06-06-2026 - 00:56

Nhà thơ với những nỗi niềm thế sự

Tạp chí Hồng Lĩnh số 237 trân trọng giới thiệu bài viết “Nhà thơ với những nỗi niềm thế sự” của Nhà Lý luận phê bình Hà Quảng

Anh là nhà toán học cũng là một thi sĩ, nhưng điều đáng nói là cả hai phương diện sáng tạo đó ở anh đều thấm đượm một tình yêu tha thiết với cuộc đời, một nỗi niềm với thế sự!

Tôi quen Lê Quốc Hán từ những năm tháng Cấp 3, những năm tháng chiến tranh mà vùng quê này được xem là vùng “thắt cổ chai” của mạch giao thông tiếp viện cho phương Nam, nơi “túi đạn mưa bom” một thời. Anh, cậu học sinh nhỏ thó gầy guộc, sau những buổi miệt mài nơi trọ học, chiều thứ bảy lại ngược 20 cây số về quê, vượt dăm chiếc cầu mà “mặt trời lên bom gieo xuống chùm chùm” để tiếp vận thêm lương thực cho tuần học sau. Và đó cũng là thời gian dưới sự hướng dẫn của người cha già, vốn là một công chức lưu dung cũ, với một vốn Pháp ngữ ít ỏi được cha truyền dạy, cậu đã mò mẫm làm quen với các nhà thơ lãng mạn Pháp A.Muyxê, A.Vinhi, A.Lamactin từ rất sớm cùng lúc với những định đề toán học của Pascal. Theo thời gian kỷ niệm về các nhà thơ cứ đầy thêm trong ký ức cậu học sinh trường huyện cùng với các công thức toán học. Sau này khi nói về nghề Thơ, về các thi sĩ, anh đã không giấu niềm cảm xúc ban đầu "mỗi ngư­­ời trong họ đã tạo cho mình một thế giới riêng, một vũ trụ riêng, một tâm linh riêng" (Vũ trụ và tâm linh - Lời khấn nguyện).

Quê hương anh, xưa kia một tỉnh nghèo nhất miền Trung, nơi anh sinh ra lại là một huyện lỵ nghèo nhất tỉnh ấy: huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, nơi có con đèo nổi tiếng kim cổ, mà bao nhà thơ đã lưu dấu hoài niệm. Nơi đây là mảnh đất cuối, địa đầu phía Nam của nước Việt cổ và cũng là tuyến sau của bao lớp binh đao thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Mảnh đất từng ghi nhiều dấu ấn lịch sử cũng là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh để lại nhiều hình ảnh trong thơ ca và còn được khắc trên Cửu đỉnh kinh thành Huế (Núi Ngang - Hoành Sơn). Qua nơi đây Xuân Diệu đã từng thốt lên “Trèo đèo hai mái chân vân /Người về Hà Tĩnh dạ ái ân Quảng Bình”. Đời sống tinh thần mãnh liệt, tính cần cù nhẫn nại của đời trước còn truyền lại cho đời sau tạo một cốt tính để thích nghi hoàn cảnh! Không phải ngẫu nhiên mà hai vị tiến sĩ tiền bối Lê Quảng Chí, Lê Quảng Ý thuộc lớp khoa bảng đầu tiên nước ta (thế kỷ XIV) sinh ra ở đây, rồi các nhà  khoa học, nhà văn hóa, các doanh nhân tên tuổi về sau cũng nhiều người gốc xứ này! Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng đáng kể trong sự chuyển dịch âm hưởng đời sống vào thi ca tạo một nét riêng mà quê hương anh mang lại.

Cậu học sinh trường huyện vóc dáng bé nhỏ lại được xếp ngồi gần sau lớp dễ bị chìm đi trước các bạn nhưng nhờ cặp mắt sáng và sự luôn chăm chú nghe giảng đến mức thành kính của cậu học trò đã thu hút lòng mến mộ của thầy giáo. Anh học giỏi cả hai môn Văn, Toán. Kỳ thi học sinh giỏi tỉnh có năm hái về cho Trường hai giải đầu bảng Văn - Toán. Năm cuối cấp để cho anh tập trung vào những môn khối A, ông cụ thân sinh đã phải giấu anh đến xin thầy giáo cho anh nghỉ đội Văn học sinh giỏi hằng năm của trường. Người thầy lặng im luyến tiếc, không dám nhìn vào mắt ông cụ, anh chợt nhớ đến lần anh vào thăm nhà và lời của nhà toán học Pascal mà ông nói với anh lúc chia tay: …Trong vũ trụ, con người cũng chỉ là một cây sậy nhỏ nhoi, nhưng đấy là một cây sậy biết suy nghĩ!

Hoàn cảnh trắc trở của gia đình lại được những tín niệm cao cả thấm vào từ bé, Thơ gắn bó với anh như một niềm an ủi tự sinh. Sau này có bạn hỏi đùa: Thơ đến với anh từ lúc nào? Anh chân thật: Những giờ Văn gieo vào tâm hồn anh những cảm hứng sáng tạo, những mơ ước, cùng những tưởng tượng xa bay, không những làm phong phú cuộc sống học trò mà còn theo anh cả về sau. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, mấy năm vào đời kiếm sống, anh vào Đại học muộn cũng may nhờ cuộc gặp gỡ định mệnh/duyên số với GS. Lê Văn Thiêm tháng 12 năm 1974, lúc ra Hà Nội dự Lễ kỷ niệm 10 năm báo Toán học & Tuổi trẻ. Giáo sư rất thích những nét giải đẹp của cậu học sinh Cấp ba về các bài toán trên báo Toán học và Tuổi trẻ từ rất sớm cho đến lúc gặp cậu học sinh đồng hương tình yêu đã trở thành trách nhiệm và ông đã hết mực giúp đỡ anh vượt qua hoàn cảnh khó khăn. Nhờ sự giúp đỡ của vị GS đồng hương anh vào học Khoa Toán - ĐHSP Vinh, nhà khoa học trẻ lớn lên từ nơi đây. Trau dồi kiến thức toán học, nhưng văn thơ theo anh suốt đường đời cho đến mãi sau này. Anh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam trước ngày nhận học hàm PGS Toán học hai năm. Một tình yêu, một nỗ lực, một thành đạt không dễ hình dung!

Anh sống rất chân thành và khiêm tốn, ngay những năm làm việc sôi nổi có những thành tựu đáng kể, được nhà nước phong tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú” từ rất sớm, có nhiều công trình khoa học, được thưởng Huân chương lao động, nhưng hỏi sao anh không đăng ký phấn đấu “Nhà giáo nhân dân” anh bình thản trả lời: Mình thường nghĩ nhiều đến câu nói của người xưa “quyền bất tận dụng, lộc bất tận hưởng”. Đời đã cho nhiều thứ cứ thế sống vui mà làm việc là cảm thấy hạnh phúc rồi. Sau này khi về hưu anh cũng sống một đời sống rất đạm bạc, yên lạc. Ban sáng lên lớp cho mấy cậu học sinh phụ huỵnh gửi gắm tại nhà, chiều chăm sóc tưới nước bắt sâu mấy thùng xốp rau trên tầng thượng, đến mùa thu hoạch, trước những mớ rau xanh non, những quả cà chua chín mọng, anh vui niềm vui chân thật của người nông dân trước những thành quả lao động của chính mình. Những ngày nghỉ anh thường đi thăm bè bạn trao đổi chuyện văn chương thế sự. Kín đáo, khiêm nhường anh sống với một đạo thuyết “Trung Dung” không gì thái quá, thoáng qua rất khó tìm thấy sự thông thái của một giáo sư hay sự nhiệt tình say đắm của một thi sĩ ở anh mà chỉ luôn thấy sự bình tĩnh, yên lạc. Đã trải qua một lần bạo bệnh, phải mổ khối u ở phổi gang tấc sinh tử, về sau nghiệm thấy một ân huệ của Cuộc đời, tin vào Lẽ phải vào Cái thiện! Tuy sức yếu nhưng hằng năm anh vẫn thực hiện những cuộc hành hương đi về hai quê nội ngoại thăm viếng bà con chăm sóc mồ mả giữ tròn trách nhiệm với gia tộc! Thơ của anh cũng vậy lãng đãng sương khói, bên đạo bên đời, nửa thực nửa hư, nửa trần thế nửa phiêu bồng nhưng đầy trách nhiệm. Bên cạnh những câu thơ triết lý khúc chiết về thế sự là những câu thơ say đắm nồng nàn về một đóa cúc tần, một đóa hồng gai hay về những chiếc lá. Bên dưới cái phơn phớt sắc màu, cái run rẩy mây gió ẩn hiện theo tháng ngày là một sự gửi gắm về đạo nghĩa về nhân tình thế thái “Tình duyên chiếc lá giữa trời/ Hôm nay rụng xuống mai chồi biếc lên” (Thơ Nguyên tiêu 2011).

Thêm một lần may mắn cho anh, trên con đường thi ca giữa bộn bề các giọng thơ trẻ, đặc biệt “Trường thơ Xứ Nghệ” lúc bấy giờ, nhà thơ Trinh Đường đã nhận ra nét riêng của thơ anh, yêu mến và trao đổi cùng anh về cái hướng đi không dễ có mà anh tạo được. Quả thật thơ anh vừa “cổ kính như Đường thi nhưng cũng chân quê như ca dao” (Bài giới thiệu Lời khấn nguyện), cộng thêm vào là cái nét riêng “biệt lập một cách viết”, cái sắc thái “tâm linh”, cái “lẽ huyền vi”, mà âm hưởng đã toát lên từ cái tên các tập thơ luôn gợi nhiều suy cảm cho người đọc. Thơ Lê Quốc Hán nhanh chóng được đón nhận vì mang đến cho người đọc một dáng vẻ riêng, mà nhà thơ Trinh Đường - người thầy, người bạn vong niên rất gần gũi, một người rất tinh tế trong việc thẩm thơ - đã có lời nhận xét: “… Lê Quốc Hán biệt lập một cách viết, như núi Hai Vai quê anh, một vai gánh nhẹ nỗi mình và nỗi đời, một vai gánh nặng Vũ trụ và Tâm linh, một con đường vô tận hướng về Lẽ Huyền Vi mà anh mới đi đoạn đầu”(Báo Văn nghệ số 11/14-03-1998).

Cảm xúc lớn bao trùm thơ anh là tình quê. Sinh ra trên một vùng đất nghèo, anh yêu quê hương không phải chỉ với niềm tự hào về sự giàu đẹp như ta thường gặp, anh yêu quê hương với nỗi trìu mến xót xa mà có lần một nhà thơ đã nói “yêu đến tận cùng gốc rễ, quê hương nhỏ bé lạnh lùng”. Anh không cầm lòng đặng trước nỗi bất hạnh của người dân quê trong mùa bão lũ:…Tháng mười dai dẳng/Trong nước lũ máu người đục trắng (Tháng mười ) và cũng không thể kìm nỗi tiếng reo khi cuộc đời đâm chồi nảy nụ, dẫu chỉ một thoáng gặp “màu nắng thu”, “một đoá phù dung” hay một “chiếc cầu mới” bắc qua sông quê sau ngày hoạn nạn. Tình quê bãng lãng, hai chữ “cố hương” mới thiêng liêng làm sao. Cố hương ngân nga trong tiếng chuông chiều, trong tiếng chim gù nơi bãi vắng, trong màu hoa hướng dương vào tiết thu…Ngỡ quên nhưng nào có quên, lúc mơ cũng như lúc tỉnh: Ba phần đời trôi dạt/ hồn lạc về cố hương (Lạc). Và trên con đường phiêu bạt chỉ nghe một tiếng đàn bầu, hay thoảng một giọng hát buồn nhà thơ cũng nao lòng nhớ nhung về cội nguồn, thấy như hồn Trương Chi bay chập choạng trên đầu, khao khát nhập vào cung đàn tê buốt (Dâng).

Chủ đề lớn thứ hai trong thơ anh là thế sự. Anh thể hiện những sắc màu thế sự thông qua đặc trưng của thơ là thể hiện bằng một hiện thực tâm trạng, bằng những cảm quan vui buồn của con tim theo biến thiên đời sống. Anh không kể lể nhiều về các bức tranh cụ thể đời sống mà trực cảm về nó. Thấm nhuần các giáo lí tôn giáo bên cạnh các triết lý thực nghiệm về đời sống, Lê Quốc Hán nhìn nhận con người và thế giới trong mối tổng hòa đa dạng nhiều quy chiếu: hiện tại và ước mơ, vật chất và tinh thần, tình cảm và lý trí, được và mất, nhân và quả..., nhưng luôn hướng tới cuộc sống đẹp Đời, tốt Đạo…

Trong các tập thơ đều phảng phất một “nỗi buồn người”, “trăm  năm một nắm vô thường/ sao chưa rũ bỏ nỗi buồn nhân gian“ (Sao)… Có khi như­ là một sự hối hận, một lời sám hối. Buồn vì thế thái nhân tình trong cuộc sống thị trường, con người sa vào đời sống thực dụng, đuổi theo tiền tài danh lợi quên mất truyền thống đạo nghĩa của cha ông. Hình ảnh Người đi...Tôi về ... vang lên như một điệp khúc, đã gián tiếp thể hiện sự đối lập giữa một bên là cảnh đời bon chen “tích bạc góp tiền”, bên cạnh là nỗi cô đơn “giữ nét riêng hồn mình” của tác giả. Nét riêng hồn mình mà tác giả nói ở đây và được nhắc lại nhiều lần trong các tập thơ là tình yêu chung thủy, tình người sâu đậm luôn hướng về đạo nghĩa.

Một phương diện cảm nhận khác về thế sự trong sáng tạo của anh là triết lý nhân quả. Nhà thơ nghĩ rằng cuộc đời không có gì từ hư không. Tồn tại có cái nhân hợp lý của nó, gốc nào quả ấy, rễ nào hoa ấy. Cái điều toát lên trong thơ anh là nhận thức để cho đời sau tươi đẹp thì đời nay phải hướng thiện, phải hy sinh, để cho cuộc đời thơm hương con người đôi khi phải cay đắng nhẫn nhục! Những triết lý nằm trong chữ “nhẫn” đó có đượm màu đạo giới nhưng cũng thấm nhuần đạo lý của cha ông “bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu”! Phận con người là thế, kiếp này già nua, chịu đựng tàn phai, để mong có một  kiếp sau tươi nở trong màu xuân! Không có một hạnh phúc nào, tươi tốt nào nảy ra từ hư không! Như loài sen kia: tháng ngày nép mình lặng lẽ/hồ ao sau nhà/ không lặn lội trong bùn/ làm sao thơm thảo thế/ (Nhớ sen).

Thơ Lê Quốc Hán giàu chất suy tưởng, thủ pháp nghệ thuật thường gặp trong thơ chủ yếu là các ẩn dụ nội tâm lồng vào cách xây dựng hình tượng (hoa cỏ may, mũi tên thời gian, mái tóc sương tuyết…): đâu rồi hoa cỏ may/ thời gian cong thành nỏ/ hoa chuốt thành tên bay/... gió tình cờ nhặt được / đem rải dần tóc tôi (Hoa cỏ may). Song hành cùng các ẩn dụ - tâm linh thơ anh xoáy sâu vào tâm tưởng người đọc gợi nhiều suy nghĩ bền lâu nhờ lối cấu tứ tương phản, đột ngột gợi một phán đoán bất ngờ. Những câu thơ: Ban ngày xoay xở sống/ đêm về nhìn lại bóng…, hay: Cuộc đời sớm rủi/ chiều may,  Bây giờ cát sỏi/ mai ngày kim cương... Sau những tiếp nhận đối lập về sự việc, cảm xúc người đọc sẽ đầy đặn hơn! Đấy là tính biện chứng của những mâu thuẫn những xung đột trong đời sống, trong cõi ng­ười. Nó như những họa tiết vòng tròn âm - dương với những tương phản đen - trắng trong tranh dân gian.

Nhìn chung Lê Quốc Hán đưa đến cho người đọc một cảm quan mới về thơ ca. Cái mới chủ yếu là nhịp độ rung cảm, là cách lập tứ giàu tính biểu tượng, là những liên tưởng qua lại giữa hữu thức và vô thức, giữa sắc và không, đôi lúc pha màu siêu thực chứ không dừng lại ở một vài phép tu từ về ngôn ngữ hay thể loại. Các thi phẩm của anh ghi đậm thêm một cá tính sáng tạo không nhàm lặp trong nền thơ hôm nay, cái mà nhà thơ Trinh Đường lúc sinh thời cho là “biệt lập một cách viết” và ông minh định đó là “gánh nặng Vũ trụ và Tâm linh, một con đường vô tận hướng về Lẽ Huyền Vi ”, chính là nét riêng của một phong cách thơ, quen với thơ anh chắc người đọc sẽ trở thành tri kỷ như anh hằng mong mỏi./.

H.Q

. . . . .
Loading the player...