12-09-2026 - 00:19

Truyện ký Mùa kéo mật của Nguyễn Minh Ngọc

Tạp chí Hồng Lĩnh số 238+239 giới thiệu truyện ký Mùa kéo mật của Nguyễn Minh Ngọc

Nhìn màu trời xám xạm, lão Tự thập thững bước, miệng lẩm nhẩm, khiến cho gã trai đi cạnh cứ nhóng lên thắc thỏm. Bác nói gì vậy? À, là heo may về rồi. Thì sao ạ? Chứ không ngửi thấy mùi hanh hao à? Lão máy môi suýt bật ra từ “con”, may mà kịp hãm lại. Thì da dẻ bắt đầu mốc thếch lên như vẩy rắn rồi đây này. Lão giơ cánh tay xù xì huơ lên phân bua.

Tháng trước, nhân viên bưu tá chuyển cho lão một lá thư không rõ người gửi. Thời nay, ai còn viết thư nữa? Nghe nói, chỉ cần một cú nhấp chuột trên máy tính hay dùng điện thoại nhắn tin là xong.

Nghĩ vậy, nhưng lão vẫn “đồ hộp” xoay ngang, trở dọc ngắm nghía rồi mới lóng ngóng xé bao thư. Bên trong chỉ có một tờ giấy gấp tư, người viết giới thiệu tên là Tình, con mẹ Phận, người làng. Nay xin về thăm và nhờ bác dẫn đến nơi mẹ cháu từng sống, được không ạ? Quá được! Lão chạy nhờ người có cái máy “a lô” gọi theo số 098… ghi trong thư, lập bập nói ta đợi cháu lâu lắm rồi. Thẳm sâu trong tim óc, lão Tự vẫn ước rồi sẽ có ngày hôm nay, bởi rốt cuộc “máu nào thâm thịt ấy”. Ông bà xưa nói mà.

Tưởng thằng Tình nói cho vui, hoá ra nó về thật. Từ sân bay, nó bắt xe hơi về tận ngõ. Xế chiều, thấy một chàng trai cao ráo, dáng dấp phố thị, nói giọng Bắc bước vô nhà lão Tự, hàng xóm ngạc nhiên lắm. Bao năm nay nhà lão có ma nào lai vãng đâu cơ chứ? Hỏi thì lão ậm ừ bảo thằng cháu ngoài Hà Nội về chơi. Quýnh quáng, lão cầm nắm thóc “túc tục” vãi cho gà ăn. Đàn gà quen người chen chúc bu lại, lão dùng chân dí bắt con trống choai. Đun nước làm thịt, rồi luộc. Cứ để nguyên con, xé chấm muối tiêu. Một già, một trẻ đưa cay. Miếng thịt gà vàng ươm, nhếnh nháng mỡ, ngọt đậm. Nhưng không hiểu sao, lão Tự cảm thấy dư vị đắng đót đọng nơi cần cổ. Lão nghẹn đắng…

Cả đêm, lão Tự không ngủ, như sợ giấc mơ tan biến. Sáng ra, lão khoác chiếc áo ấm dày cộp của thằng Tình biếu. Lão dẫn nó lượn một vòng khắp làng. Những đồi chè của hợp tác xã lô xô như bát úp xanh mượt, cung cấp nguyên liệu cho xưởng chè Trường Thọ, tiếng tăm khắp tỉnh, giờ biến thành các khu dân cư. Người sinh sôi, đất co lại. Phong trào hợp tác, đánh kẻng ghi tên, có làm mà chẳng có ăn, miệng cười, nhưng bụng rỗng rểnh… đã hết thời. Chẳng ai phá bỏ cả, nó chết một khi nó không còn sức sống nữa. Thằng Tình cứ hỏi vì sao. Lão xì cái, sao với trăng chi? Nghe vậy, gã trai cười khì.

Dẫn thằng Tình tới rẻo đất dọc khe cạn, lão chỉ tay, đây là chỗ đất phần trăm, hồi trước mẹ cháu trồng khoai, trồng mía. Giờ thì thuộc về hộ khác rồi. Trong đầu thằng Tình chẳng có tẹo “ký ức” nào cả. Bởi khi hắn vừa chớm tượng hình người, thì mẹ hắn đã bỏ làng.

Hai người men theo lối mòn, xuống chạm bờ khe, lấp xấp nước chảy rí rích. Đàn cá mương ranh vừa loáng thấy bóng người, vội ngoe ngoắt lẩn trốn. Tình tụt giày, vén quần lội nước và lên bờ nhanh. Còn lão Tự đứng giữa lòng khe, đưa hai tay vục nước lạnh rửa mặt. Tỉnh cả người. Kệ, cứ để cho hắn mỏi cẳng thì về nhà trước…

Ngước lên, lão Tự để gương mặt đẫm đượi nước, từng dòng long tong chảy xuống mặt khe. Một cái gì không rõ hình hài cứ nhảy múa trong tâm trí lão. Lê đôi chân nặng trịch lên bờ. Đụng nhằm cái nền lán dựng che kéo mật bị bỏ hoang, chỉ còn lại dấu tích hai cái lò lum khum, lở lói, miệng lò bị nung đốt ở nhiệt độ cao đã hoá sành. Dưới  đáy lò, cây tầm bóp mọc xanh um. Chốc lát, bỗng nhiên lão xây xẩm mặt mày, cảm như có bàn tay ai bóp mạnh lồng ngực đến tức thở.

*

Quê gốc của lão Tự dưới miền hạ bạn. Mảnh làng như con thuyền cũ kỹ neo cạnh bến sông xanh biếc màu da trời. Làng không có ruộng liền thổ, nhưng đất phù sa cánh bãi tốt ngờm ngợp. Vung nắm hạt giống xuống, chỉ mươi bữa đã có vạt rau cải xanh um. Bao đời, dân làng chuyên nghề trồng mía. Từ cày cuốc, đặt hom giống, chăm bón, lột lá đánh gianh, đến thu hoạch mía và kéo mật.

Tuy có đồng ra đồng vào, nhưng cực nhọc. Ai cũng bảo trồng mía, kẹo che, nấu mật là nghề “xát xương”. Hãi lắm. Đất chật, người đông, dân làng kéo ngược lên miền rú bụi, đi theo kiểu “dắm dân”. Đi để tránh nạn lụt triền miên, và ra ngoài tầm bom rơi đạn vãi của tàu bay Mỹ... Tưởng đâu quê mới sẽ nhẹ nhàng hơn. Nhưng hoá ra, dưới gầm trời này đâu cũng vậy. Nghề trồng mía vẫn đeo bám dân làng. Đúng hơn là cái nghề của ông cha đã ngấm sâu vào máu thịt chẳng ai nỡ bỏ. Mỗi xóm chừng chục nóc gia, hùn hạp nhau dựng lán bên bờ khe cạn, để ép mía và nấu mật. Tự phát, nên các hộ thường nhờ cậy lẫn nhau. Bữa nay, tôi giúp anh, thì mai mốt anh giúp lại tôi. Hệt như vần công, đổi công thuở trước vậy.

Bữa đi cuốc cỏ, Phận gặp anh Tự ngoài bãi. Người đàn ông có gương mặt khắc khổ, nhưng lành hiền như đất, vẫn sớm tối ăn một niêu, ngủ một mình. Ai nhờ gì, Tự cũng sẵn lòng. Nỏ cần rào đón, Phận ướm luôn. Anh giúp cho mấy buổi cầm che, nhá. O nhớ báo sớm, để tui còn biết, lỡ nhận lời với ai rồi thì khó rút. Dạ, em sẽ báo khi nhóm xếp lịch.

Cái làng mới như lạc loài. Nhiều chị em lâm vào cảnh ngộ như Phận. Họ là gái quê, khoẻ mạnh, xốc vác, tiếng là có chồng cũng như không. Đám đàn ông rời làng ra đi, chẳng mấy ai quay về. Chồng chị Phận là anh Nhỏ, nghe nói ra Bắc đi học nghề chi đó rồi mất hút con mẹ hàng lươn. Họ có với nhau một mụn gái, nhưng hình như đứa nhỏ cũng chê mẹ nghèo, nên nó bỏ Phận về trời lúc mới biết đi men. Trơ trọi một thân một mình. Vài người hiểu chuyện éo le thì tặc lưỡi bảo phận, thôi cứ coi như thằng ấy đi “buôn muối”. Kiếm đại một đứa con, để về già còn có nơi nương tựa. Phận ừ hữ, chị không nói không rằng…

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN

Ruộng mía cao lút đầu người, Phận đi lột lá về phơi đánh gianh lợp nhà. Tự cày đất trồng khoai ở gần đó. Nghe tiếng hét thất thanh, anh buông cày chạy qua. Một con rít to bằng ngón tay cái, từ bụi mía rơi trúng đầu Phận. Người đàn bà mắt nhắm tịt, toàn thân run bắn. Tự gạt con rít xuống đất, dí chết, mà Phận vẫn hoảng loạn. Hồi lâu chị mới định thần.

Họ ngồi vãn chuyện. Tự nói với Phận, thì O có biết tại răng mà cánh đàn ông làng ta, một đi không trở lại? Chị dằn cục tức xuống ngực, rồi lí nhí “thì tệ bạc chơ răng?”. Tự gật, đúng rồi. Nhưng bữa ra chợ tỉnh, tui nghe được câu ni. Câu chi? Thiên hạ nói: “Con gái khu Ba da trắng, tóc xanh. Chồng gọi thì dạ, thưa anh gọi gì? Con gái khu Bốn chân cẳng đen sì. Chồng kêu, thì quạu, chi chi rứa hè?”… Phận tròn mắt nhìn người đàn ông. Chừng như chị đã hiểu tất cả.

“Heo may, mật trèo lên ngọn”. Mía lác đác trổ cờ như bông lau phơ phất.

Chuẩn bị vào mùa ép mía. Những cỗ che bằng gỗ trường đỏ au được đem ra tiện lại mặt cho tròn đều và cân chỉnh. Một “công trình” cơ khí có bánh răng đạt tới độ tinh xảo. Một ống che trống, một ống che mái, lắp trên bệ gỗ dày, một chiếc mõ, một cây đòn dài choàng cổ trâu kéo.

Vào vụ. Từ các lán gianh bên bờ khe ngân nga tiếng mõ che lúc bổng, lúc trầm. Giai điệu của sự bận rộn, ấm no. Hễ nghe tiếng mõ nghẹn ằng ặc, thì biết người cầm che mới tập tọng, tay nghề còn non lắm. Cầm che đòi hỏi kỹ năng điêu luyện, nhanh mắt, khéo tay. Lóng ngóng, dễ bị bã mía quấn tay, cuốn vào che là đi tong. Đã vài người bị che nhai nát bàn tay.

Cả làng được tẩm ướp trong mùi mật mía. Không khí ngọt nưng nức. Tóc tai rít xằng, áo quần dấp dính. Bã mía rải dày kín hai bên đường. Ruồi, nhặng xanh lè bu từng đám, hệt như ai đem cả rá hạt đậu đen ngâm trương nở đem rắc lên đám bã trắng. Lũ nhặng ngầy ngật, say lồi cặp mắt như bi ve. Có tiếng động là chúng cất lên bay vù vù.

*

Ngày ngắn, đêm dài.

Bữa ấy, khi hoàn tất nhả mía cuối cùng thì hoàng hôn cũng vừa sập xuống. Trời tối hù. Tự cởi ách tháo con trâu đực sừng cộc, dắt nó ra cột ngoài cửa lán. Rồi trở vào tất tả quét tước bã vụn, thu dọn. Chị Phận ôm bó ngọn mía, bày ra trước mõm trâu. Con cộc cúi đầu như cách biết ơn. Nó ngấu nghiến, nước mía nhểu trắng cả ra hai bên mép. Họ nhà trâu chỉ độc mỗi hàm răng mà sao nó nhai khoẻ thế?

Dọn cơm ra chiếc mâm nhôm cũ, Phận đặt cạnh cửa lò. Trên bệ lò, hai chiếc chảo to, một chảo năm và một chảo bảy, mật đương sôi lục bục. Chị thổi hai bò gạo, thức ăn tươi hơn ngày thường chút đỉnh. Món dưa chua xào thịt lợn ba chỉ, đĩa tép đồng kho khế, bát cà pháo với nồi canh rau tập tàng. Thêm chén rượu gạo, giãn gân cốt. Trời lạnh, ăn gì cũng thấy ngon miệng. Tự quất bốn bát B52, căng rốn. Anh xuống khe rửa mặt cho tỉnh táo. Gió lạnh như dao cứa thịt.

Lên bờ, Tự đứng một lúc cho ráo rẻ, rồi thủng thẳng bước vào trong lán. Phận dựa lưng vào mấy bó bã mía, gà gật. Cả ngày xà quần, chị oải. Hai mắt ríu lại, biết có người trông giùm, chị liều ngả lưng một lúc. Nghe tiếng thở đều và ngáy, Tự đến bên lò, nâng cây chụp khảo lên xuống liền tay, để mật khỏi bồi trào cả ra lò.

Khi chảo mật cuối được múc ra thùng tôn, Tự đoán chừng tầm 10 giờ khuya rồi. Anh rút hết củi thanh trong lò, chỉ để lại mớ than. Phận vẫn ngủ vùi, đầu ngoẹo về một bên, ngó thương quá. Người đàn ông lôi mấy bó bã mía trải kề nhau, thành một cái nệm. Tiện tay, nhấc tấm rèm tranh chắn cửa lán, ngăn gió xộc vào chỗ Phận, rồi hãm nhỏ ngọn đèn bão. Gió giật manh áo của Phận bung hai nút. Thân hình chắc nịch, vồng ngực mẩy căng. Định bụng đỡ Phận dậy, nhưng chẳng hiểu sao Tự lòn tay bế thốc người đàn bà lên. Đột nhiên Phận choàng tỉnh. Chị choàng hót lấy cổ Tự…

Như có luồng điện cực mạnh. Họ quấn lấy nhau. Áp má, kề môi. Siết chặt và bện cứng. Quên tiệt sự đời. Mặc cái rét đương lồng lộn bên ngoài… Chả phân biệt tiếng gió bấc rú rít hay tiếng người rên rỉ bởi niềm hoan lạc, bên lò than hồng rực?

*

Trước lúc giã từ, thằng Tình đưa lão Tự mẩu giấy xé từ trang vở tập học trò. Bên trong chữ đã ố, nhoè, có dòng chữ: “Con về quê, tìm gặp bố Tự!”.

Ngày ấy, khi nhận thấy cơ thể có dấu hiệu khác thường, nhác ăn, hay nôn, Phận biết chuyện gì đã xảy ra. Nếu cứ ở quê thì khó mà sống với búa rìu dư luận, nên chị bấm bụng. Phận lén gặp riêng Tự. Trỏ vô bụng mình, chị hé cho anh biết ý định bỏ làng. Như bị nhát dao thọc vào tim, lấy hết can đảm, anh nắm tay Phận:

- Đừng! O ở lại, sợ chi. Về với tui, no đói có chắc (nhau) …

- Không được, anh ơi. Em đã có chồng, dù hắn bỏ đi mất mặt nhiều năm.

- Thì O càng có cớ để tự quyết

- Thiên hạ độc mồm, sẽ chửi em, thứ đàn bà lộn chồng theo trai…

- Cười ba tháng, ai cười ba năm hả O?

- Ở lại, em khổ, anh cũng chẳng sướng ích gì.

Phận nấc nghẹn. Chị quấn chéo khăn che mặt và vụt chạy khỏi nhà người đàn ông đã để lại trong mình một giọt máu. Tự như cái cây héo rũ. Anh âm thầm đau đớn mà không dám tỏ cùng ai.

Ăn Tết xong, Phận khăn gói quả mướp, nói đi tìm chồng. Nhưng biết tìm đâu giữa trời đất mênh mông, trong khi không một xu dính túi?

… Bếp lửa củi gộc hồng rực. Tình bùi ngùi kể. Mẹ cháu bụng mang dạ chửa nằm lịm bên cạnh đường ray xe lửa gần ga Ninh Bình. Người gác ghi đưa về săn sóc, nâng giấc. Bác ấy tên Thiện. Tuy nghèo, nhưng bác ấy thương mẹ con cháu, lo cho cháu ăn học. Sau khi mẹ cháu mất, bố Thiện nhắc, con nên về quê, tìm cha, để ở nơi xa mẹ Phận mát dạ.

- Vậy, con có trách ta không?

Tình lắc đầu.

- Vậy là con đã thực hiện được tâm nguyện của mẹ Phận khốn khổ rồi ạ.

Không nói nên lời, lão Tự ôm lấy Tình. Ngọn lửa bỗng phực lên. Tiếng nổ tí tách.

Hôm sau, lão Tự tiễn thằng Tình đi. Hai ông con đứng hồi lâu trước sân nhà. Mưa bụi rắc rây. Họ cùng ngó cái cây vừa trổ ra từng chuỗi hoa dài. Thảm hoa đỏ rực. Lão hỏi Tình, con biết cây này chứ? Dạ, cây lộc vừng, ạ. Trong ta kêu là cây mưng. “Cá lẹp mà kẹp lộc mưng”…

- Cháu, à con đi. Tết con lại về.

Lão Tự quay đi giấu giọt nước mắt mặn chát. Lão những muốn ngửa mặt lên mà hét lên một tiếng rõ to. Mặt trời vừa chui ra khỏi sương sớm. Nắng loé lên, ánh ỏi.

N.M.N

. . . . .
Loading the player...