Tạp chí Hồng Lĩnh số 123 giới thiệu bạn đọc truyện ngắn "Người đàn bà tật nguyền" của tác giả Tống Phú Sa
Đúng là đêm ấy, gã câm co mình trên chạng ba cây ngô đồng tru lên những hồi dài, thảm thiết!
Gã dạt từ miền trong ra rồi đậu lại trên dải đất hẹp, mấp mô, chập chùng đồi núi. Cái nghèo nơi đây làm tróc vảy thân thể gã, tóp teo hai ống chân sạm cháy. Gã không có nhà. Khi mới tấp về đây, gã ngủ trên những chiếc phản khai nặc mùi thịt sống trong chợ. Nhưng, gã không được yên thân. Đầu tiên là lũ chó. Chó nhà, chó hoang đói trơ xương đứng thủ thế quanh cái thân thể quắt queo, nằm chình ình trên món ăn khoái khẩu của chúng. Dĩ nhiên là gã không biết. Gã điếc. Điếc đặc. Bởi thế nên lũ chó cứ sủa mãi, sủa mãi. Người làng cáu tiết vì giấc ngủ bị phã bĩnh. Người ta lôi gã dậy, đuổi gã ra khỏi khu chợ tồi tàn, hôi hám. Lũ chó lè lè lưỡi đỏ, cụp đuôi, len lén liếm lấy liếm để trên bề mặt những chiếc phản bán thịt lợn to bè.
Gã chọn chạng ba cây ngô đồng, đắp lên đó chiếc bạt rách đề làm nhà. Ban ngày, gã thân thấn ở các hàng quán trong chợ, vét cơm thừa, canh cặn. Gã trở thành chân sai vặt cho tất cả các quán hàng trong chợ cũng như các gia đình trong làng. Gã cười khùng khục, mắt ánh lên tia sáng của biết ơn khi chủ nhà bê một tô cơm với lổn nhổn canh rau và mấy cái đầu cá trích ươn chềnh ềnh trên bát. Gã ăn ngon lành, ngon lành đên nỗi người ta nghi ngờ cả vị giác của mình.
Người làng quen có gã. Khi bực bội, người ta đem gã ra để chửi. Khi vui, gã bị lấy ra chòng ghẹo để cười, cười cho nước mắt nước mũi tuôn ướt đầm cả mặt. Khi có việc nặng nhọc, người ta tìm đến gã. Gia đình nào vô phúc, có con cờ bạc, rượu chè bì tù tội, người ta so sánh với gã. Ơn trời, còn phước chán!
Hai mươi năm về trước, cũng một đêm mưa phùn lây phây, người làng không ngủ được vì tiếng tru của gã trên chạng ba cây ngô đồng. Không ai lý giải nỗi vì sao đêm đó gã lại phấn khích phát ra tiếng hú ghê rợn đó.
*
Người đàn bà ba mươi tám tuổi, lưng gù, chân thọt! Thị đi trong mưa. Khấp khởi, lưng lưng. Cảm giác nhẹ như bâng, như không còn sức nặng của khối u gù trên lưng.
Thị đi đến cuối làng, nơi có khu nghĩa địa với khu đất mòn vẹt. Người ta không đủ sức để đắp thật cao những ngôi nhà của người thân mình. Quanh năm quần quật, chỉ đủ miếng cơm cho đàn con nít sàn sàn tuổi nhau. Đến ngày ba mươi tết, một vẹt đất được đắp lên trên chóp mộ, coi như là đã sửa sang lại. Người đàn bà tội nghiệp đó không biết đâu là mộ của cha mẹ mình. Họ mất tự lâu lắm. Thị chỉ mang máng nhớ rằng xác hộ đã được quấn vào hai manh chiếu nhỏ, chôn cất ở rìa làng này.
Tấm lưng gù lọt thỏm giữa một hố đất nhỏ, chiếc áo bà ba nâu choèn cũ nát bật khuy áo ngực… Người đàn bà tật nguyền lắng nghe âm thanh của gã câm đang tru lên giữa làng! Trong cuộc đời ba mươi tám năm có lẽ, người đàn bà ấy đã nương tựa vào hai ngôi mộ mòn vẹt mà sống. Những khi buồn đau cay đắng đến cùng cực, khi người làng hắt hủi, ghẻ lạnh… thị tủi hổ úp mặt vào hai mô đất, xót thương cho thân phận mình. Duy chỉ có hôm nay, một lần duy nhất trong đời, thị lần ra khu nghĩa địa vì một niềm vui, niềm khao khát bấy lâu của một người sinh ra đã là đàn bà.
Người đàn bà tật nguyền không có tên. Người làng gọi thị là Thọt. Con Thọt. Ả Thọt. Cô Thọt. Chị Thọt. Thọt là tên gọi chính thức của người đàn bà nọ. Thọt xấu xí. Tấm thân mỏng tang như một con mực ép khô, thân hình đổ hẳn về một phía. Và khối u nặng nề ở gần sát bả vai.
Như là tội nợ. Quả là bất công khi ông trời bắt Thọt phải gánh hết lên mình những gì xấu xí nhất. Mà lại là đàn bà. Đàn bà xấu ma chê, quỉ trách!
Người làng xa lánh Thọt. Họ chỉ cần đến Thọt khi việc đồng áng thiếu người phụ giúp. Người mang thai không cho phép Thọt qua nhà. Thọt không được gần trẻ nít vì sợ chúng mê ngủ. Than ôi! Thọt như con chim không có đôi cánh để lượn bay, nhưng vẫn vẹn nguyên con tim khao khát. Người đàn bà ấy khao khát được mặc một chiếc áo cổ trễ, xỏ chân trong đôi dép bốn quai, tóc cặp nơ trắng. Người đàn bà ấy hằng đêm mơ tưởng đến một vuông ngực vững chãi, một hơi thở khét cháy của một gã đàn ông. Và hằng đêm, hằng đêm, Thọt đứng dựa lưng vào vách, ngắm nhìn bóng mình hắt hằn trên khung cửa. Chiếc bóng ma quái ấy cũng vô cùng xấu xí. Nhưng, nó là người bạn duy nhất của người đàn bà đáng thương.
Rồi một một đêm mưa tầm tã, người đàn bà nọ lần ra cuối làng, nơi có chạng ba cây ngô đồng. Rồi đêm đêm, Thọt lại ra đứng đó. Và tự lúc nào, thương nhớ quấn vào tấm thân tật nguyền của Thọt. Gã câm hổn hển, khùng khục đợi chờ người đàn bà nọ. Họ dắt díu, tình tự, ân ái trên khu nghĩa địa cuối làng.

Minh họa: LÊ ANH
Đó là lần thứ nhất, gã câm tru lên hoang dại. Không ai hiểu được vì sao gã như thế ! Chỉ có người đàn bà lưng gù chân thọt cảm thấy xao xuyến trong lòng.
Hai con người khốn khổ được nhấm nháp hương vị của hạnh phúc!
*
Thọt có thai. Chỉ mới đến tháng thứ ba mà Thọt đã không tài nào dấu nỗi. Người làng xăm xói, ruả đến là độc. Người ta vẩu mỏ, đay vào mặt Thọt “ mang vác gì, rồi lại đẻ ra thứ người chẳng ra người, ngợm không thành ngợm!” Thọt cúi đầu. Thọt im lặng. Như kẻ câm, người điếc.
Rồi người làng cũng lờ mờ nhận ra ai đã tạo ra sản phẩm đó ở cái làng nhỏ xíu như bàn tay, lại chỉ rặt đàn bà… Đám đàn bà với dăm bảy đứa con lít nhít, chồng mất khi chưa đến tuổi năm mươi vì làm việc quá sức. Thanh niên ở làng chưa kịp lớn lên, chưa kịp nứt mắt đã vội vã rời làng, tìm đến vùng đất xa xôi nào đó, mong được đổi đời…Thế thì còn ai vào đó nữa ngoài gã câm quanh năm dầm mưa, dầm nắng trên chạng ba cây ngô đồng.
Thời gian trở thành người bàn đồng hành, làm dịu vết thương cho người đàn bà tội nghiệp.Người làng không còn hơi sức để đi theo cái bụng chửa vượt mặt của Thọt. Chỉ có điều, trong ngôi làng ấy, Thọt trở nên cô độc, cô độc đến khốn cùng. Không một ai trong cái làng đó xem Thọt là người. Họ cho rằng Thọt và đứa con trong bụng là điềm gỡ cho cả làng. Năm ấy trời hạn hán, đồng bãi nứt toác, lúa đứng trơ gốc…Rồi đến mùa mưa, mưa xối xả, nước đục ngầu, chảy xiết. Người đàn bà bất hạnh bỏ làng lên nghĩa địa, dựng lều chờ ngày sinh nở.
Và, từ cái đêm mưa dầm xa xôi nọ, gã câm lầm lũi trên con dốc trước cổng chợ. Người làng cho rằng, gã không quên được và luôn khấp khởi chờ đợi cái giây phút của ngày xưa. Đêm nay, hai mươi năm kể từ ngày đó, người làng lại kinh hoàng khi nghe tiếng tru của gã trên chạng ba cây ngô đồng
*
Mới bảnh mặt ngươi, bà chủ phở tái giữa chợ với bộ dạng hớt hải, líu ríu, đôi chân ngắn tủn chạy khắp làng, thông báo tin tức cực nóng hổi, cực giật gân:
- Cái Vả nó về, về thật rồi! Mà sang trọng lắm bà con ơi!
Hai chữ sang trọng buột ra từ miệng của người đàn bà giàu có nhất làng, lại được nhấn nhá, luyến láy nên có sức nặng ngàn cân. Người làng mắt tròn, mắt dẹt, tụm năm tụm bảy, bàn tán không ngớt về cái tin sốt dẻo kia.
Ối cha mẹ ơi, cái Vả nó về làng thật! Mà sang trọng thì không ai bằng. Vả ngồi sau tay lái của chiếc xe hơi mui trần, màu sắc nổi bật và bóng loáng. Cặp kính màu nâu trên gương mặt trắng nõn và vô ngần xinh đẹp. Không còn vẽ đẹp hoang dã của cái Vả con người đàn bà tật nguyền khốn khổ dưới chân nghĩa địa. Giờ, vẽ đẹp toát lên sự quyền uy và quý phái!
Thế hệ những người già cả, đã kinh qua những ngày đói khổ, tủi cực của cả làng chống gậy nhìn theo cái xe bóng loáng. Như là nước. Nước của cơn mưa trắng đất, trắng trời của hai mươi năm về trước.
Thọt trở dạ. Người đàn bà tật nguyền ôm cái bụng chửa vượt mặt, lăn lộn giữa dòng nước mưa ngầu đục. Nước chảy như xiết từ trên nghĩa địa, cuốn theo những dây những chạc, chân hòm ván mục tràn qua thân hình quằn quại. Mưa lớn bất ngờ làm cho Thọt không lê nỗi đôi chân của mình. Người đàn bà tật nguyền nằm ngửa, cái bụng to đùng như chảo mật. Tóc Thọt bết lại thành một đống bùng nhùng, mắt trắng dại. Máu từng dòng đỏ lịm rồi nhanh chóng hoà tan trong dòng chảy bẩn thỉu đổ xuống chân rú. Thọt cào cấu, gào khóc. Nhưng, mọi âm thanh nhanh chóng bị nhấn chìm bởi cơn mưa quái ác.
Người đàn bà bất hạnh sinh con trong một đêm mưa gió kinh hoàng!
Và đêm ấy, trên chạng ba cây ngô đồng, gã câm lại tru lên những hồi thống thiết.
*
Đứa trẻ bất hạnh được sinh ra từ người đàn bà tật nguyền bất hạnh lớn lên lầm lũi, tủi cực trong túp lều rách nát dưới chân mỏm núi của nghĩa địa cuối làng. Vả lớn lên bằng lá sắn muối, củ sắn hấp, vỏ sắn nấu canh. Cây sắn lớn lên từ những hốc đất người ta vừa sang tiểu cho người đã khuất. Tục ở làng Vạn được truyền nhau từ đời này qua đời khác, đó là thà chết chứ không được chôn cất người chết trên những phần đất đã có người khác “nằm”. Nhờ vậy, không cần cày xới, Thọt cũng có thể trồng lên đó những khóm sắn tốt tươi. Hai mẹ con người đàn bà ấy ít khi rời khỏi chân nghĩa địa. Chỉ tội cho con bé, câm lặng và ủ dột trong thế giới chết chóc.
Nhưng, kỳ lạ thay, Vả lớn lên phổng phao, mỡ màng. Năm mười ba tuổi,Vả đẹp mê hồn. Người đàn bà tật nguyền lo lắng, sợ hãi đến mất ăn mất ngủ vì vẻ đẹp của con gái. Suốt ngày Thọt phơi nắng dưới chân rú, nhưng làn da cứ bật lên tươi tắn, rạng ngời.
Vả càng lớn càng đẹp. Vẻ đẹp hoang dã làm người ta say đắm. Vả mười bốn, rồi mười lăm…Trai làng chỉ dám lén mắt nhìn. Họ thầm ao ước được miết đôi môi của mình lên vùng má phơn phớt lông tơ! Và đêm đêm, trong giấc mơ của tất cả đàn ông làng Vạn đều vận chặt vào mình đôi mắt u uẩn của con gái Thọt. Họ mê đắm Vả nhưng không bất kỳ ai, bất kỳ gã trai nào có ý nghĩ sẽ lấy Vả làm vợ.
Mẹ con người đàn bà tật nguyền sống quẩn quanh túp lều dưới chân nghĩa địa. Hai mẹ con găm xuống hố đất tơi rã mà người ta mới thay áo mới cho người quá cố bằng những hom sắn dài hai gang tay. Lá lên non xanh mởn gần bằng đầu người thì được vặt về, nhồi muối ăn với củ sắn luộc. Năm tháng cứ thế qua đi, nắng mưa dãi dầu làm người đàn bà lưng gù chân thọt quắt queo như một con mắm lép. Duy chỉ có khối u trên vai thì ngày càng phình ra, lủng lẳng như một chùm dừa sáp.
Nhưng, không ai có thể ngờ rằng đứa bé ấy bám rễ lớn lên, xinh đẹp như tiên sa. Trong đôi mắt u uẩn, một ngọn lửa rừng rực đang ngày được thắp lên. Người đàn bà tật nguyền nhìn thấu tận tâm can con gái. Vì vậy, bà nơm nớp lo!
Một đêm mùa đông ướt át, Vả bỏ nhà ra đi. Trai làng ngơ ngẩn khi không nhìn thấy Vả quần xắn ngang bẹn, lầm lũi dưới dốc nghĩa địa. Bẵng đi một thời gian, người ta bắn tin cái Vả đã sang tận bên Mĩ, giàu có vô cùng. Rồi, lại có tin Vả bị đám ma cô đánh, thân tàn ma dại khi đang hành nghề ở Sài Gòn.
Câu chuyện rồi cũng rơi vào quên lãng. Duy chỉ có người đàn bà tật nguyền dưới chân nghĩa địa ngày một héo khô đi vì mong nhớ. Trong nỗi cô đơn cùng cực, người đàn bà ấy lại mơ tưởng đến mùi đàn ông khét cháy đã nằm sâu trong tầng ký ức xa xôi của cuộc đời mình. Chân bà giờ đi không vững. Bao nhiêu hơi hám của một vùng nghĩa địa tháng dăm ba lần có người chết được chôn tụ về đôi chân bên ngắn bên dài của Thọt.
Ấy thế mà, đôi chân ấy đã vượt qua quãng đường lầy lội gần hai km để nhìn mặt người đàn ông đã ăn nằm với mình lần cuối. Gã câm chết. Giữa tháng tư, cơn lũ quét qua làng, nhanh và to khủng khiếp. Gã câm không kịp rời chạng ba cây ngô đồng. Gã nằm giữa mưa, đói rét ba ngày, ba đêm. Thân thẻ to bè cùng mái tóc lốm đốm bạc vắt ngang thân cây. Người ta buộc dây tìm cách đưa gã xuống. Một chiếc áo quan không phẩm màu được đóng vội vàng để vừa với thân hình quá cỡ của gã. Bà Thọt trân trối nhìn vào khuôn mặt bình lặng của gã câm, đôi mắt trắng đùng đục chắt ra hai giọt nước.
Ngày hôm sau, bà Thọt cũng đột ngột ra đi. Hai ngôi mộ được đặt song song lưng chừng khu nghĩa địa. Khi hạ huyệt, trời hưng hửng sáng. Sau cơn lũ, làng xóm trông thật thảm hại. Những ngôi nhà trong làng sùm sụp như gà mái xể cánh. Mùa mưa năm đó, làng Vạn như có ma ám. Người làng không buồn cả kéo rèm cửa. Mưa cứ rả rích như thế cho đến hết tuần.
*
Cái Vả về làng thật. Trẻ con đổ ra đường xem chiếc xe mui trần bóng loáng. Người làng xúm xít. Họ lén mắt nhìn cô gái sắc nét, sang trọng rồi xì xầm bàn tán. Chiếc xe lướt nhẹ như không, phanh kít dưới chân khu nghĩa địa. Vả thuê người xây hai ngôi mộ lớn, lừng lững. Hai ngôi mộ được ốp bằng đá trắng bên cạnh những ngôi mộ thấp lè tè được úp vội vàng một tảng đất mới.
Ba ngày sau, Vả rời làng. Chiếc xe quất bụi, rũ áo ra đi trong đêm. Người làng nhìn thấy hai bóng người, một cao lớn, một thấp gù đứng nhìn hút theo!
Và, đúng là đêm ấy, người làng lại nghe thấy tiếng tru thảm thiết của gã câm trên chạng ba cây ngô đồng !
Đầu năm học 2016
T.P.S