05-06-2026 - 23:43

Giang hồ Nguyễn Bính

Khác với các nhà thơ cùng thời, Nguyễn Bính đã thực sự dấn thân vào cuộc hành trình vạn dặm từ Bắc vô Nam để tìm kiếm chân trời mới. Chuyến xê dịch ấy đã biến một thi sĩ "chân quê" thành người tráng sĩ hào sảng, tràn trề khí phách “giang hồ”. Tạp chí Hồng Lĩnh số 237 trân trọng giới thiệu bài viết “Giang hồ Nguyễn Bính” của Phạm Xuân Nguyên

Khát vọng xê dịch và lời tuyên ngôn lên đường

Xê dịch, giang hồ là một khát vọng, một mục đích trong văn chương lãng mạn. Nhân vật trong các thơ truyện theo chủ nghĩa này luôn khát khao đi, với hình ảnh nổi bật quyến rũ là “chinh phu”. Đi để thoát đời quẩn quanh, tù túng, đi để thay đổi cảm giác, đi để gặm nhấm nỗi cô đơn, sầu quạnh. Nhưng cái đi ấy phần nhiều chỉ là trên trang viết, trong đời thực, các văn nhân thi sĩ lãng mạn ít xê dịch vì khó xê dịch. Nguyễn Bính hình như là một ngoại lệ. Ông đã đi thực, viết thực, lấy cái đi của chính mình ra mà viết, không phải là đi trong tưởng tượng. Câu thơ của thi sĩ Pháp Paul Valéry: “Gió đã nổi phải liệu mà sống chứ” lay động cả Nguyễn Bính: “Đò tôi bến Sở sông Tần/ Gió lên một chuyến bất thần sang Nam”[1].

Ông có bài thơ “Con nhà nho cũ” có tính chất một phát ngôn “lên đường” để phân cách hai thế hệ cũ - mới. Bài thơ nói chuyện thực của nhà thơ với những người bạn học chữ Nho. Nửa đầu bài thơ vẽ lại khung cảnh xã hội truyền thống vinh quy bái tổ, nhưng sau đó thời đại thay đổi: “Bây giờ thời thế biến thiên/ Nhà vua không lấy trạng nguyên nữa rồi... Trường thi Nam Định biến thành trường bay”. Trong khung cảnh mới, những người trai trẻ “con nhà nho cũ” đã chọn một cách sống mới: “Không than sinh bất phùng thời/ Vuốt xuôi mái tóc cả cười ta đi”. Đoạn cuối bài gửi người anh họ Bùi Hạnh Cẩn, ông thúc giục lại lên đường: “Không đi cũng uổng một đời/ Nhổ sào lên chứ khi trời rạng đông”.

Đó là một lời tuyên ngôn dứt khoát của ông, đoạn tuyệt một thời để bước sang một thời: “Con nhà nho cũ lại đi/ Ấy ai quy khứ lai hề mặc ai”. Khi ở Sài Gòn năm 1943, ông có bài thơ gửi Phạm Quang Hòa, một người bạn giang hồ nay đã dừng bước về Bắc cưới vợ. Phần đầu là chân dung kẻ “nghiện sông hồ”, phần sau là nỗi uất ức khi bạn đành “thu vào hộp phấn son” và chí lớn chỉ còn “lo việc nấu canh”. Giữa ông và những kẻ bỏ cuộc cách trở vạn sông sâu của hai cách lựa chọn sống. Từ Sài Gòn ông quay đầu về Bắc uống ba ly rượu nhớ bạn: “Song nhớ bao nhiêu lại ngậm ngùi/ Giang hồ còn sót một mình tôi”.

Nguyễn Bính là thi nhân có máu giang hồ, có chí giang hồ. Dù bạn bè an phận, hay đang khi chán nản tuyệt vọng, ông vẫn cứ đi. Dù làm buồn lòng thầy mẹ, ông vẫn lại đi: “Nghìn lạy cha già lượng thứ cho/ Thân con trót vướng nợ giang hồ”. Đây là cái khác của Nguyễn Bính với các nhà thơ lãng mạn đương thời. Người thơ “chân quê” trong tâm tưởng lại là người dấn bước đến những vùng đất mới xa lạ, thích “gian díu với kinh thành”. Giang hồ Nguyễn Bính đã đưa lại cho ông một tiếng thơ thành thị khác hẳn mảng thơ thôn quê.

Hành trình phương Nam và những cảm thức mới

Cái đi của Nguyễn Bính không chỉ là đi vặt, mà ông đã đi xa, dài và theo ý mình từ Bắc vô Nam, đến tận Sài Gòn. Trong bài “Lá thư về Bắc”, ông nhắc lại buổi Nam chinh từ khi lên xe phấp phỏng đến khi tới xứ xa lạ “Rộn những phồn hoa, em chạnh buồn”. Nhưng đất phương Nam đã cho ông tin tưởng, hy vọng: “Bóng một nhà thơ đầy nguyện vọng/ Giàu lòng tin tưởng bước tương lai”. Dù chóng tan mộng trước thực tế thơ mang bán đọ với tiền, miền đất mới này đã tiếp cho thơ ông một nguồn mạch mới.

Vào Nam, cái đầu tiên ông thấy là khí hậu, phong tục khác: “Nắng luôn cả sáu tháng trời không mưa/ Người ta ăn tết buồn chưa/ Rượu bia hoa giấy và dưa đỏ lòng”. Đoạn thơ phản ánh tâm trạng bỡ ngỡ, hoang mang thành “tâm lý vùng miền” khi tiếp xúc với đất và người phương Nam. Dần dần ông nhập cuộc đời sống Sài Gòn. Từ một người yêu xóm đạo, nhà thơ đã khóc trước ảnh Chúa và trong cơn tuyệt vọng người yêu đi lấy chồng ông đã nương tựa vào một vị Chúa khác: “Chúng con ngoại đạo và ngoan đạo / Vẫn biết và tin có Chúa lòng”.

Thơ tình Nguyễn Bính trước đó hầu không có tiếng chuông nhà thờ, nên đây là một nét mới. Từ Chúa Christ, nhà thơ tạo ra “Chúa lòng” của Ái Tình, và tất thảy những người yêu nhau đều là tín đồ ngoan đạo của vị Chúa này. Trước “Chúa lòng” đôi tình nhân dẫu xa nhau vẫn thuộc về nhau, một cảm hứng mới thay cho sự sầu thảm, tuyệt vọng của thơ ông trước đó.

Tuy vậy ông vẫn thấy “Nam Kỳ cũng gió cũng mưa”, nhưng mưa Sài Gòn khác mưa Huế. Bài “Trời mưa ở Huế” nói nỗi buồn rồi ôn lại chuyện cũ thấy toàn thất bại. Bài “Đêm mưa đất khách” (Sài Gòn 1943) cũng buồn nhưng mang tâm sự của tráng sĩ bất đắc chí: “đất khách cùng đường ta khóc ta!”. Huế là mưa mấy ngày, còn Sài Gòn là một đêm mưa, “đêm dài đằng đẵng, đêm bao la…”, cái đêm của thời thế, thời cuộc. Ở Sài Gòn, Nguyễn Bính cất lên được câu hỏi có chí khí: “Hỡi người đi gió về mưa/ Có xây dựng nổi cơ đồ gì không?”. Ngược lại, thơ viết ở xứ cố đô Huế lại chất chứa hoài cảm khi ông làm cuộc tổng kết chuyến đi để rồi ai oán: “Không hiểu vì đâu hai đứa lại/ Chung lưng làm một chuyến đi đày”. Tâm trạng này bị nhuốm cái ảo não của mưa xứ Huế, chứ thơ viết ở Sài Gòn cho thấy chuyến “hành phương Nam” đã mở ra một cảnh sắc và sắc điệu hoàn toàn khác.

Phong vị thơ và những bài "Hành" đặc biệt

Phong vị đất trời khác đưa đến một phong vị thơ khác. Từ điệu buồn ở Bắc sang điệu thán ở Trung đến điệu bi ở Nam. Điệu thơ này thể hiện ở mấy bài thể hành chỉ khi vào Nam Nguyễn Bính mới viết, tiêu biểu là “Hành phương Nam” (1943). “Hành” là thể thơ nói cái chí khí, ước nguyện lớn lao, u uất của người viết. Trong bài, Nguyễn Bính không là thi sĩ nữa, ông là tráng sĩ, lời thơ là tiếng lòng bi phẫn: “Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ/ Ta với nhà ngươi cả tiếng cười/ Dằn chén hất mạnh đầu cỏ dại/ Hát rằng phương Nam ta với ngươi”. Hành động “Dằn chén hất mạnh đầu cỏ dại” là của một Nguyễn Bính đã khác, thách thức với thế nhân, với cuộc đời.

Nguyễn Bính còn bài “Ái khanh hành”, vẫn đề tài tình yêu nhưng giọng điệu rất lạ, như người Nam Bộ thẳng băng, dứt khoát: “Lòng em thương anh không có bến/ Tình anh yêu em không có bờ”. Cứ đối nhau chan chát vậy, không còn “có lẽ” với “hình như” như thơ tương tư Bắc Bộ. Đặc biệt nhất là đoạn so sánh người yêu khác đến sửng sốt: “Em ngon như rau cải/ Em ngọt như rau ngót... Em hiền như nước mưa/ Em nhổ nước bọt xuống mặt biển/ Mặt biển thơm lên hai mươi bốn giờ”. Chưa từng trong thơ Việt có câu thơ nào khiến bàng hoàng như thế. Giọng thơ của ông đã hào sảng hẳn lên cả khi nói về tình yêu, chứ không còn nỉ non, than vãn. Nguyễn Bính lưu lạc vào Nam đã tự phát hiện lại mình.

Từ đó có một khí phách Nguyễn Bính dán thơ trước túp lều ở Đồng Tháp Mười: “Những phường bất nghĩa xin đừng đến/ Hãy để thềm ta xanh sắc rêu”. Tiến lên bước nữa là những bài thơ viết trong ngày đầu kháng Pháp ông tham gia, với lối ngắt câu, nhịp tự do. Bài thơ về tiểu đoàn 307 mang giọng hùng ca với những câu điệp khúc như sóng cuộn trào, thành tiếng kèn xung trận, khắc họa một chân dung rất khác của người “thi sĩ chân quê”.

Nỗi sầu quê và chu trình giang hồ

Cố nhiên vào Nam Nguyễn Bính vẫn không nguôi nhớ đất Bắc. Cái nhớ sầu não, dâng lên thành nỗi niềm tha hương, nỗi sầu quê, vẫn đậm đà trong thơ ông. Nỗi sầu quê ly hương cần được nhìn nhận ở hai phương diện. Một mặt, nó là tâm trạng chủ đạo từ khi rời quê ra thành thị, bị thất vọng trước cuộc sống, trở thành “bệnh sầu quê” kinh niên không chữa được. Nó là khung trời điền viên làm điểm tựa tinh thần để trên bước đường giang hồ ông dù đau khổ đến mấy vẫn có nơi chốn để quay về.

Nhưng mặt khác, cái sầu quê đó là phương thức nghệ thuật để diễn tả phía đối lập là sự khát khao ra đi, tinh thần quẫy phá. Ông cứ than khóc, nhớ quê nhà, nhưng vẫn không dừng bước lãng du; đi xa rồi thì lại khóc thương nhớ nhà. Chu trình này là một ám vận cuộc đời Nguyễn Bính: “Mẹ cha thì nhớ thương mình/ Mình đi thương nhớ người tình xa xôi”. Ở phía bên kia của “sầu quê” là “sầu đô thị”. Nguyễn Bính bị kẹt giữa hai nỗi sầu, lâm tình thế tiến thoái lưỡng nan. Dù kêu gọi mình về quê, rút cục ông vẫn ở đô thị; cái sầu đô thị hóa ra quyến rũ ông hơn, hay càng nặng sầu quê thì càng không dứt được sầu đô thị.

Bi kịch chia cắt và nỗi lòng vọng cố nhân

Có hiểu như thế mới thấy cảnh đời Nguyễn Bính rất thực. Theo bước giang hồ, ông đã có ở phương Nam mái ấm gia đình, nhưng theo thời cuộc phải chia xa về Bắc một mình để cuối đời luôn trông ngóng hai người con gái Hồng Cầu, Hương Mai. Tình cảnh chia cắt đất nước không cho ông vào Nam gặp lại vợ con. Từ sau 1954, trong lòng và trong thơ ông luôn diễn ra những chuyến “hành phương Nam”. Nhiều bài thơ xuân trước đây viết theo dòng mộng tưởng, nhưng bài “Xuân nhớ” (1956) là viết thực cho cảnh chia cắt: “Rộn rã xuân về giữa thủ đô/ Hồn đơn gác lẻ đón giao thừa”. Nhìn trời sao đất Bắc ông lại thấy: “Sao Hôm như mắt em ngày ấy/ Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu”.

Bao nhiêu tình cảm ông dồn hết vào thơ làm thư chồng Bắc gửi vợ Nam. Hơi thơ quen thuộc trở về trong bài độc vận trăm câu “Xuân nhớ miền Nam”: “Xuân đến, miền Nam, em hãy đọc/ Trong thơ miền Bắc có thơ anh”. Câu thơ cuối chở khối tình riêng đau đớn, như gửi gắm điều gì đến người đọc.

Nguyễn Bính hành phương Nam đã nói hộ cho bao kiếp tha phương nỗi tê tái vọng cố hương: “Quê nhà xa lắc xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay”. Ông đồng vọng vô cùng với Nguyễn Du khi đi sứ Trung Hoa: “Vạn lý hương tâm hồi thủ xứ/ Bạch vân nam hạ bất thăng đa”. Nguyễn Bính đã sống trọn phận mình như lời thổ lộ trong những tháng ngày giang hồ tuyệt mù khơi: “Chị ơi! trôi nổi là thân tôi/ Cánh buồm bạt gió trôi hồ hải”./.

P.X.N

_________________

1. Tất cả thơ trích dẫn trong bài viết này đều lấy từ sách: Nguyễn Bính toàn tập, Nguyễn Bính Hồng Cầu sưu tầm, biên soạn, Nxb Hội Nhà văn, 2017.

. . . . .
Loading the player...