Tạp chí Hồng Lĩnh số 236 tháng 4/2026 hân hạnh giới thiệu bài viết “Hồi ức chiến tranh” của em Nguyễn Minh Thư - Lớp 8A4 - Trường THCS Lê Văn Thiêm - Phường Thành Sen - Tỉnh Hà Tĩnh (Tác phẩm tham dự Cuộc thi Viết - Vẽ tuổi học trò lần thứ XIV)
Sau buổi học, tôi mở chiếc máy tính quen thuộc. Chấm xanh trên dòng thời gian hiển thị tin nhắn của Hà từ hôm qua: “Thư, tớ thắc mắc một xíu thôi nha, tại sao chiến tranh đã trôi qua lâu lắm rồi mà trong lòng nhiều người Việt, những ký ức và cảm xúc về nó vẫn còn đọng lại, thậm chí khiến họ đôi lúc vẫn có cảm giác khó nguôi?" "Nói suy nghĩ của cậu đi, lớp mình chuẩn bị tổ chức hoạt động ngoại khóa về chủ đề người lính đấy!" Tôi như đọc được niềm hứng thú, trăn trở trong những con chữ vô hình của người bạn thân đã chuyển ra Hà Nội cùng bố mẹ.
Tôi lặng người một lúc, rồi nhẹ nhàng nhưng kiên quyết trả lời: “Cậu đã từng sống trong nỗi sợ hãi thường trực chưa? Từng chứng kiến người thân phải rời bỏ nhà cửa, phải đối mặt với những ngày thiếu thốn và khó khăn chưa? Từng thấy hy sinh, mất mát quanh mình mà không thể thay đổi được gì chưa? Từng đói khát đến mức ngấu nghiến một cái vỏ cây khô cứng chưa?”. Hà chưa trả lời nhưng tôi biết Hà không im lặng. Tuổi 14 tôi bắt đầu nhận ra những lời tôi nói, tôi biết, rất gây ám ảnh, nhưng những điều đó không phải là sự cường điệu, nó đều là những gì mà ông cha ta đã phải trải qua khi đất nước đang có chiến tranh, để rồi khi đã hòa bình, trong tâm trí họ, đôi khi cuộc chiến dường như vẫn như vừa hôm qua.
Tắt máy tính, tôi ngồi một mình trước bàn học. Đã nhiều lần tôi tự hỏi chính bản thân mình rằng: “Trái tim chúng ta đã bao giờ thực sự hiểu được hết nỗi đau, sự mất mát và sự hy sinh thầm lặng của những người cha, những người ông, những người đồng đội đã đánh đổi cả tuổi trẻ để cho chúng ta được sống trong hòa bình hay chưa?”. Tôi cũng từng tự hỏi, giữa nhịp sống êm đềm này, liệu có ai còn nhớ đến những ngày bom đạn khắc nghiệt mà cha ông ta đã trải qua, và liệu nó có còn vang vọng trong ký ức của mỗi chúng ta hay không? Phải chăng để có được những mùa xuân yên bình và tươi đẹp như bây giờ đã phải đánh đổi bằng tuổi xuân của biết bao nhiêu chiến sĩ trẻ tuổi sẵn sàng hy sinh thân mình để cống hiến cho đất nước hình chữ S này, những người may mắn sống sót thì lại mang trong mình thương tật do chiến tranh để lại…
Tháng 4 lại về, nhẹ nhàng tựa hơi thở của sương cỏ. Tháng 4 ở miền Trung đôi khi còn vương chút se lạnh cuối xuân. Nó mang theo một nét rất riêng biệt, khẽ khàng với những con đường phủ đầy sương sớm nhè nhẹ phả qua những mái ngói rêu phong. Nắng vàng nhạt, ửng dịu trên đường làng, hòa cùng gió khẽ lay những tán bàng xanh mướt. Không gian của miền sương vừa tĩnh lặng vừa dịu dàng, mang trong mình một nỗi buồn thầm lặng khó gọi tên.
Và trong sự yên ắng ấy, những ký ức về bom đạn, về chiến tranh lại ùa về, vừa dữ dội, mãnh liệt tựa một thước phim cũ. Những nỗi đau thầm lặng, những hy sinh âm thầm của những người đi trước, từng vệt sáng và bóng tối, vẫn lẩn quẩn đâu đó trong từng ngọn gió, từng hạt nắng hanh hao. Bình yên hôm nay, êm đềm và nhàn nhạt, nhưng có lẽ là kết tinh của quá khứ đầy mất mát, khiến tháng 4 miền Trung vừa đẹp vừa nặng trĩu trong lòng người. Tâm trí tôi dường như quay về lúc tôi còn bé, trong gian nhà nhỏ được bà ngoại kể cho tôi nghe về trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Câu chuyện bà kể nhiều lần lắm rồi nhưng mỗi lần tôi đòi nghe lại bà tôi không bao giờ từ chối. Bà vừa gãi lưng cho tôi vừa thủ thỉ kể chuyện. Những câu chuyện của bà tôi đôi khi tôi đã thuộc lòng. Tuy vậy, tôi luôn luôn nằm nghe với cảm giác hứng thú hệt như lần đầu tiên, có lẽ do giọng kể dịu dàng và âu yếm cùng đôi mắt xa xăm hằn những vết chân chim. Năm ấy ông và bà tôi chỉ vừa mới ngoài đôi mươi, độ tuổi đẹp nhất của một đời người. Ấy vậy mà chiến tranh đã cướp đi tất cả, nhà cửa, ruộng vườn, lấy đi mạng sống của biết bao người dân vô tội. Nhiều người đi trước phải rời mái nhà thân yêu, bước ra nơi chiến tuyến, bỏ lại tuổi thanh xuân và bình yên. Khi đất nước lâm nguy, ông ngoại tôi - một thầy giáo trẻ đã không ngần ngại mà lên đường tham gia trận chiến. Không chỉ ông, có rất nhiều người trẻ cũng ra đi theo tiếng gọi của đất nước. Họ quyết định từ bỏ giảng đường, gác lại ước mơ, tình yêu, và cả con đường tương lai tươi sáng phía trước. Tất cả đều cùng chung chí hướng, giành lại nền độc lập tự do quý báu cho đất nước. Vài tháng sau khi ông đi, bà cũng xung phong vào tuyến lửa.

Dòng người vào dâng hương viếng Anh hùng liệt sĩ tại Đài Tưởng niệm trong khuôn viên Thành cổ Quảng Trị. Ảnh nguồn: Vov.vn
Tôi vừa nghe vừa tưởng tượng hình ảnh những đoàn xe chạy dưới bóng trăng mờ, những người lính ngày đêm không ngủ. Giọng bà chợt xa xăm: “Chiến tranh đáng sợ và khốc liệt lắm cháu ạ! Nhà cửa, ruộng vườn tan hoang hết cả, mọi người thì vội vàng chạy đi sơ tán, khung cảnh hoang tàn lắm. Hồi đó bà còn trẻ mà đã tham gia gánh gạo, gánh ngô, tải đạn, chèo thuyền đưa các chiến sĩ, thương binh, lương thực, đạn dược qua sông Thạch Hãn. Có những đêm đang nằm dưới hầm nghe tiếng máy bay rít gào trên đầu, lòng thì nôn nao mà vẫn cố nhắm mắt nghỉ ngơi để mai còn có sức làm tiếp. Lúc đấy chỉ mong sao cho trời mau sáng, chiến tranh sớm kết thúc để trả lại sự bình yên cho dân tộc…” Nhớ lại những lời bà nói mà trái tim tôi như bị ai đó bóp nghẹt. Tôi chưa từng trải qua một cuộc sống khó khăn, nhưng tôi cũng phần nào thấm thía được những khó khăn, khổ cực mà ông cha ta đã phải hứng chịu.
Ông và bà tôi năm đó vừa mới kết hôn, tuổi xuân đang độ đẹp nhất. Nhưng chiến tranh lại đến như một cơn bão dữ, cuốn phăng mọi bình yên, xé toạc những ước mơ còn dang dở của biết bao nhiêu người trẻ. Bà từng kể, những ngày ấy, người dân sống trong nơm nớp và lo sợ, sợ tiếng pháo từ xa vọng lại, sợ những đêm bom sáng rực cả bầu trời, sợ đến cả những tiếng còi báo động ré lên từng hồi.
Ông tôi nhập ngũ vào một buổi chiều oi nồng. Trên vai chỉ có một chiếc ba lô đã sờn cũ. Những bước chân của ông rời khỏi căn nhà, bà đứng sau, mượn bóng hoàng hôn để che đi cặp mắt hoe đỏ. Ông quay lại, chỉ đúng một lần, gật đầu thật nhẹ rồi bước về phía chiến tuyến, nơi từng tấc đất, viên gạch đều nhuốm màu máu. Ông đi theo ánh chiều tà, khuất dần nơi chân trời kia.
Những ngày sống ở Thành cổ Quảng Trị, ông như sống giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Đêm không còn là đêm, vì pháo sáng liên tục, rực đỏ cả một bầu trời. Tiếng súng nổ dồn dập như muốn xé tan bầu khí quyển. Có những lúc ông và đồng đội phải nằm ép mình xuống hào suốt mấy giờ liền, mùi bùn trộn lẫn với mùi máu và mùi thuốc súng, xộc lên mũi từng đợt đến mức khó thở. Ông kể rằng, có những ngày mưa xối xả như muốn rửa trôi sự sống. Những hố bom lớn ngập trong nước, từng mái nhà bị san bằng, cây cối gãy đổ, từng thi thể của các chiến sĩ được đặt cạnh nhau, che lại bằng tấm bạt cũ sờn bạc. Có người khi ra đi, tay vẫn đang nắm chặt kẹp tóc của người hậu phương, một lá thư chưa kịp gửi đến hay một tấm ảnh chụp gia đình.Tất cả đều đã ngã xuống vì hòa bình dân tộc, mang theo lời thề hẹn ngày trở về mãi chẳng thể thực hiện được nữa. Để lại nỗi buồn đau nhói, xé lòng cho những người bên kia chiến tuyến đang từng ngày chờ mong họ quay về. Nhưng cũng vào những ngày tưởng chừng tăm tối ấy, tình đồng đội, tình người lại sáng lên như ngọn lửa nhỏ trong đêm tối lạnh lẽo.
Hôm định mệnh ấy, cái ngày để lại trên gương mặt ông một vết sẹo dài suốt đời, chiến trường khốc liệt hơn bất kì trận đánh nào trước đó. Mặt trời chưa kịp ló rạng, pháo giội xuống như trút nước. Mặt đất rung lên, từng đợt đất đá bắn tung khắp nơi. Trời lúc ấy mù mịt như phủ một lớp tro tàn khổng lồ. Hơi nóng từ vụ nổ hắt thẳng vào mặt khiến ông có cảm giác như da thịt muốn cháy sém, mùi thuốc súng nồng nặc đến khó thở. Nhưng khi nghe có đồng đội bị mắc kẹt giữa gần sông Thạch Hãn, ông đã không chút chần chừ mà lao ra giữa cơn mưa đạn pháo. Khói súng đặc quánh khiến ông vừa chạy vừa ho sặc sụa, đôi mắt đỏ lên cay xè. Lúc tìm thấy người chiến sĩ ấy, ông vội vàng cõng đồng đội mình lên lưng chạy về chiến hào. Bỗng một viên đạn từ đâu bay đến, sượt qua chân ông, đau điếng. Ấy vậy mà ông vẫn cố dùng hết sức lực của mình để cõng đồng đội chạy thật nhanh về chiến hào. Đến khi đưa đồng đội mình đến nơi, đột nhiên một tên địch từ sau lao ra, ông tôi không kịp phản ứng, bị con dao địch sượt một đường dài từ trên trán xuống qua mắt. Ông choáng váng, tai ù đi, mọi âm thanh trở nên méo mó như bị ai bóp nghẹt. Nhưng trong khoảnh khắc sinh tử, ông vẫn cắn răng chịu đau, và trong cơn hỗn loạn, ông quờ quạng phản kháng theo bản năng. Lúc ông ngã gục vào lòng những người chiến sĩ còn lại, mặt ông be bét máu, hơi thở đứt quãng, nhưng cánh tay vẫn vòng qua vai người bạn, như thể sợ buông ra thì ông ấy sẽ mãi nằm lại mãi mãi nơi bờ sông ấy. Mồ hôi và khói bụi vẫn còn bám trên người ông, nhưng xung quanh đã yên ắng dần. Tôi hình dung cảnh ấy, lòng bỗng nghẹn lại, như thể tôi cũng đứng bên bờ sông Thạch Hãn, chứng kiến từng nhịp thở dồn dập và từng nỗi sợ được kiềm chế trong ánh mắt đồng đội. Nhưng rồi hình ảnh ông trở về bên bà, tay trong tay giữa ánh chiều tà dịu dàng, khiến nỗi đau và mất mát dường như dịu đi phần nào. Bình yên hôm nay, êm đềm và giản dị, là kết tinh của tất cả những giọt mồ hôi, nỗi đau và hy sinh thầm lặng ấy, nhưng cũng là tình yêu, sự gắn bó bền chặt đã giúp họ vượt qua bóng tối của chiến tranh.
Tôi chợt trở về với thực tại, khi nắng chiều rơi nhẹ trên hiên nhà. Ông tôi ngồi đó, lặng lẽ và bình thản, như bao người ông khác giữa thời bình. Chỉ có vết sẹo dài hằn trên gương mặt ông là nhắc tôi nhớ rằng tuy chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương mà nó để lại thì chưa bao giờ thật sự biến mất. Chúng không còn rỉ máu, nhưng vẫn âm thầm tồn tại trong thân thể và trong cả những giấc ngủ chập chờn của những người từng đi qua chiến tranh, là một kí ức khiến ta phải luôn khắc cốt ghi tâm.
Nhìn vết sẹo ấy, tôi bỗng thấy lòng mình se lại, đó không chỉ là vết tích của đau đớn, mà là chứng tích của một thời tuổi trẻ đã dám đánh đổi tất cả vì hai chữ “hòa bình”. Tôi thấy biết ơn vì đã được sinh ra giữa những ngày tháng yên ả, và hơn hết, tôi thấy tự hào vì trong dòng chảy lịch sử ấy, ông tôi đã từng đứng ở tuyến đầu, để hôm nay tôi được sống một cuộc đời bình yên, giản dị và không còn tiếng bom rơi./.
Nguyễn Minh Thư