thành phố mấy năm, vẫn cứ thỉnh thoảng đi về quê như khi còn đương chức, chỉ khác không có xe riêng đưa đón. Ông có một căn nhà ở con đường sầm uất nhất nhì của thành phố, nhà đẹp và tiện nghi. Có mấy lần tôi đến thăm ông, cũng có gặp đôi ba người đàn bà con gái ở đó. Bà Oanh có đến ở với ông một thời gian, sau đó bà về quê và không thấy đến nữa. Ông mới về hưu, nên nhiều cuộc họp quan trọng của các ban ngành trong tỉnh vẫn đến mời ông làm đại biểu danh dự. Thỉnh thoảng vẫn thấy ông xuất hiện trên ti-vi trong các cuộc họp hoặc hội thảo của Tỉnh. 

Một hôm ông nhắn tin gọi tôi đến nhà. Tôi hỏi có việc gì hệ trọng sao? Ông bảo: “Mình sẽ về quê!”. Tôi ngạc nhiên: “Bác đã có nhà cửa ở đây, nhiều công việc Tỉnh nhà còn cần đến bác, bác về quê sao tiện. Hơn nữa bao năm vợ bác ở nhà vất vả, đây sẽ là thời gian bác bù đắp cho bác gái!”. “Mình biết tính của vợ mình chứ. Bà ấy không thích hợp với cuộc sống ở phố phường đâu. Bà ấy đã lên đây và đã về quê rồi đấy thôi!”- Ông nói nghiêm túc. “Còn các anh chị con bác thì sao? Bác có địa vị, sao không sắp xếp cho một người về Tỉnh làm việc?”- Tôi thành thật hỏi. Ông trầm giọng: “Thằng cả có công việc ổn định ở Hà Nội, nó là giảng viên Đại học, về Tỉnh không có môi trường cho niềm đam mê của nó. Còn mấy đứa em nó, lấy chồng thì phải theo chồng”. Tôi nói với ông rằng thôi thì về quê cũng có cái thú của quê. Tôi cũng có khác gì ông, dù làm việc ở thành phố, song nhà tôi vẫn ở quê, tôi vẫn chưa có ý định thay đổi cuộc sống đó. 

…Ông X đã chọn làng Ba làm nơi trú ngụ những ngày cuối đời. Các con trưởng thành, được ăn học tử tế, đứa vào Đại học, đứa học Cao đẳng, ra trường đứa nào cũng có nghề nghiệp ổn định. Trai khôn lấy vợ, gái lớn lấy chồng, đứa Bắc đứa Nam, duy có chị gái thứ ba tốt ngiệp Cao đẳng về làm giáo viên dạy học là lấy chồng gần ở huyện nhà. Những ngày đầu chưa quen với cuộc sống ở quê, thỉnh thoảng ông vẫn trở lại ngôi nhà ở phố. Sau rồi ngôi nhà trên phố ông cũng ít lui tới, suốt ngày cửa đóng then cài. Ông thuê thợ xây lại ngôi nhà ở quê, vẫn giữ nguyên ngôi nhà cũ của ông cha để lại làm kỉ niệm. Hai ông bà già sống với nhau lặng lẽ. Tính ông gia trưởng, có một phần ông là người từng được cấp dưới cung phụng thành thói quen. Sự tôn trọng của ông dành cho bà là rất khiêm tốn. Ông khắt khe với bà, từ miếng ăn đến sinh hoạt. Tính dịu dàng, nhẹ nhàng, nhẫn nhịn đã kết thành máu trong bà. Tỉ như bà đanh đá, chua ngoa, chắc ông sẽ đổi khác. Sống lâu rồi thành quen, bà cũng nghĩ thật giản dị, sống đâu phải chỉ để yêu thương.

Bà vẫn nhất mực tôn trọng và cung phụng ông. Nhà trồng được nhiều chè. Sáng nào bà cũng dậy sớm hãm cho ông một ấm chè xanh, sau mới làm những việc khác. Chè bà hãm rất ngon, rót ra ly cứ sóng sánh vàng như mật ong, như màu vàng của nắng thu ban mai. Hương vị chè theo khói bay lên, dịu mà dằm thắm. Ly chè xanh buổi sáng như một phần không thể thiếu trong cuộc sống thôn dã của ông. Ông có nhiều khách. Những ngày đầu ông mới về quê nhà, khi khách đến nhà, tôn trọng khách, bà rót nước, ngồi tiếp chuyện. Ai cũng khen bà hãm chè thơm ngon. Chỉ sau này, khi bà thấy ánh mắt ông cứ chao đỏa tao tác, bà mới kiếm cớ rút lui. Trong số khách khứa của ông, có cả những phụ nữ sồn sồn nhiều tuổi rồi mà mặt vẫn bự son phấn và váy áo xúng xính. Bà chào đáp lễ rồi đi làm việc vặt trong nhà. Dù ở xa, bà vẫn nghe rộn ràng tiếng dép sàn sạt trên nền gạch, tiếng gì loạng choạng như gió, như mưa.

Ông cứ nghĩ bà lành như giọt nước. Ông không biết nước mắt bà đục ngầu chảy ngược vào trong. Bao phen bà khóc thật nhiều trước khi gọi điện tâm sự với cô con gái tận miền Nam xa xôi, đứa con thấu hiểu và thường sẻ chia với mẹ nhiều nhất. Cô con gái thổn thức với bà. Bà tự lau nước mắt cho mình.

Bà ốm đột ngột, ông chăm bà được mấy bữa rồi gọi điện cho các con về. Đứa gần nhất về trước, chăm bà, chăm cả ông. Ông chê con gái không biết hãm nước chè xanh, nấu ăn không hợp khẩu vị. Bà phải gượng dậy làm thay con cho vừa ý ông, xong xuôi đâu đó lại lên giường nằm và uống thuốc.

Ông ngã bệnh, bà tất tả đi mời bác sĩ, hỏi ông ăn gì để đi chợ mua. Bà chăm ông y hệt chăm lũ con cái bị sài đẹn ho hen khi chúng còn thơ nhỏ. Có những đêm bà phải thức bên ông để nhỡ ông gọi gì bà còn kịp thời đi cho kịp. Mới nhấp mắt trời đã bạnh sáng, bà vội múc gáo mước lau mặt cho tỉnh táo, vội ra vườn hái chè hãm một ấm chè tươi xanh. Thi thoảng vẫn có những vị khách đến thăm ông lúc ốm. Những người phụ nữ sồn sồn được tin ông ốm cũng đến. Nằm trên giường bệnh mà mắt ông vẫn cứ thao thiết. Bà lui ra, bước đi loạng choạng, thấy trước mắt mình như gió, như sương.

Bà ốm đột ngột, nhưng dai dẳng và đau đớn. Ông phải đưa bà xuống viện. Đứng ngoài hành lang bệnh viện, ông điện cho cậu con trai cả báo ngay cho các em nó về tình trạng khẩn cấp của bà. Vợ chồng cô con gái ở gần đến viện trước tiên. Mấy hôm sau, anh Bắc cô Nam mua vé máy bay cấp tốc trở về. Các con thay phiên nhau chăm sóc bà. Kể cả khi bệnh tình bà thuyên giảm, ông vẫn nói rằng một mình ông không chăm sóc bà được.

Sau lần đi viện trở về, thỉnh thoảng bà lại đau ốm. Có khi bà mằm cả tháng ròng. Cô cháu gái họ hàng gần nhà phải đi chợ thay ông. Ông mấu nướng cứ đá thúng đụng nia. 

Một chiều nắng nhạt, bà như làn khói nhẹ bay về trời.

*

5. Ngày bà mất, tôi về thắp hương cho bà. Tôi cũng chỉ gặp ông để chia buồn, chứ chẳng có thời gian để nói chuyện nhiều. Tôi định tuần sau sẽ tới thăm ông, tâm sự nhiều hơn. Đợt đó tôi bận đi công tác xa, nên lại lỡ hẹn. Hơn tháng sau, mới ghé thăm ông được. Chiều hôm đó, ông ở nhà một mình. Ông tiếp tôi trên bộ bàn ghế đặt ở ngoài sân. Bộ bàn ghế vốn ở phòng khách, song do ông muốn dành một không gian rộng và thoáng mát nơi đặt ban thờ bà, ông đã nhờ người khiêng nó ra sân để tiếp khách. Tôi nhìn ông, thấy mới có hơn tháng trời mà trông ông thay đổi rõ nét. Người gầy sọp đi, trên khuôn mặt vốn rất đẹp lão của ông, khuôn mặt từng khiến bao phụ nữ si mê ông giờ trở nên hốc hác, nổi đầy những nếp nhăn. Đôi tay với làn da trắng của ông nổi rõ những đường gân màu xanh. Tôi tế nhị hỏi: “Bác ăn uống không được điều độ ư?” . “Không, mình vẫn ăn bình thường mà!”- Ông bác bỏ. “Có đứa cháu chắt họ hàng nào tới đây giúp bác việc nhà cửa không?”- Tôi hỏi. Ông rót thêm nước vào li của tôi dục uống, rồi nói: “Mọi việc trong nhà xưa nay bà đảm đương hết nay tôi phải tự làm. Con cái muốn thuê cho tôi một người giúp việc nhưng tôi không đồng ý. Tôi còn có sức và thấy mình tự thu xếp được. Thằng cả mấy lần thuyết phục tôi đến ở với chúng, tôi còn lưỡng lự”. Ông ngừng lời, tôi mới nói: “Cần phải thế, bác ạ!”. Ông nhìn tôi, ánh mắt đăm đăm, như thắc mắc muốn biết tôi nói “phải thế” là gì. Tôi giải thích: “Nếu ở thế này, cần thuê người giúp việc. Còn không, bác nên theo con cái”. Ông chỉ nhìn tôi, không nói gì. Ông lại hướng đôi mắt nhìn vào xa xăm. Hình như có một điều gì đó trong ông mà tôi không thể nào hiểu được.

…Cái chết của bà khiến ông như rơi tỏm xuống vực sâu hoang vắng. Các con về lo cho mẹ xong xuôi lại ra đi. Một mình ông với căn nhà nhỏ, nhang khói mù mịt. Lúc chỉ một mình ông mới tự nhìn lại cuộc đời mình, nhìn suốt cả cuộc tình duyên nợ với bà. Nhìn di ảnh của bà, ông cảm nhận thấy sự trống rỗng trong tâm hồn, sự vô nghĩa của bản thân mình. Ông sống như thế suốt một thời gian dài và chưa biết lúc nào là điểm dừng. Nhiều lúc ông thấy bà trở về nhưng đứng thật xa, ông lên tiếng hỏi, bà chỉ nhìn ông mà không hề nói. Hình như ông thấy nhớ thương. Hình như có những vấn vương không gọi thành tên. Hình như ông thấy đau trong lồng ngực. Ông biết chỉ có một người có thể làm dịu những cơn đau của ông, người sẵn sàng nhận những buồn đau không đáng có mà ông đã trút sang một cách ích kỉ và thường xuyên, người đã ra đi như một làn khói. Ông vội vàng vào nhà cầm điện thoại bấm số, gọi cho con trai, giọng đứt quãng:

- Con… Hình như cha… đã làm sai một điều gì…

Anh cả hỏi bố làm sao nhưng ông không nghe máy. Anh cả không yên lòng nên gọi điện cho các em. Mọi người vội vã đặt vé máy bay, mua vé tàu, vé xe ào về quê nhà. Nhìn vào trong nhà thấy bàn thờ mẹ tinh tươm, khói hương thoang thoảng. Thấy ông ngồi trước hiên nhà, người gầy rộc rạc, nước da tái mét, mắt nhìn xa xăm như đang trông ngóng ai đó trở về. 

Mọi người đến bên ông, xúc động kêu lên: - Cha!

Mọi người nhìn đăm đăm, chợt nhận ra người ngồi trước hiên nhà đó là cha của mình đấy, nhưng không phải là cha của ngày xưa.

*

6. Tôi nhìn ra ngoài trời, những tia nắng cuối cùng của ngày đang yếu dần, gió thoang thoảng mang theo hương vị của cỏ cây hoa lá, thứ hương vị chỉ ở quê mới có. Cũng đã lâu lắm rồi tôi mới có dịp ngồi tĩnh tâm ngắm nắng quái chiều hôm như vậy. Thiên nhiên vẫn luôn là người bạn thấu hiểu và sẽ chia cho những tâm hồn đầy trắc ẩn. 

Nhớ lại mọi chuyện, tôi vẫn chưa hết bồi hồi xúc động. Tôi bất ngờ vì chính ông lại kể cho tôi nghe câu chuyện của mình, câu chuyện mà tôi không chắc là ông sẽ nói ra. Có những điều đôi khi cần được chia sẻ để lòng mình nhẹ nhàng hơn. Và tôi nghĩ đó là lí do vì sao ông lại kể cho tôi chuyện này, một câu chuyện rất riêng tư và tế nhị. Ông vẫn ngồi trước hiên nhà, gương mặt gầy và xanh xao song vẫn giữ được nét anh tú, nhất là đôi mắt của ông vẫn rất sáng và rất đẹp, đôi mắt dễ thu hút người đối diện, dù lúc đó đôi mắt ông như nhìn vào cõi hư vô. Trông ông lúc này, tôi cũng có cảm giác như những đứa con ông. Là ông đấy, nhưng không phải là ông của ngày xưa.

Tháng 8/2016

      P.T.D.T

. . . . .
Loading the player...