13-05-2026 - 01:34

Phạm Tiến Duật - lửa và trăng một chặng đường thơ

Tạp chí Hồng Lĩnh số 236 trân trọng giới thiệu bài viết “Phạm Tiến Duật - lửa và trăng một chặng đường thơ” của nhà thơ Lê Thành Nghị

Thế kỷ XX, chứng kiến ba chặng đường với những thay đổi căn bản của thơ ca Việt: Từ 1932 đến 1945 với Phong trào Thơ mới; Từ 1945 đến 1954 với Thơ ca kháng chiến chống xâm lược Pháp; Từ 1964 đến 1975 với Thơ ca chống Mỹ. …,và người “lĩnh xướng” dàn thơ chống Mỹ, nhà thơ của Trường Sơn…chính là Phạm Tiến Duật.

Có thể nói, nếu không có con đường Trường Sơn huyền thoại, cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ sẽ gian nan hơn, khó khăn hơn, lâu dài hơn, hy sinh lớn lao hơn rất nhiều so với những gì chúng ta đã trải qua. Cũng có thể nói, nếu không có con đường rừng Trường Sơn sẽ không có thơ Phạm Tiến Duật. Nổi bật trong thơ Phạm Tiến Duật là hai tương quan: LửaTrăng. Lửa trong từng câu, trong từng bài: Lửa, Vầng trăng quầng lửa, Vầng trăng và những quầng lửa, Đường dài và những đốm lửa. Về sau này còn có Tiếng bom và tiếng chuông chùa viết vào những ngày hòa bình mà vẫn cứ bập bùng ánh lửa”*. Lửa là tượng trưng hiện thực bóng đêm “một nửa mặt trăng chìm” của bom đạn ác liệt, thô cứng của sắt thép, hy sinh và chết chóc của chiến tranh. Trăng là một nửa còn lại, tượng trưng lãng mạn, tình tứ và mềm mại trong tâm hồn con người giữa bom đạn trên các cánh rừng đại ngàn.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật

Trong thơ Phạm Tiến Duật, mọi câu chuyện đều xoay quanh con đường Trường Sơn, con đường chở gạo, chở đạn, con đường chuyển quân, nơi thử thách ý chí của hàng vạn con người ngày đêm quên mình vì đất nước, nơi kẻ thù tập trung mọi sức mạnh bom đạn để hủy diệt. Nhưng hiện thực trong thơ Phạm Tiến Duật không đơn giản chỉ là “cái nhìn thấy”. Bao giờ cũng vậy, đi liền với cái nhìn thấy, sự liên tưởng liền tìm cách “vượt thoát” khỏi nó, hé mở một “hiện thực” khác ngoài nó, lung linh hơn, gợi cảm hơn Hình cánh hoa lan trên vai áo trắng ngần/ Là vết xước đinh hòm vừa mới xé (Nghe hò đêm bốc vác).

Tâm điểm của hai câu thơ này là “cánh hoa lan trên vai áo trắng ngần”. Nó dường như chỉ liên quan gián tiếp đến chiến tranh. Nói cách khác, chiến tranh là nguyên nhân nhưng lùi lại phía sau, “cánh hoa lan trắng ngần” là cái đến sau được đưa lên cận cảnh. Sự dữ dằn của chiến tranh được cố ý làm vơi bớt, xốn xang tâm tư được gợi mở, kích hoạt. Đấy là bút pháp thường thấy của Phạm Tiến Duật.

Phạm Tiến Duật dường như biết được, giữa những trọng điểm Trường Sơn ác liệt, một giọng thơ véo von, trầm bổng là không phù hợp, là vô lối, anh liền tạo ra một giọng điệu khác vừa như tinh nghịch lại vừa như tếu táo, cố ý ngang tàng, cười cợt, “xua đi” cái khốc liệt trần trụi thường ngày, cố ý quên đi những gian nan trước mắt: Không có kính, ừ thì có bụi…/ Không có kính, ừ thì ướt áo…/Không có mui xe, thùng xe cũng xước. Bởi vì: Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi…Tất cả chỉ muốn nói rằng không có gì phải bận tâm: Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước/ Chỉ cần trong xe có một trái tim (Bài thơ về tiểu đội xe không kính). Những câu trên là hiện thực, câu kết không còn là hiện thực nguyên vẹn nữa, đúng hơn chỉ còn là “một nửa hiện thực” như một triết lý, mang ý nghĩa mênh mông hơn hiện thực, nâng cả bài thơ lên một tầm vóc khác. Rất nhiều những “câu nói thường ngày”, cái thường ngày của chiến tranh gian khổ được đưa vào thơ tự nhiên như hơi thở của cuộc sống vừa tạo nên nét khỏe khoắn của tư duy, của diễn đạt, nét hiện đại của ngôn ngữ, vừa đưa thơ đến gần nhất có thể, tiếp cận với những suy nghĩ hàng ngày của con người Không cần rửa phì phèo châm điếu thuốc/ nhìn nhau mặt lấm cười ha ha (Bài thơ về tiểu đội xe không kính).

Tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để/ Anh lặng người như trôi trong tiếng ru (Gửi em, cô thanh niên xung phong).

Cái vết thương xoàng mà đưa viện (Nhớ).                                     

Ghép lại, đứng cạnh nhau thì “rất thơ”, tách ra từng câu hiện nguyên hình lời ăn tiếng nói hàng ngày. Ngôn ngữ trong mỗi câu không cần đến phép “tu từ”, tự chúng có khả năng “tập hợp” nghĩa. Mỗi từ mang một nghĩa thực, và khi đứng cạnh nhau thì tạo ra cái thực lớn hơn. Mới đọc tưởng dễ, tưởng “không có gì”, ngẫm ra thấy chí lý, riêng biệt, độc đáo, riêng một kiểu, mà vẫn thấy như “không có gì”. Phạm Tiến Duật từng viết: Tôi viết văn trong ánh lửa cháy nhà (Ký sự lửa).

 Còn đây là bức tranh mặt trận khác, đã được “lọc qua” bộ lọc cảm nhận, đã được “cài đặt” rất kín đáo và tinh tế của ý thức tuyên truyền. Nhưng tuyên truyền tự nhiên như chỉ là “nhân dịp”, không phải “cố ý” mà thực ra là rất cố ý: chiến tranh không phải là cuộc dạo chơi trong rừng, nhưng chiến tranh có gì mà phải sợ! Bởi vì những âm thanh của cuộc sống chiến đấu do con người tạo ra kia cao hơn mọi âm thanh chết chóc của chiến tranh. Tôi từ xa Seng Phan/ …Âm i tiếng tàu bay/ Vọng vào trí nhớ./ Tôi đến gần Seng Phan/ Nghe cây ầm ầm đổ/ Cốc chén chẳng nằm yên/ Lung lay cả ngọn đèn/ Tiếng bom như tiếng thú/      Tôi đứng giữa Seng Phan/ Cao hơn tiếng bom là khe núi tiếng đàn/ Tiếng mìn công binh đánh đá/ Tiếng điếu cày rít lên thong thả…/ Tiếng oai nghiêm xe rú máy trên đường…/ Thế đấy giữa chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ (Tiếng bom ở Seng Phan).

Nhưng ít khi Phạm Tiến Duật mô tả chiến tranh chỉ để mô tả. Đi kèm một câu, một đoạn mô tả, Phạm Tiến Duật lại “cài” một câu tình tứ, như thể cố ý làm nhòe mờ cái thực mà ngòi bút của anh vừa dựng lên. Ở đó người đọc như được an ủi, như được thở hít dưỡng khí, như được tắm gội. Bớt đi một thứ là “cập kênh” ngay. Bao nhiêu năm trường kỳ vì một nền văn học cần “áp sát” cuộc sống, bao nhiêu tác giả đã từng công khai, hoặc kín đáo làm theo câu “tâm niệm” có phần nông nổi một thời “chân, chân, chân – thật, thật, thật” để rồi có lúc, có nơi đưa vào thơ bao nhiêu là vội vàng, sống sít, đến Phạm Tiến Duật, anh trộn thơ ca với bụi đất, bom đạn Trường Sơn thành một thứ “giá thể” màu mỡ rồi gieo lên đó “vạt hoa vàng lãng mạn” của thế hệ mình: Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay (Đi trong rừng). Thơ Phạm Tiến Duật không làm người đọc chỉ vì cái “thật” mà có thể quên đi cái “ảo”. Bom bi nổ chậm trên đỉnh đồi/ Lốm đốm nền trời những quầng lửa đỏ/ Một lát sau cũng từ phía đó/ Trăng lên. (Vầng trăng và những quầng lửa).

Xin các bạn lưu ý một chi tiết nhỏ: trong bốn câu thơ trên, “trăng lên” được đặt sau những “bom bi nổ chậm”, “lốm đốm những quầng lửa đỏ”, như thể cái lãng mạn đang thoát lên từ cái hiện thực. Còn ở “tít” bài (Vầng trăng và những quầng lửa) “vầng trăng” được đặt trước những “quầng lửa”, như muốn nói rằng trước hết không phải là hiện thực, hoặc hiện thực không phải là cái duy nhất. Thơ Phạm Tiến Duật thực đấy mà ảo đấy, khi thì lấy thực làm nền, khi thì dùng ảo làm cánh bay lên từ cái thực, khó mà nói được cái nào cần hơn cái nào: Giữa một vùng bụi đất khô rang/ Em bỗng đến như dòng sông đầy nước (Nghe em hát trong rừng).

Cả một vùng bom rơi bay tung bụi cát/ Mà hố đá trong veo nước mát/ Đến đây uống nước đàn bướm bay (Hố nước).

Đấy là thiên nhiên nơi mặt trận theo quan sát của Phạm Tiến Duật. Còn đây là cuộc sống và tâm hồn của con người giữa bom đạn: Em là con gái lái xe/ Giặc nhằm bắn bốn bề lửa cháy/ Cái buồng lái là buồng con gái/ Vẫn cành hoa mềm mại cài ngang (Niềm tin có thật).

Có một sự đối lập trong câu chữ giữa “bốn bề lửa cháy” và “cành hoa mềm mại” được đặt vào chữ “vẫn” như là hai đầu của một cái “cập kênh”, hai mặt của một cặp phạm trù bị trộn lẫn, thô cứng và mềm mại, xung khắc đấy nhưng hợp lý đấy. Câu thơ trôi chảy tự nhiên, không hề khiên cưỡng. Cũng như không hề khiên cưỡng khi anh viết: Đường ra trận mùa này đẹp lắm (Trường Sơn Đông- Trường Sơn Tây). Phạm Tiến Duật cho rằng: Trường phái hiện thực trong thơ bao giờ cũng muốn người đời nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, sờ thấy, cảm thấy bằng da, bằng thịt những gì nhà thơ muốn đem lại cho họ. Dường như các nhà thơ lãng mạn thì chỉ muốn người đọc thấy linh hồn của sự vật là đủ…Có thể cảm thấy rét trước cả mùa đông, thấy ướt trước cả cơn mưa **. Thực tế Phạm Tiến Duật có khá nhiều câu thơ kiểu “thơ dừng mà ý không dừng” như vậy: Cứ đi, cứ đi nghe lắm âm thanh mới lạ (Lửa đèn)…Lại đi, lại đi trời xanh thêm (Bài thơ về tiểu đội xe không kính)… Cây ngả nghiêng trong tiếng bom Mỹ dội/ Quầng nắng trong rừng như những bước chân son (Nghĩ về lũ trẻ)…Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến (Nhớ)…Dẫu đường dài có toàn nước và lửa/ Thì trời xanh và gió vẫn trên đầu (Trời xanh và gió)…Đấy, trong một câu hàm chứa cả hai sắc thái, hoặc cứ một câu “cứng” lại có ngay một câu “mềm” đi kèm “cập kênh” như chiến trường khốc liệt vốn thế, và rộng ra cuộc đời vẫn thế. Câu cứng là điều không tránh khỏi của chiến tranh, mà mỗi người trong cuộc phải chấp nhận, đương đầu, câu mềm là sự tốt lành trong mỗi tâm hồn họ mà người viết muốn nói lên. Đấy chính là hạnh phúc của niềm say mê ra trận, mà những ai ở hậu phương không thể hình dung hết được. Hiển nhiên, không ai nói chiến tranh là tốt đẹp, nhưng chiến tranh có những khoảnh khắc tỏa sáng của ý chí, của khả năng vượt qua những thử thách khác thường, của vẻ đẹp tâm hồn những người đang trực tiếp cầm súng. Bởi vậy thơ Phạm Tiến Duật mới ngân nga trong tâm hồn họ, như dòng suối mát lành “rửa trôi” những u uẩn nếu có, làm dịu bớt những vết thương đau, nâng bước chân hành quân của họ trên những nẻo đường gian nan suốt những năm tháng chiến tranh.

Nhưng vấn đề là vì sao Phạm Tiến Duật thường có ý thức tạo ra trong thơ mình “hai nửa” của một “hiện thực khách quan” như trên chúng ta đã nói. Nếu Phạm Tiến Duật chỉ tập trung mô tả sự ác liệt của chiến tranh trên con đường Trường Sơn theo cách “tả thực”, để làm người đọc nhận chân được bản chất của hiện thực, chắc cũng không khó đối với anh, một người từng ngang dọc trên con đường bom đạn ấy. Và nếu thế, may lắm thơ Phạm Tiến Duật cũng chỉ là “bức tranh hiện thực” khốc liệt, rất nhiều người cũng có thể làm được. Chất nghệ sỹ và tính nhân đạo của ngòi bút Phạm Tiến Duật hướng anh đến cách làm khác: khai thác cái đẹp ngay trong lòng cái thô phàm, tìm ra cái có thể ngay trong cái không thể, lấy cái muôn thuở là tâm hồn khát khao cái đẹp của con người để chế ngự cái trước mắt là chiến tranh. Con đường chiều nay sao đẹp thế/ rùng bước lên nhau dù không cùng thế kỷ/ Chỉ khác một điều chân bước thấy vang hơn/ Bi đông thay ống tre đựng nước/ hung cả bay thêm bươm bướm chuồn chuồn (Chuyện lạ gặp trên đường hành quân).

Thực ra ai cũng biết thung lũng vẫn nghìn năm “bươm bướm chuồn chuồn” như thế không phải bây giờ mới có chuyện “bay thêm” như Phạm Tiến Duật nhìn thấy. Nhưng một câu thơ đẹp như vậy nói về cuộc hành quân, hẳn không phải là vô cớ. Cái chính là nhà thơ muốn những bước chân hành quân mệt mỏi kia như thấy “vang hơn”, và nhẹ đi phần nào. Ai nói Phạm Tiến Duật không “tuyên truyền”? Chỉ khác là anh không lộ liễu, không sống sít, mà tự để cái đẹp làm phận sự của nó. Cũng với một bút pháp như vậy, trong bài Đèn trăng, những câu thơ chảy tràn ánh trăng, làm nhòe mờ không gian, không còn biết đâu là hiện thực, đâu là lãng mạn nữa: Một dòng sông trăng chảy ra tiền tuyến/ Khuôn mặt nào cũng có trăng ghé đến/ Cánh tay nào cũng có ánh trăng nâng/ (Lửa đèn).

Và đây không chỉ là những ngày gian nan là còn là ký ức không quên về những tháng ngày kia: Suốt mười năm bạn có nhớ không nào/ Cơn sốt Trường Sơn hai ta cùng nếm trải/ Bom đạn Mỹ đã làm ta sát lại/ Ăn chung củ sắn lùi, điếu thuốc cũng cùng nhau (Đất nước Lào ơi, một mùa khô lại đến).

Phạm Tiến Duật không giấu những khoảnh khắc riêng tư của mình Anh nằm nhớ Thủ đô và nhớ em khôn xiết/ Gió thổi đêm nay hun hút đại ngàn (Chia ra, nhập lại).

Cũng có nhiều khi Phạm Tiến Duật bày tỏ rất “lộ” nhưng người đọc chấp nhận được, bởi vì câu thơ đặt đúng chỗ và đấy là những nơi người ta thấy rõ tấm lòng của người viết, một tấm lòng biết nâng niu, giữ gìn những gì là ký ức không lặp lại của một thời, những ký ức mà chỉ những người trong cuộc mới thấy hết sự quý giá của chúng. Đấy là những chỗ tấm lòng của người viết đang rung ngân một thứ tình cảm chỉ những người trong hoàn cảnh ấy mới cảm nhận hết: Lúc xe dừng phong bánh khô xẻ nửa/ Nước uống hết rồi, thương biết mấy là thương (Chúng ta đi đường dài).

Chữ “thương” rất quen, rất ngọt ngào hình như từ ca dao dân ca Việt, từ ngôn ngữ của những chàng trai cô gái trên mảnh đất đầy gian khổ này, làm nên âm điệu da diết của bản “tình ca Trường Sơn” nổi tiếng Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây mà mỗi lần nghe đến (Trường Sơn Tây anh đi thương em/ Thương em bên ấy mưa nhiều…) là cả một cánh rừng, cả một cuộc chiến, cả một thời kỳ…với những con người mang trong tim nhiệt huyết và tình yêu của tuổi trẻ lại hiện lên gian nan, rắn rỏi, tình tứ và mơ mộng…chỉ có ở Trường Sơn những ngày đánh Mỹ.

Tất cả những gì làm nên sự mềm mại trong thơ Phạm Tiến Duật có thể xem là phần “Trăng” lấp lánh trong những câu thơ, một phần rất đáng kể để làm dịu đi phần rát bỏng của “Lửa”, cũng hết sức đặc biệt trong thơ anh. Nói Phạm Tiến Duật là nhà thơ của Trường Sơn, chưa đủ. Anh là người có công đột phá đưa thơ chống Mỹ lên một tầm vóc mới, một giọng điệu mới, một bước ngoặt mới, một thi pháp mới… của thơ ca Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX.

L.T.N

______________

*Đỗ Chu: Anh Duật, trong toàn tập Phạm Tiến Duật, NXB Hội Nhà văn, H,2009, tr.761

**Sách trên, tr. 419

. . . . .
Loading the player...