Tạp chí Hồng Lĩnh số tết Đinh Dậu 2017 giới thiệu truyện ngắn "Trần ai" của tác giả Trần Hải Vân
Đêm dần về sáng, gà đang gáy cồn lên từng hồi xao xác. Vậy mà hai mắt nàng cứ mở trân trân. Ba đêm rồi nàng không chợp mắt được, cũng không sao cất nổi mình mà dậy nữa. Hoàng cung vắng không, sương gieo lãng đãng cô tịch. Người đã đi rồi. Người không còn nữa. Khúc Ai tư vãn nàng viết khóc Người khi vừa tàn trăng bóng xế hãy còn chưa ráo mực.
Nàng lá ngọc cành vàng, là công chúa thứ chín của vua Lê Hiển Tông. Nàng tài sắc hơn người, mười sáu tuổi đã tinh thông kinh sử, giỏi thơ phú, cầm kỳ thi họa khó ai sánh bằng. Mười sáu tuổi nàng như đóa hoa lê mùa xuân, tâm hồn trắng trong tựa ngọc. Giữa cơn tao loạn của thời cuộc, Chúa Trịnh lộng quyền, dân tình thống khổ, lòng người tản mát, cha nàng buồn u uất. Cơ nghiệp nhà Lê đã không còn, ngồi trên ngai vàng mà Người không có trong tay chút quyền bính gì. Khi chúa Trịnh Sâm vu oan rồi giết chết anh trai cả của nàng là Thái tử Lê Duy Vỹ mà cha nàng cũng đành bất lực để người ta lôi con trai mình ra trước cửa hoàng cung mà giết chết. Nàng thấy cha nàng khóc, khóc trên ngai vàng mà Người đã ngự ở đấy không biết đã bao năm. Mười sáu tuổi nàng biết hoàng cung hoa lệ nhưng đầy máu và nước mắt, còn vua cha của nàng sống mà như đã chết. Mối thù với Chúa Trịnh, người ôm chặt trong lòng chứ không hé lộ với ai.
Rồi nàng nghe ở Nam Hà thế nhà Tây Sơn đang lên như vũ bão khiến Chúa Trịnh ngoài Bắc, Chúa Nguyễn trong Nam đều e sợ. Rồi nàng nghe Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang kéo quân ra Thăng Long diệt Trịnh phò Lê. Cha nàng khấp khởi vừa mừng vừa lo. Liệu cơ nghiệp tổ tiên có về lại trong tay Người hay nhân lúc đang thắng thế mà Bắc Bình Vương chiếm luôn Thăng Long thì cha nàng cũng đành nhắm mắt cam chịu. Nhưng Nguyễn Huệ quả là người anh hùng như lời đồn của thiên hạ. Đại quân Tây Sơn đánh như gió cuốn ra bắc, trong phút chốc lật đổ cơ đồ hơn hai trăm năm của họ Trịnh, trả lại giang sơn cho vua Lê khiến cha nàng cảm kích vô cùng. Nhà vua mời Người ngồi ở sập bên giường ngự mà ân cần hỏi han. Người thưa với cha nàng: “ Tôi vốn là kẻ áo vải ở Tây Sơn, nhân thời thế mà nổi dậy. Bệ hạ tuy không cho cơm ăn áo mặc, nhưng tôi ở cõi xa bấy lâu vẫn kính mến Thánh đức. Bữa nay được nhìn thấy mặt trời, đủ thõa được tấm lòng khao khát. Họ Trịnh vô đạo, hiếp đáp hoàng gia, nên trời mượn tay tôi một trận phá ngay được, ấy là nhờ ở oai đức của bệ hạ.” Cha nàng ôn tồn đáp: “Ấy là võ công của tướng quân cả, chứ quả nhân nào có tài đức gì”. Người lại khiêm tốn thưa: “ Tôi chỉ tôn phò, đâu dám kể tới công lợi. Việc ngày nay đã xảy ra như thế thật bởi lòng trời xui nên hết thảy… Thế là trời có ý xui bệ hạ chấn kỷ cương khiến cho trong ấm ngoài êm, tôi đây cũng được nhờ.” Nghe những lời ấy của Người, cha nàng vô cùng ngưỡng phục. Nhưng nhà vua chẳng biết lấy gì trả ơn cho xứng với công lênh của người anh hùng đành phong cho Người làm Nguyễn Súy Dực chính phù vận Uy Quốc công, một chức tước hữu danh vô thực, chẳng lợi lộc được gì thêm cho người được phong. Cha nàng biết vậy, cả triều đình cũng biết vậy nhưng Bắc Bình Vương thì phật ý bất bình. Cũng may có Nguyễn Hữu Chỉnh đã từng là bề tôi của nhà Lê giờ đã theoTây Sơn, lại là kẻ đa mưu túc trí, rất biết lấy lòng bề trên. Thấy Người không vui, sợ có gì ảnh hưởng đến mối giao hảo giữa vua Lê và chúa Tây Sơn không có lợi cho Chỉnh sau này nên mới nói thác ra rằng: “Nhà vua đơn bạc không có gì đáng để tặng. Cái tước danh nhỏ mọn, không làm ngài sang thêm. Bản ý hoàng thượng vẫn cho rằng mình đã cao tuổi, sau khi ngài về Nam, không biết nương tựa vào ai, nên ngài muốn nối tình thân hai họ, để cho hai nước đời đời kết tình thông gia, giao hảo. Nhưng vì chưa hiểu ý ngài thế nào nên hoàng thượng vẫn còn trù trừ chưa dám nói rõ…” Thật ra Chỉnh chỉ nói vậy để lấy lòng chủ soái, nhưng không ngờ lại hợp ý Người mà vua Lê Hiển Tông cha nàng cũng thấy thuận lòng. Cái duyên trời định cứ thế mà buộc vào đời nàng từ lúc đó.
Hôm Người diện kiến vua Lê, nàng lén nhìn qua bức trướng rũ thấy một người tướng mạo phi phàm, dáng như hổ chầu voi phục, tiếng nói vang như chuông. Hốt nhiên, nàng thấy tim mình đập mạnh, quả như lời đồn của thiên hạ, người như thế nàng chưa thấy bao giờ. Chị em nàng còn năm sáu nàng công chúa chưa chồng, ai cũng mong một mối duyên đẹp với người trong hoàng tộc. Hoàng thượng yêu quý nhất nàng, ngày thường vẫn nói sau này phải gả nàng làm vương phi, không nên gả cho hạng phò mã tầm thường. Nghe lời Chỉnh nói, cha nàng trong bụng đã ưng, liền nghĩ ngay đến nàng: “Con gái chưa chồng của trẫm còn nhiều, nhưng chỉ mình Ngọc Hân là có chút nhan sắc. Tuy vậy, thói thường yêu con vẫn hay thiên lệch, chưa biết ở mắt người ngoài thì sao. Ngươi hãy ở đây để Trẫm đòi cả ra cho mà coi qua, rồi tùy ngươi lựa xem người nào xứng đáng thì giúp cho thành việc đi.” Thế là cha nàng gọi hết con gái của mình ra cho Người trông mặt, ai nấy đều thẹn thùng bẽn lẽn, nàng gần như nín thở ngượng ngùng không dám nhìn lên. Giữa đám công chúa cành vàng lá ngọc mà nàng nổi bật, đẹp mỹ miều tựa bông lê bông mận mới nở, Người mới nhìn qua thôi đã thấy ưng lắm rồi. Chỉnh nói với Người rằng: “Hiện hoàng thượng có nàng công chúa thứ chín, tuổi vừa đôi tám, xin cho nương bóng nhà sau, hầu hạ khăn lược, để cho hai nước thành thông gia, đời đời hòa hiếu với nhau”. Lúc ấy nàng cũng biết Người đã có chính thất họ Phạm ở miền trong, lại rất đỗi yêu kính người ấy, còn nàng thì chỉ mới mười sáu tuổi, từ bé đến giờ chỉ quẩn quanh trong cung cấm, nhưng vì cha nàng đã bao phen nhẫn nhục, vì sự tồn vong của nhà Lê nàng cũng ưng thuận.
Trong hoàng cung ảm đạm của vua Lê đã lâu lắm rồi mới có một lễ cưới linh đình đến vậy. Người đã cử hành một nghi lễ rước dâu vô cùng long trọng để rước nàng về Nam. Người cho quân lính đứng xếp hàng hai bên từ cung điện đến tận cửa phủ riêng của mình bên bờ sông Nhị. Chú rể ngồi kiệu rồng vàng ra đón, cô dâu lộng lẫy áo xiêm, rèm the buông rủ mà vẫn thấp thoáng đôi mắt long lanh, đôi môi thắm, hai má ửng hồng. Tiệc rượu linh đình được tổ chức thâu đêm chiêu đãi hoàng tộc và các quan văn võ trong triều. Hôm ấy, trai gái trong kinh thành hay tin rủ nhau đi xem đám cưới của nàng đông như ngày hội. Suốt đường đi và hai bên bờ sông Nhị cờ phướn bay rợp trời, kèn trống tưng bừng rộn rã. Lúc phu thê giao bái đã xong, Người vén tấm rèm the màu đỏ nhìn đắm đuối gương mặt e lệ của nàng. Rồi bất chợt Người hỏi: “Con trai con gái nhà vua, đã có mấy người được vẻ vang như nàng?”. Nàng im lặng một lúc rồi khiêm nhường đáp “ Nhà vua ít lộc, các con trai con gái ai cũng thanh bạch nghèo khó. Chỉ riêng thiếp có duyên, lấy được lệnh công, ví như hạt mưa, bụi ngọc bay ở giữa trời được sa vào chốn lâu đài như thế này, là sự may mắn của thiếp mà thôi”. Người nghe nàng nói thế trong lòng đã ưng lắm.
Thế rồi nàng theo Người về kinh thành Phú Xuân sống những ngày tháng êm đềm. Người phong cho nàng làm Hữu cung Hoàng hậu, bên kia là Tả cung Hoàng hậu Phạm Thị Liên hiền hòa lặng lẽ. Là con gái Bắc Hà, về Phú Xuân nàng chưa quen lắm với tiết trời nơi đây cứ hay mưa dầm sùi sụt. Những ngày mưa dài lê thê hay xui nàng buồn nhớ quê hương, nhớ mùa thu Bắc Hà hanh hao vàng nắng, nhớ cái lạnh đầu đông se sắt khiến chị em nàng ngồi thêu bên khung cửa phải vội vàng choàng thêm chiếc khăn mỏng, nhớ những ngày xuân nàng lặng lẽ bên hiên vắng dơ tay hứng những cánh đào phai bay nhè nhẹ lẫn trong những hạt mưa ấm. Ngồi trong cung những khi chỉ có một mình nàng lại làm thơ hay mang đàn ra gãy những khúc não nùng. Biết nàng còn nặng lòng với Bắc Hà, Người hay ở bên nàng nghe nàng ngâm thơ đánh đàn. Người là đấng anh hùng dạn dày trận mạc nhưng lại dễ mủi lòng trước mong manh nhi nữ. Người nâng niu nàng như nâng niu một đóa trà mi, một nhành liễu yếu. Biết nàng là người khuê các, giỏi văn thơ, am tường chữ nghĩa kinh sách nên Người phong cho nàng làm Nữ học sỹ, giao cho nàng việc dạy bảo nghi lễ cho các tỳ nữ trong cung. Nàng thông minh lại khéo léo cư xử nên chẳng có việc lớn bé triều chính nào mà Người không hỏi nàng, chờ mong ý kiến của nàng mới quyết định. Với Người, nàng là thê nữ mà cũng là hồng nhan tri kỷ. Ngày trước, quả tình Người lấy nàng vì một chút toan tính chính trị. Khi Người vừa chinh chiến ra Bắc, sỹ phu Bắc Hà nhiều người tài giỏi còn dè dặt chưa muốn quy phục Người. Mối lương duyên này với công chúa nhà Lê sẽ giúp Người có được vị thế vững vàng trên đất Bắc mà lòng dân không oán trách. Nhưng từ giây phút gặp nàng, nhan sắc như hoa như ngọc của nàng, vẻ mong manh dịu dàng của nàng làm trái tim mãnh tướng của Người tan chảy. Người bắt gặp trong đôi mắt đen thăm thẳm của nàng ánh tinh anh, cái khí chất mạnh mẽ mà không phải bậc nhi nữ thường tình nào cũng có được. Thế nên Người trân quý nàng, xem nàng như viên ngọc quý của hoàng cung.
Một ngày kia kinh thành Phú Xuân bỗng náo loạn. Triều đình hay tin vua Lê Chiêu Thống đã dẫn đội quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm đóng kinh thành Thăng Long. Nghe tin dữ, nàng lặng đi hồi lâu. Đúng là ngày trước nàng đã không nhầm khi can gián triều đình không nên giao ngôi báu cho Lê Duy Kỳ. Khi vua Lê Hiển Tông cha nàng qua đời, Người có căn dặn việc truyền ngôi báu cho hoàng tôn Lê Duy Kỳ. Triều đình thực hiện di nguyện của Người, chỉ mình nàng là không ưng thuận vì đã từ lâu nàng đã thấy được bản chất hèn nhược của hắn. Nhưng một mình nàng không chống lại được triều đình đành chấp nhận để Lê Duy Kỳ nối ngôi nhà Lê. Kỳ lên làm vua lấy niên hiệu Lê Chiêu Thống. Khi Nguyễn Huệ đưa quân trở về Phú Xuân thì tàn dư của họ Trịnh lại nổi dậy đòi lại cơ nghiệp đã mất. Lê Chiêu Thống không chống đỡ nổi đành cầu cứu quân của Nguyễn Hữu Chỉnh hiện đang trấn ở Nghệ An. Chỉnh nhận thấy thời vận của mình đã đến bèn kéo quân ra Bắc và trong một thời gian ngắn đã dẹp tan đám tàn dư họ Trịnh. Từ đấy Lê Chiêu Thống dựa hẳn vào thế lực của Chỉnh. Biết vậy, Chỉnh bắt đầu lộng quyền lấn át cả nhà vua. Một lần nữa Người đang ở Phú Xuân đã lệnh cho Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc Hà để diệt trừ Chỉnh. Quân đội của Chỉnh bị Nhậm đánh cho tan tác. Vua Lê Chiêu Thống đành bỏ ngôi báu theo Chỉnh chạy trốn. Nửa chừng Chỉnh bị bắt giết còn Lê Chiêu Thống thì trốn sang đất Mãn Thanh. Ở đấy Chiêu Thống đã quỳ gối chịu nhục cầu xin nhà Thanh cho quân tiếp viện về tiêu diệt Tây Sơn dành lại ngôi báu cho nhà Lê. Ngay lập tức vua nhà Thanh đã lệnh cho Tôn Sỹ Nghị đem hai mươi vạn quân tinh nhuệ rầm rộ tiến vào Đại Việt.
Từ lâu rồi nàng đã biết dã tâm của người phương Bắc luôn muốn chiếm nước Việt của nàng mà đây là cơ hội ngàn vàng cho họ. Quân Thanh vào Thăng Long như vào chốn không người vì quân Tây Sơn do Đại tư mã Lê Văn Sở chỉ huy đã rút lui về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn chờ lệnh. Kinh Thành ở Bắc Hà rơi vào tay giặc, vận nước cũng nguy cấp lắm rồi. Ở Phú Xuân, Người họp bàn binh sỹ, chuẩn bị xuất quân tiến ra Bắc Hà. Nàng lo lắng suốt đêm không ngủ được, mỗi lần chợp mắt lại nghe tiếng trống dục, tiếng quân thúc, tiếng ngựa hí, tiếng hò reo dậy trời, tiếng binh khí va vào nhau chát chúa dưới bóng trăng thâu. Nàng chỉ ước mong chừng nào không còn chiến chinh trận mạc Người sẽ về bên nàng cùng nhau hưởng những ngày thái bình nhất.. Bây giờ đã bắt đầu tiết xuân. Ở quê nhà Bắc Hà của nàng giờ này chắc đã thắm sắc hoa đào hoa mận rồi.

Minh họa: PHÚ NAM
Lần này Người ra Bắc Hà với tư cách là Quang Trung hoàng đế. Đêm trước ngày xuất binh, Người lập đàn tế trời đất và lên ngôi Hoàng đế tại Phú Xuân. Khi trời vừa mờ sáng, gà đang gáy thúc từng hồi thì Người đã dẫn quân lên đường. Nàng run run khoác lại chiếc áo bào cho Người, mắt nàng đẫm lệ. Người cưỡi tuấn mã, giáp sắt oai phong dẫn đầu đoàn quân hàng nghìn binh mã, hàng trăm thớt voi. Phía sau quân lính nối cả hàng dài bước đi rầm rập, cờ phướn lộng trời, bụi tung mù mịt theo vó ngựa phi. Người đi rồi, nàng lặng lẽ quay về, khép cửa khuê phòng ôm cây nguyệt cầm nỉ non một mình. Đó là những ngày dài nhất trong cuộc đời của nàng.
Chưa đến một tuần trăng mà tin thắng trận từ Đống Đa - Ngọc Hồi đã bay về nhanh hơn cả vó ngựa. Hai mươi vạn quân Thanh tinh nhuệ đã bị quân đội Tây Sơn của Người đánh bại trên đất Đại Việt. Kinh thành Thăng Long đã sạch bóng quân thù. Ở Phú Xuân, nàng ngóng tin Người từng giờ, vui muốn khóc. Dân chúng khắp kinh thành đổ ra đường hân hoan chào đón đoàn quân thắng trận trở về. Người áo bào đỏ thắm bước đi giữa tiếng hò reo vang trời dậy đất. Nàng dắt hai con nhỏ ra đón ở cổng hoàng cung, môi nàng cười mà mắt thì rớm lệ. Trên tay Người là cành đào xứ Bắc vượt bao nhiêu ngàn trùng mà vẫn bung nở những bông hoa tươi thắm. Cành hoa ấy Người đã cất công mang về để tặng cho nàng. Nàng rưng rưng đón lấy từng cánh hoa đào mà ngỡ như thể có một mùa xuân Bắc Hà vừa mới về đây.
Năm ấy, dân chúng trong kinh thành đón một cái Tết thật từng bừng.
Nhưng chiến thắng không làm Người thôi lo nghĩ, thôi dự tính về thời cuộc. Người nói với binh sỹ: “ Nước Thanh lớn hơn nước ta gấp mười lần, Thanh bị thua tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa kéo dài mãi, thật không phải là phúc trăm họ, lòng ta không nỡ. Nên chi, sau khi thắng, ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lửa binh tranh”. Để giữ tình bang giao giữa hai nước, Người sai sứ thần nhiều lần gửi thư cho vua Càn Long nhà Thanh ngỏ ý được sánh duyên cùng một nàng công chúa phương Bắc và mượn đất đóng đô. Trong một cuộc bệ kiến của sứ thần Vũ Văn Dũng ở Ỷ Lương các, mong muốn ấy của Người đã được vua Thanh chấp thuận. Hôm ấy trong vườn ngự uyển hoa lá đang xôn xao đua nở, con chim họa mi nhí nhảnh hót líu lo, Người ngồi bên nàng hân hoan báo tin vui vua Càn Long đang chuẩn bị cho nàng công chúa khuê các sang đẹp duyên cùng hoàng đế nước Nam, đất Quảng Tây được hứa sẽ nhường cho Hoàng đế phò mã đóng đô để cho gần “Thánh Giáo”. Vậy là con đường ngoại giao của Người với nhà Thanh đã bắt đâu thuận buồm xuôi gió rồi. Nàng nghe chuyện liền đứng dậy rót rượu chúc phúc cho Người, nàng cười tươi nhưng trong lòng thì buồn lắm. Người bây giờ đã là Hoàng đế nước Nam, vợ Bắc Hà, Nam Hà, hoàng hậu, nguyên phi, thứ phi Người đều có cả nhưng nàng chưa bao giờ thấy bận lòng, vì nàng biết Người yêu nhất mình nàng, không ai thay thế được vị trí của nàng trong lòng Người được cả. Nhưng lần này thì Người lại sắp sánh duyên cùng công chúa Mãn Thanh rồi, dù gì cũng phải nâng niu người ấy hơn nàng còn vì tình bang giao giữa hai nước. Sau khi làm phò mã nhà Thanh, Người sẽ đóng đô ở Quảng Tây, Người sẽ xa nàng, sẽ không còn thuộc về nàng nữa… Ôi chỉ mới nghĩ đến chừng đó thôi mà nàng đã chạnh lòng muốn khóc, nhưng nàng lại không muốn Người thấy nàng buồn. Lúc này Người đang hoan hỉ thế kia mà, không lẽ vì chút ghen tuông nhỏ mọn đàn bà mà làm hỏng việc lớn của Người. Người uống cạn chén rượi nàng vừa rót rồi lại nói muốn nghe nàng đánh đàn. Mắt Người sáng bừng cứ như thể Người chưa bao giờ vui đến thế. Nàng đành ôm cây nguyệt cầm gãy một khúc hoan ca tặng Người.
Đêm qua, nàng đã mơ một giấc mơ hãi hùng. Nàng thấy mình lạc giữa một sa trận hoang vu, khói sương ảm đạm lạnh lẽo rợn người. Quanh nàng không có ai, chỉ thấy bóng bầy quạ đen nghe tiếng chân người bay dạt vào góc tối rình rập. Nàng sợ hãi chạy mãi mà chỉ thấy chung quanh toàn giáo gươm ngổn ngang, xác tử sỹ chất thành cồn đống, máu chảy thành sông, thành suối. Tỉnh dậy nàng thấy mồ hôi đẫm áo, nước mắt vương trên gối còn chưa khô. Ngoài kia, trời vừa chớm đông, một cơn gió lạnh ngoài song cửa lùa vào làm nàng chợt gai người. Nỗi sợ hãi từ giấc mơ đêm qua vẫn còn nguyên. Hốt nhiên, nàng thấy có chút dự cảm chẳng lành.
Sáng nay, khi đang ngồi yết triều cùng ba quân văn võ bỗng nhiên Người thấy xây xẩm mặt mày, trời đất tăm tối rồi đột ngột bất tỉnh trên ngai vàng. Cả hoàng cung náo loạn, ba quân văn võ xúm lại dìu Người lên giường ngự. Thái y bắt mạch lo lắng.
Ba ngày qua đi là ba ngày nặng trĩu muộn phiền với nàng. Bệnh của Người càng lúc càng nặng, đến thái y giỏi nhất hoàng cung cũng đành bất lực. Rồi một chiều trời đông xám xịt, Người lặng lẽ băng hà. Khắp hoàng cung nhuốm một màu khăn trắng.
Thế là những dự định lớn lao của Ngừời đành bỏ lại. Nàng khóc không còn nước mắt, mình gầy vàng võ. Nửa đêm tỉnh dậy khăn trắng vật vờ, nhìn bóng trăng suông treo ngoài song cửa, nàng ước sao tất cả chỉ là một giấc mộng mà thôi.
Người qua đời, việc triều chính ngổn ngang, Thái tử Quang Toản lên ngôi còn non dại, chưa cáng đáng nổi việc nước. Không còn chủ soái, triều Tây Sơn cứ thế mà suy yếu dần. Ở trong Nam, thế lực của Chúa Nguyễn đang mạnh dần lên. Nguyễn Ánh nhân lúc nhà Tây Sơn huynh đệ tương tàn, vua Quang Trung vừa mới qua đời, hoàng cung rối loạn, liền chuẩn bị quân đánh chiếm kinh thành Phú Xuân.
Vào một đêm mưa gió, nàng đem hai con nhỏ trốn khỏi Hoàng cung. Vừa ra khỏi cổng thành, giông tố đã nổi lên mờ mịt. Nàng biết giờ đây kiếp trần ai của nàng đã hết, giấc mộng hồng trần của nàng đã tan như một áng phù vân. Sau đêm giông bão ấy không ai biết nàng đã về đâu, đã nương nhờ cửa Phật hay lưu lạc chốn nào. Năm ấy nàng vừa tròn 29 tuổi.
T.H.V