Văn nghệ Hà Tĩnh trân trọng giới thiệu bài viết “Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa xã Thạch Khê trong bối cảnh hiện nay” của tác giả Minh Đức
Xã Thạch Khê, tỉnh Hà Tĩnh được thành lập theo Nghị quyết số 1665/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV trên cơ sở sáp nhập ba xã Đỉnh Bàn, Thạch Khê và Thạch Hải, thành phố Hà Tĩnh (cũ).
Sau sáp nhập, xã Thạch Khê có diện tích 46,32 km², dân số 17.528 người. Toàn xã hiện có 32 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng, trong đó có hai di tích Quốc gia là Đền thờ Chiêu Trưng Lê Khôi và Đền thờ, Lăng mộ Tiến sĩ Trương Quốc Dụng; 27 di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh, cùng với đó là những di sản văn hóa phi vật thể như Dân ca, Ví Giặm Nghệ Tĩnh, hò Thạch Khê, nhiều lễ hội dân gian giàu bản sắc văn hóa địa phương.
Về hệ thống di tích lịch sử, trên địa bàn nhiều xã có nhiều di tích được xây dựng cách đây hàng trăm năm, mỗi di tích là một thực thể sống động, phản ánh đời sống văn hóa vô cùng phong phú của người dân nơi đây.
Đền Chiêu Trưng thờ vị tướng Lê Khôi, ông người làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa, là con anh thứ hai của Lê Lợi. Lê Khôi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu và lập được rất nhiều công lao. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, Lê Khôi được ban chức Kì Lân hổ vệ tướng quân, hàm Nhập nội thiếu úy; năm 1437 được phong Nhập nội Tư mã, Tham trị chính sự, kiểm quản Tây Đạo; năm 1440 thăng Nhập nội Đô đốc; đến năm 1443 làm Nhập nội Thiếu úy, trấn thủ Nghệ An. Năm Thái Hòa thứ 4 (1446) Đô đốc Lê Khả đem đại binh đi đánh phương Nam, ông được lệnh đem binh trấn Nghệ An đi trước. Ông dẫn quân đi đến đâu giặc tan vỡ đến đấy, bắt được Chúa giặc là Bí Cai, rồi rửa giáp thu quân về. Trên đường về thì ông lâm bệnh nặng rồi mất ở chân núi Long Ngâm, thuộc cửa biển Nam Giới, xã Dương Luật xưa, nay là xã Thạch Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
Sau khi an táng ông, nhân dân lập miếu ngay nơi ông mất để thờ, triều đình truy tặng Nhập nội kiêm hiệu Tư không bình chương sự, đổi tên thụy là Vũ Mục Công. Năm Hồng Đức thứ 18 (1487), gia phong Chiêu Trưng Đại Vương. Đền Chiêu Trưng Lê Khôi được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1990. Lễ hội đề Chiêu Trưng cũng đã được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017.
Hiện nay, Chiêu Trưng Lê Khôi là một trong những di tích có giá trị nghệ thuật cao ở Nghệ - Tĩnh. Với hình thức tiền miếu hậu lăng, lưng tựa vào núi, mặt hướng ra biển, vật liệu xây dựng kết hợp giữa vôi vữa, gỗ, gạch... tạo cho đền Chiều Trưng Lê Khôi một chỉnh thể kiến trúc rất độc đáo... Đặc biệt, riêng ở tòa trung điện, nội thất từ xà, hạ, khấu đầu đều được chạm lộng với trình độ vô cùng tinh xảo, mỗi mạng chạm là một tác phẩm nghệ thuật hiếm có, nhiều đề tài về văn hóa, sinh hoạt dân gian... được thể hiện vô cùng sống động trên các cấu kiện gỗ. Trải qua hàng trăm năm nhưng đến nay các mảng chạm, các mảng đắp vẽ ở đền Chiêu Trưng Lê Khôi vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.


Đền Lê Khôi
Cùng với đền Chiêu Trưng Lê Khôi là các di tích như đền Voi Quỳ, đền Đức Thánh Tam Lang, đền Đại Hải, chùa Thanh Quang, chùa Quỳnh Viên, chùa Phúc Linh (chùa Tran)... cũng đều rất có giá trị về mặt khoa học, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc...
Nằm nép mình giữa một không gian yên tĩnh, trong lành với những rặng cây cổ thụ bao bọc, sau lưng là ngọn núi Nam Giới che chắn, trước mặt là Biển Đông ngày đêm sóng vỗ rì rào, chùa Thanh Quang từ lâu đã được nhân dân trong vùng chăm chút, giữ gìn cẩn thận, thường xuyên lui tới, trở thành chốn tu thiền của nhiều phật tử khắp nơi trong cả nước.
Tại chùa Thanh Quang hiện có một quả chuông được đúc vào năm Quý Sửu (1793), dưới thời vua Cảnh Thịnh, do Tri phủ huyện Thạch Hà lúc bấy giờ là Nguyễn Tất Đạt cùng gia đình phát tâm công đức, kêu gọi mọi người cùng đóng góp tiền bạc xây dựng lại chùa, cho dựng thêm tượng Phật Tam Thế, tượng Thích Ca, tượng Long Thần… để thờ tại chùa. Một đoạn trong bài chung văn ghi rõ:
“… Đoái nghĩ đến chùa Yên Nhân, xã Hoa Mộc, huyện Thạch Hà, do cụ Nguyễn Tất Đạt dấy công xây dựng, vợ là Phan Thị Đoan, thiếp là Nguyễn Thị Toan xét thấy bản chùa điêu tàn, nên bèn sửa sang cho hoàn thành, cho đúc một quả hồng chung, cùng với tượng của Phật Tam Thế, tượng Thích Ca, tượng Long Thần. Làm dấy lên điều nhân như vậy thực là có công đáng ghi nhớ, lại chẳng tiếc gia tài mà phát tâm công đức, chăm việc sửa sang chùa Phật, tạo đúc hồng chung. Cái công đức to lớn như thế, cái phúc đức to lớn cũng như thế thực không thể xét hết…
Năm Cảnh Thịnh nguyên niên, Quý Sửu (1793), tháng 10 ngày 17…”.


Chùa Thanh Quang, xã Thạch Khê
Chùa Thanh Quang được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm 2016.
Nằm cách không xa đền Chiêu Trưng Lê Khôi và chùa Thanh Quang là đền thờ Đông các Đại học sỹ Trương Quốc Dụng - một nhà văn hóa, nhà khoa học lớn, nhà cải cách chính trị, một vị tướng tài của Việt Nam thế kỷ XIX.
Trương Quốc Dụng sinh năm Đinh Tỵ (1797)), nổi tiếng thần đồng từ nhỏ, mới 4 tuổi đã biết đối đáp câu đối, đỗ Tú tài năm 1821, đỗ Cử nhân năm 1825, đỗ Tiến sĩ năm 1829, từng giữ nhiều trọng trách như Tri phủ Tân Bình, Án sát Quảng Ngãi, Án sát Hưng Yên, Tả thị lang các Bộ: Lễ, Lại, Công, Hình; Tham tri các Bộ: Công, Binh, Hộ; Thượng thư bộ Hình, quản Viện hàn lâm, quản Đô sát viện, Chánh, Phó chủ khảo nhiều khoa thi Hương, thi Hội; Kinh diên nhật giảng quan, quản Khâm thiên giám, Tổng tài Quốc sử quán, Hiệp biện Đại học sĩ, Hiệp thống Hải An quân vụ đại thần…
Trương Quốc Dụng mất vào ngày 29 tháng 7 năm 1864 (tức ngày 26 tháng 6 năm Giáp Tý) tại vùng Trũng Hồ, thôn La Khê, tổng Hà Bắc, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên (cũ). Nhân dân trong vùng tôn vinh ông Công lao như núi Thái Sơn, lập đền thờ ông cùng phó tướng là Văn Đức Giai. Triều Nguyễn khâm tặng: Đặc tiến Vinh lộc đại phu, Thượng trụ quốc, Đông các Đại học sĩ, thuỵ là Văn Nghị, sắc phong Đoan túc Dực bảo trung hưng tôn thần; thờ ở đền Trung Nghĩa (Huế), miếu Trung Liệt (Đống Đa, Hà Nội). Đền thờ Trương Quốc Dụng tại xã Thạch Khê đã được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 2009. Trương Quốc Dụng cũng là một trong những người có công rất lớn trong việc đắp đê trị thủy, ngăn lũ, kiến tạo nên vùng đất Thạch Khê ngày nay.

Đền thờ Trương Quốc Dụng
Điểm quan một số di tích tiêu biểu nêu trên để thấy rằng, hệ thống di sản văn hóa vật thể trên địa bàn xã Thạch Khê là rất phong phú, đa dạng, chứa đựng rất nhiều yếu tố văn hóa, khoa học, lịch sử, … Mỗi một di tích đều có những giá trị chung và riêng, tất cả cùng hòa quyện, tạo nên bản sắc của mảnh đất và con người Thạch Khê.
Hiện nay, du lịch xanh đang là xu hướng phát triển tất yếu của thế giới, cũng là chủ trương của Chính phủ Việt Nam nhằm phát triển kinh tế xã hội bền vững. Du lịch xanh tập trung dựa vào tự nhiên, hạn chế những tác động xấu đến môi trường như xả thải, xả khói, tàn phá động thực vật, khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng, vật dụng tái tạo, phát huy các di sản văn hóa thiên nhiên, sản phẩm thân thiện với môi trường... Do vậy, việc bảo tồn và phát huy các di tích trên địa bàn xã Thạch Khê là rất cần thiết và hữu ích. Trong thời gian tới xã Thạch Khê cần kiểm kê, kiểm đếm, rà soát và hệ thống lại toàn bộ các di sản văn hoá trên địa bàn, qua đó xây dựng kế hoạch, lộ trình bào tồn và phát huy các di sản văn hóa phù hợp; tính toán kỹ, lựa chọn các di sản tiêu biểu để có kế hoạch đầu tư, khai thác, phát huy...
Thiết nghĩ, khi mà Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê vẫn còn đang “bỏ ngõ” thì đây cũng là việc cần làm của xã trong bối cảnh hiện nay./.
M.Đ