Trong nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy trong các lớp của mình luôn có những học sinh (HS) không thể đáp ứng được các yêu cầu đơn giản nhất của môn học. Khi được gọi tên, các em lúng túng, trả lời ngập ngừng, hoặc chỉ biết nói: “Em không biết!”, “Em không làm được!”. Đó chính là những HS mà chúng ta thường định danh bằng cụm từ: “HS mất gốc Ngữ văn”.
“Mất gốc Ngữ văn” là kết quả của một quá trình dài mà trong đó, HS không hình thành được kĩ năng học tập ngay từ đầu, không được chỉ dẫn kịp thời để lấp chỗ trống, không được quan tâm đúng cách, dần dần tụt lại phía sau, bị đánh giá sai, thậm chí bị bỏ rơi và cuối cùng là tự xây một cái “kén” để tránh việc học tập. Vậy, cần thấy gì ở những HS này?
Mất gốc Ngữ văn không đồng nghĩa HS kém thông minh
Điều đầu tiên, giáo viên (GV) cần hiểu rằng, HS mất gốc Ngữ văn không hẳn là HS kém trí tuệ. Rất nhiều em trong số đó học tốt Toán, Lý, Hóa, Tin học…, ngoài giờ học, các em nói chuyện rất lanh lợi, có tư duy logic rõ ràng, nhiều em viết tin nhắn, viết status đăng mạng xã hội khá trôi chảy. Nhưng khi bước vào giờ Ngữ văn, các em đột ngột trở thành người “không biết gì”. Sự thật là: các em không có kĩ năng tư duy bằng “ngôn ngữ” của môn học này. Ngữ văn là môn học dựa hoàn toàn vào năng lực ngôn ngữ học đường: hiểu từ, hiểu câu, hiểu ý, rồi diễn đạt lại bằng lời nói hoặc chữ viết. Khi HS thiếu nền tảng, mọi cố gắng giảng giải của GV đều trở thành vô ích. Nguyên nhân không nằm ở trí tuệ của HS mà nằm ở năng lực ngôn ngữ học thuật – thứ năng lực không tự nhiên mà có và càng không thể hình thành nếu không được dạy đúng cách. Học môn Ngữ văn không chỉ là đọc truyện, học thơ, viết cảm nghĩ. Năng lực Ngữ văn là hệ thống kĩ năng phức hợp gồm đọc hiểu từ vựng trừu tượng, hiểu câu văn dài, suy luận ý nghĩa gián tiếp, diễn đạt suy nghĩ bằng ngôn ngữ viết chuẩn mực, biết thuyết trình, tranh luận về một vấn đề trước người nghe,... Đối với Chương trình Ngữ văn mới đang được triển khai hiện nay, chỉ cần thiếu một mắt xích trong chuỗi đó, HS sẽ khó mà đáp ứng các yêu cầu cần đạt của bài học, môn học.
Dấu hiệu nhận diện HS mất gốc Ngữ văn
HS mất gốc Ngữ văn thường có những biểu hiện rất đặc trưng sau: Các em không đọc được văn bản, dù đó là những văn bản đơn giản nhất, không trả lời được câu hỏi đọc hiểu hoặc trả lời rất chung chung, lộn xộn, hỏi một đàng trả lời một nẻo; không hiểu đề bài, kể cả những đề tưởng chừng quen thuộc; không viết nổi một đoạn văn hoàn chỉnh dù chỉ ba đến năm câu; rất sợ viết, sợ bị gọi phát biểu, sợ bị kiểm tra; phụ thuộc nặng nề vào văn mẫu và dĩ nhiên không hiểu nội dung mình chép. Do đó, trong các bài kiểm tra, các em chỉ thực hiện được một phần nhỏ hoặc bỏ trống hoàn toàn.
Điều đáng nói là phần lớn các em rơi vào tình trạng này không hề coi thường môn học. Tuy nhiên, nhiều em rất căng thẳng mỗi khi đến giờ Ngữ văn, lo lắng trước mỗi bài kiểm tra, thậm chí có biểu hiện né tránh như xin đi vệ sinh, xin nghỉ học, hoặc giả vờ bận việc khác. Có những em học thuộc văn mẫu rất chăm chỉ, nhưng khi đề bài thay đổi cách hỏi, các em lại không biết phải xoay xở thế nào. Không ít em ngồi nghe giảng suốt cả tiết, ghi chép đầy đủ, nhưng cuối giờ không thể nhắc lại điều mình vừa học với yêu cầu tối thiểu. Các em quên ngay những điều GV vừa giảng rất kĩ. Đây không phải là thái độ học tập kém mà là dấu hiệu của việc HS đã hoàn toàn bị “đơ”, không có khả năng khắc ghi bất cứ nội dung nào thuộc kiến thức bài học Ngữ văn.
HS mất gốc Ngữ văn từ khi nào?
Không có HS nào tự nhiên mất gốc Ngữ văn. Những em sau này mất gốc thường bị đuối/chậm từ rất sớm, thậm chí từ tiểu học, nhưng không được phát hiện và hỗ trợ kịp thời. Những lỗ hổng ban đầu có thể rất nhỏ: HS không hiểu nghĩa chính xác của từ, không biết tóm tắt nội dung đã tiếp thu bằng lời của mình, không tạo được câu văn hợp lý về cú pháp để diễn đạt điều nghĩ trong đầu, không phân biệt được các kiểu văn bản cơ bản,... Khi lên các lớp trên, chương trình học vẫn tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh hơn, văn bản dài hơn, khái niệm trừu tượng hơn, yêu cầu đọc, viết cao hơn,… thì tất yếu những lỗ hổng sẽ ngày càng “rộng hoác” hơn. Dần dần, không theo kịp bạn bè về môn Ngữ văn, nhưng không biết mình đang bị “tắc” ở chỗ nào. Các em chỉ có thể nói rằng “Em không hiểu gì cả”. Tình trạng này kéo dài khiến HS hình thành tâm thế buông xuôi, bất lực.
HS mất gốc Ngữ văn là HS bị tổn thương bởi việc học
Phần lớn HS mất gốc Ngữ văn đều ít nhiều có những tổn thương trong học tập mà nhiều khi GV và cha mẹ không để ý. Những chuyện tưởng chừng không mấy “to tát” như bị chê vì viết sai, đọc sai; nhận bài kiểm tra bị gạch lỗi đỏ kín mà không được hướng dẫn sửa như thế nào; bị so sánh với bạn học giỏi ngay trước lớp,... lặp đi lặp lại có thể khiến HS củng cố một định kiến rằng, mình không có khả năng học văn, rằng có cố gắng mấy cũng không thể khác được. Khi đã tin chắc như vậy, HS không còn muốn suy nghĩ, không dám phát biểu, không dám nói, viết theo suy nghĩ của mình. Các em rút vào im lặng, học một cách đối phó. Đây là một kiểu “đầu hàng” trước một môn học của HS.
Những tổn thương mà các em phải chịu đựng sâu kín và nguy hại khó lường, bởi khi không thể nói/viết ý nghĩ của mình, không thể bày tỏ cảm xúc, phản biện hoặc ủng hộ một vấn đề nào đó, các em sẽ mất dần một kênh giao tiếp quan trọng, có cảm giác không được thấu hiểu, không thể chia sẻ, không cất lên được tiếng nói thể hiện suy nghĩ, cảm nhận riêng trước một vấn đề của đời sống hoặc văn học, và cuối cùng bị bật khỏi cộng đồng nhỏ (lớp học, nhà trường). Nhiều người trưởng thành sau này có thể cười đùa khi thừa nhận: “Hồi trước tôi học văn rất kém” nhưng đằng sau lời nói tưởng chừng đơn giản đó là nỗi bất lực của người không thể sử dụng ngôn ngữ (khác với việc không làm được bài Toán, không vẽ được biểu đồ).
Nếu không được giúp, HS mất gốc Ngữ văn sẽ “đi” về đâu?
Nếu không được nhận diện đúng và dạy lại đúng cách, HS mất gốc Ngữ văn sẽ tiếp tục học đối phó để qua môn, lệ thuộc hoàn toàn vào văn mẫu và mang theo cảm giác thất bại về năng lực ngôn ngữ suốt những năm đi học. Tệ hơn nữa, các em có thể thiếu tự tin trong giao tiếp, trong viết lách, trong việc diễn đạt suy nghĩ của mình - những kĩ năng không chỉ hiện tại cần cho môn Ngữ văn mà cho cả cuộc sống sau này. Vì vậy, nhận diện đúng HS mất gốc Ngữ văn là bước đầu tiên và quan trọng nhất của người GV. Trước khi dạy những HS này, GV cần xác định rõ: đây không phải là HS lười, không phải là HS chống đối mà là HS đang thiếu nền tảng. Thiếu nền tảng tất yếu sẽ lười học. Chỉ khi chấp nhận điều đó, GV mới có thể điều chỉnh mục tiêu, điều chỉnh cách dạy, điều chỉnh cách đánh giá, và quan trọng nhất là không tiếp tục làm tổn thương những học sinh thuộc nhóm yếu thế trong giờ học Ngữ văn.
Những sai lầm cần tránh của GV khi dạy HS mất gốc Ngữ văn
Khi dạy HS yếu, đặc biệt là học sinh mất gốc Ngữ văn, sai lầm lớn nhất của GV nằm ở cách nhìn nhận vấn đề. Rất nhiều GV, dù có kinh nghiệm hay tâm huyết, vẫn vô thức xuất phát từ một định kiến: học sinh yếu là vì lười, vì không chịu suy nghĩ, vì thiếu cố gắng. Từ định kiến đó, toàn bộ cách dạy phía sau đều đi chệch hướng. GV giảng nhiều hơn, nói kĩ hơn, phân tích sâu hơn với mong muốn kéo HS lên, nhưng thực tế lại càng đẩy các em ra xa.
Sai lầm tiếp theo là GV xác định sai khả năng thực tế của học sinh yếu. Có những yêu cầu tưởng chừng rất bình thường với HS khá như “viết một đoạn văn khoảng 200 chữ”, nhưng với HS mất gốc, đó là nhiệm vụ bất khả thi. Sai lầm này xuất phát từ việc GV quên mất rằng kĩ năng viết không thể hình thành nếu không có những bước trung gian rất nhỏ. Việc yêu cầu HS mất gốc viết một đoạn/bài văn hoàn chỉnh khi các em còn chưa viết được một câu trọn ý chẳng khác nào yêu cầu một người chưa biết bơi phải nhảy xuống nước sâu. Ngoài ra, nhiều khi GV quá tập trung vào việc hoàn thành chương trình mà bỏ qua khả năng tiếp nhận của HS. Khi chạy theo tiến độ, GV buộc phải giảng nhanh, dạy nhiều, và HS mất gốc là nhóm đầu tiên bị bỏ lại phía sau.
Một sai lầm phổ biến khác là GV dạy học sinh yếu bằng đúng cách mình dạy HS khá giỏi, chỉ khác ở chỗ nói chậm hơn hoặc nhắc lại nhiều lần. Điều này không giải quyết được vấn đề cốt lõi, bởi HS yếu thiếu nền tảng để xử lí thông tin. Khi GV tiếp tục giảng về giá trị nội dung, nghệ thuật, tư tưởng tác phẩm, trong khi HS còn chưa hiểu từ ngữ, chưa nắm được cốt truyện, chưa xác định được nhân vật chính,… thì mọi lời giảng dù hay đến đâu cũng trở thành vô nghĩa. Liên quan đến vấn đề này là việc GV chấm bài HS mất gốc bằng cùng một phương thức với các HS khác. Khi bài làm của HS yếu bị gạch đỏ dày đặc, nhận xét nặng nề mà không chỉ ra cách sửa, thì HS sẽ ngơ ngác, không biết phải làm thế nào. Nhiều GV nghĩ rằng chấm nghiêm thì HS mới tiến bộ, nhưng với HS mất gốc, chấm nghiêm phải là chỉ ra cách sửa lỗi để các em biết hướng mà thực hiện. Với học sinh yếu, “cách làm” quan trọng không kém, thậm chí quan trọng hơn “nội dung”.
Phần lớn, GV luôn phấn đấu để có được giờ dạy văn cuốn hút, truyền được cảm hứng. Với HS mất gốc, điều này có khi vô bổ. Những bài giảng trôi chảy, giàu cảm xúc, sử dụng nhiều thuật ngữ và khái niệm trừu tượng chỉ khiến các em thêm choáng ngợp. Các em không cần nghe phân tích sâu sắc về giá trị nhân đạo hay chiều sâu tư tưởng khi còn chưa hiểu nhân vật là ai, câu chuyện nói về điều gì, hay thậm chí chưa hiểu nghĩa của những từ cơ bản trong văn bản. Với HS mất gốc Ngữ văn GV không cần dạy hấp dẫn theo quan niệm thông thường, mà cần được dạy lại từ những điều rất căn bản: hiểu từng từ, từng câu, từng ý đơn giản; trả lời được câu hỏi ngắn; viết được một câu đúng ngữ pháp. Với các em, việc viết được ba câu không sai đã là một bước tiến đáng ghi nhận.
Về phương pháp, có những GV xem văn mẫu như một “phương thuốc thập toàn đại bổ” cho HS yếu. Với suy nghĩ “ít nhất cho các em có cái để chép”, GV phát văn mẫu, đọc văn mẫu, phân tích văn mẫu, thậm chí dạy HS học thuộc văn mẫu. Kết quả là HS có thể chép rất chăm chỉ, thuộc lòng rất nhiều đoạn văn, nhưng hoàn toàn không hiểu mình đang viết gì. Khi đề bài thay đổi (dĩ nhiên đây là điều diễn ra thường xuyên trong việc kiểm tra đánh giá theo chương trình Ngữ văn mới), các em lập tức lúng túng, không biết vận dụng, không biết biến đổi và quay lại trạng thái trắng tay. Văn mẫu, nếu không được sử dụng đúng cách, không giúp HS yếu tiến bộ mà chỉ củng cố thêm sự lệ thuộc và trạng thái bất lực.
Có lúc, GV vô tình làm tổn thương HS yếu bằng lời nói hoặc thái độ, dù không hề có ác ý. Những câu như “Cái này cô giảng bao nhiêu lần rồi”, “Sao em không chịu suy nghĩ”, “Viết thế này thì sao mà thi” có thể rất bình thường đối với GV, nhưng lại có sức nặng lớn với HS đã yếu sẵn. Những lời đó củng cố niềm tin tiêu cực của các em về bản thân và khiến các em từ bỏ việc học.
Như vậy, sai lầm lớn nhất của GV khi dạy HS mất gốc không phải ở năng lực chuyên môn mà ở việc áp dụng sai cách tiếp cận đối tượng. Khi coi HS mất gốc là “phiên bản” kém hơn của HS giỏi, khá, khi dạy mọi HS bằng cùng một phương cách, cùng một đích đến, cùng một thước đo, GV vô tình đẩy HS mất gốc vào ngõ cụt. Chỉ khi GV dừng lại, nhìn đúng vào những sai lầm quen thuộc của mình, thì việc dạy HS mất gốc mới có khả năng thay đổi.
Đinh Thanh Huyền