Tạp chí Hồng Lĩnh số 236 trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Lớp học cuối hẻm” của tác giả Linh Châu
Nắng chiều đổ lửa xuống mặt đường nhựa, hắt lên hơi nóng hầm hập như muốn thiêu cháy những bước chân trần. Nam quệt ngang dòng mồ hôi đang chảy dài trên má, mắt vẫn không thôi dáo dác nhìn quanh các vỉa hè, hy vọng nhặt thêm được vài vỏ lon sót lại. Tiếng còi xe ngoài ngã tư thưa dần, Nam đi về phía hẻm, tay ôm chặt túi ve chai leng keng. Mồ hôi chảy xuống sống lưng, dính bết cái áo thun đã bạc màu. Đi ngang căn phòng trọ cuối hẻm, Nam thấy cánh cửa gỗ hé mở, bên trong vang ra tiếng đọc bài ê a:
- A… Ă… Â… Bà… bé… bé ngoan…
- Bé ngoan chứ không phải bé ngoằn. Ngoằn là con rắn đó, hiểu chưa?
Cả đám cười rần lên.
Nam ghé mắt nhìn vào. Căn phòng chưa tới mười lăm mét vuông, tường loang lổ những vệt nước cũ. Giữa phòng là cái bàn gỗ thấp, quanh đó chừng chục đứa trẻ đủ mọi tuổi. Đứng phía trên cái bảng trắng đã ngả màu là một cụ bà tóc bạc trắng búi gọn phía sau gáy, trên sống mũi là cặp kính gọng nhựa đã trầy đang cầm cái thước gỗ, gõ nhịp trên mặt bàn: “Đọc lại nguyên câu nào, cả lớp!”
Đôi mắt Nam dán chặt vào những con chữ nhảy múa trên bảng đen qua khe cửa hẹp. Lúc trước nó cũng từng có sách vở, từng được ê a đánh vần những chữ cái đầu đời. Thế nhưng, từ ngày ba bỏ đi biệt xứ, mẹ lại đổ bệnh liệt giường sau những đêm thức trắng lo toan, Nam buộc phải nghỉ học giữa chừng, hết đi phụ bưng bê ở quán cơm đầu phố lại quay sang lượm ve chai qua ngày để kiếm tiền thuốc thang cho mẹ. Thỉnh thoảng, mỗi khi đi ngang con hẻm vào buổi chiều, tiếng đọc bài đồng thanh hay những điệu cười trong trẻo ấy vẫn luôn níu lấy đôi chân gầy guộc của nó. Thanh âm ấy như có ma lực, khiến một đứa trẻ vốn đã quen với bụi đường và những tiếng quát tháo ngoài chợ bỗng thấy lòng dịu lại. Hôm nay không hiểu sao, nó đứng lại lâu hơn mọi khi, lấp ló sau cánh cửa gỗ cũ kỹ, miệng lẩm nhẩm theo từng con chữ một cách vô thức. Đúng lúc ấy, bà giáo ngẩng đầu lên, ánh mắt hiền từ bất chợt bắt gặp thằng bé đang núp sau cánh cửa với bộ quần áo lấm lem.
- Ai ngoài cửa vậy? Vào đây xem nào!
Nam lúng túng bước vào, tay vẫn ôm cái túi ve chai. Bà giáo kéo cái ghế nhựa trống ở góc bàn:
- Con ngồi xuống đây. Nói bà nghe xem tên gì? Học lớp mấy rồi?
- Dạ… con tên Nam. Con… nghỉ học rồi cô.
- Trước đó học tới lớp mấy?
- Dạ… hết lớp 4.
Bà giáo nhìn Nam:
- Con thích học lại không?
Ký ức về cái lớp học cũ bỗng ùa về, rõ mồn một như vừa mới hôm qua: cái bảng đen loang lổ vết phấn, tiếng bạn bè trêu đùa rộn rã và cả cái mùi hăng hắc của mực tím trên những trang vở mới. Nhưng rồi, hình ảnh đó tan biến, nhường chỗ cho bóng dáng gầy rộc của mẹ đang ho khù khụ trong căn phòng tối, nơi hũ gạo đã cạn khô từ mấy hôm nay. Nó cúi gằm mặt, giọng nghẹn lại trong cổ họng:
- Dạ… con phải đi nhặt ve chai phụ mẹ. Con… không có tiền đóng học cô ơi.
Bà giáo bật cười:
- Ai bảo con đóng học? Lớp này là lớp tình thương. Học phí là… phải tới đúng giờ và ngoan. Được không?
Cả đám nhỏ cười ồ lên, có đứa vỗ tay bôm bốp. Nam ngước lên, mắt tròn xoe:
- Thật là không có đóng tiền gì hết ạ cô?
-Với điều kiện đừng có trốn học đi bắn cá nghe chưa.
Nam đỏ mặt:
- Dạ con đâu có tiền bắn cá…
- Cả lớp, xếp cho bạn Nam một chỗ, ai có vở dư, bút dư cho bạn mượn. Mai cô cho quyển mới.
Nam lóng ngóng ngồi vào chiếc ghế gỗ thấp, đặt túi ve chai ngay dưới chân như sợ ai lấy mất, nhưng tâm trí thì đã bay bổng theo những con chữ trên bảng. Những con số của bảng cửu chương vốn khô khan, nay qua cách giảng của bà giáo và sự giúp đỡ của đám bạn mới, bỗng trở nên thân thuộc lạ kỳ. Khi buổi học kết thúc, nắng chiều đã nhuộm đỏ cả con hẻm nhỏ. Nam bước ra khỏi căn phòng trọ, vai vẫn đeo túi ve chai leng keng nhưng bước chân dường như nhẹ bẫng. Trong túi áo thun bạc màu, cậu nâng niu mẩu bút chì cùn và vài tờ giấy đôi mà các bạn vừa tặng. Gió chiều thổi qua, mang theo mùi cơm chín và cả mùi hy vọng len lỏi trong từng kẽ lá. Nam vừa đi vừa nhẩm bài, lòng thầm hứa ngày mai sẽ đi nhặt ve chai sớm hơn một chút, để kịp tham gia buổi học tình thương.
*
Một ngày của bà Lân bắt đầu khi phố xá còn chưa kịp trở mình. Năm giờ sáng, chiếc điện thoại cũ kỹ rung lên bần bật trên mặt bàn gỗ, kéo bà ra khỏi giấc ngủ chập chờn. Bà lúi húi khoác thêm chiếc áo len đã sờn vai, hơi lạnh của sương sớm khiến những khớp xương già nua khẽ nhức mỏi. Bà đun nước, pha một ấm trà nhỏ cho ấm bụng rồi lẳng lặng nhai tạm ổ bánh mì khô khốc còn sót lại từ tối qua. Trên mảng tường vôi bong tróc, những tờ giấy chi chít chữ treo ngay ngắn như một "trạm chỉ huy" nhỏ: nào là lịch trực, thời khóa biểu lớp học tình thương, danh sách 12 hộ khó khăn trong dãy trọ, đến cả cuốn sổ ghi tỉ mỉ từng ký gạo cứu trợ mỗi tháng.

Minh họa: QUỲNH VÂN
Khi ánh bình minh vừa lên, bà quàng túi vải sờn lên vai, bên trong là xấp vé số thơm mùi mực mới, đi qua con hẻm nhỏ vẫn còn ướt nước từ những vệt rửa sân sớm. Mùi cà phê đắng lẫn trong hương xôi nếp thơm nồng báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Bà đi bộ theo lộ trình quen thuộc: từ hẻm ra chợ, tạt qua cổng bệnh viện, rồi vòng ngược lại khu công ty may.
Thấy bóng dáng gầy gò của bà thấp thoáng phía xa, một người quen đang dọn hàng cười nói vọng ra:
- Bữa nay cô Lân ra trễ nha!
- Tối qua chấm bài tụi nhỏ tới khuya, ngủ quên chút. - Bà cười, chìa xấp vé. - Mua giúp cô vài tờ, biết đâu trúng độc đắc đó nha.
Cứ thế, nắng đứng bóng, bà ghé vào tiệm cơm bình dân quen thuộc nơi đầu phố, gọi một tô canh chua nhỏ rồi xin thêm chén cơm trắng cho qua bữa. Cô chủ quán trẻ tuổi, tay thoăn thoắt xới cơm, vừa nháy mắt tinh nghịch vừa hỏi:
- Bữa nào cô cũng gọi có nhiêu đây, không tính đổi món sao cô?
Bà Lân mỉm cười:
- Già rồi ăn ít cũng được con. Để dành tiền mua vở cho tụi nhỏ, tụi nó đang tuổi ăn tuổi lớn, cần hơn bà.
Ăn xong, bà lững thững về lại phòng trọ, tranh thủ chợp mắt để lấy sức cho buổi chiều. Căn phòng nhỏ lặng tờ, chỉ còn tiếng chiếc quạt máy cũ kỹ quay cọt kẹt. Trên chiếc bàn gỗ bạc màu cạnh giường, những bộ sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 được bà xếp ngay ngắn, mỗi cuốn đều được bọc bìa nilon cẩn thận, phẳng phiu. Đầu giờ chiều, bà lại khoác túi vé số lên vai, tiếp tục hành trình dưới cái nắng gắt. Đôi chân đã bắt đầu mỏi nhừ, cái lưng già nua thỉnh thoảng lại nhói lên từng cơn đau buốt. Thế nhưng, cứ nghĩ đến ánh mắt ham học của bọn trẻ, nghĩ đến danh sách 12 hộ nghèo đang chờ chút gạo, chút mắm trong cuốn sổ tay, bà lại thấy lòng mình vững chãi hơn, bước chân dường như cũng nhanh hơn một chút. Bà ngồi bệt xuống chiếc ghế nhựa, rút cuốn sổ con đã sờn mép ra, ghi chép lại thành quả của một ngày: “Ngày 14. Bán 240 tờ. Lời… chia làm 3 phần.”
Phần một: Vở, bút, quà cho lớp học tình thương.
Phần hai: Hỗ trợ 12 hộ khó khăn trong dãy trọ.
Phần ba: Tiền phòng, điện nước và tiền ăn của mình.
Bà nhìn những con số, khẽ thở phào. Khoản dành cho mình tuy ít ỏi, chỉ đủ rau cháo qua ngày, nhưng nhìn dòng chữ "Vở, bút" nằm trang trọng ở phần đầu tiên, bà Lân thấy lòng nhẹ tênh.
Lớp học bắt đầu khi nắng chiều vừa tắt hẳn. Gió từ con hẻm nhỏ lùa qua ô cửa sổ cũ kỹ, mang theo đủ thứ thanh âm của phố thị: tiếng còi xe inh ỏi, tiếng rao hàng và cả tiếng trẻ con nô đùa đâu đó xa xăm. Nam luôn là đứa đến sớm nhất. Từ bốn giờ rưỡi, nó đã lúi húi quét dọn, lau sạch những vết phấn cũ trên bảng bằng một mảnh giẻ rách. Bà Lân vừa chuẩn bị giáo án, vừa thong thả hỏi bài:
- Con đọc lại bảng cửu chương 7 cho cô nghe xem!
- Dạ… Bảy nhân một là bảy. Bảy nhân hai… mười bốn….
Lát sau, đám nhỏ lục đục kéo đến. Đứa xách túi nilon đựng mấy cuốn vở cũ, đứa dắt theo đứa em còn đang ngái ngủ. Buổi học bắt đầu bằng những tiếng đánh vần ê a và những phép toán nắn nót. Có đôi khi, bà ngừng giảng bài, kể cho tụi nhỏ nghe về những ngày xưa đi dạy ở trường làng, về những anh kỹ sư, chị bác sĩ từng nghèo xơ xác nhưng chưa bao giờ bỏ cuộc. Tết nào họ cũng về thăm bà, mang theo chút bánh trái, chút gạo thơm để tri ân người lái đò cũ. Bà khẽ vuốt mái đầu cháy nắng của một đứa trẻ ngồi bàn đầu, chậm rãi nói:“Cô kể không phải để khoe đâu mà để tụi con tin rằng, cuộc đời này luôn có lối đi cho những ai không bỏ cuộc.”
Trong ngăn bàn của bà có một cuốn sổ màu vàng, bốn góc bìa đã quăn tít. Đó là cuốn sổ ghi tên 12 hộ mà bà gọi là đặc biệt khó khăn. Trang đầu là nhà bà Tư mù sống cùng đứa con trai bị tai nạn; trang sau là ông Năm xích lô sau cơn tai biến... Mỗi tháng, sau khi tính toán chi li, bà lại ra đầu hẻm chở gạo về phân phát. Người ta ái ngại hỏi:
- Sao cô không giữ tiền mà dưỡng già?
Bà chỉ cười hóm hỉnh:
- Cô có mái trọ che thân, có chén cơm ấm bụng là đủ rồi. Mấy đứa nhỏ này mới chính là “sổ tiết kiệm” của cô đó. Mai mốt các cháu thành người đàng hoàng, biết thương người, biết sống tử tế, đó chính là phần lãi lớn nhất của đời cô.
*
Một tối mưa tầm tã, nước dâng lên gần mắt cá chân, con hẻm nhỏ bỗng chốc hóa thành dòng sông đục ngầu. Đám nhỏ lóp ngóp dắt tay nhau đến lớp, đứa nào đứa nấy ướt lướt thướt như chuột lột, quần áo dính bết vào người tím tái vì lạnh. Bà Lân xót xa chạy ra đón, giọng run run:
- Trời đất ơi, mưa gió thế này mà cũng đi học cho được. Té ngã thì biết tính sao đây?
Hậu cười:
- Không đi học thì nhớ cô, nhớ lớp lắm ạ!
Cả lớp cười, bà Lân cũng bật cười theo.
Buổi học hôm đó, ngoài tiếng mưa gõ trên mái tôn, còn có tiếng ho của bà. Lúc đầu là vài tiếng khan, sau đó dồn dập hơn. Đám nhỏ sợ hãi, xúm lại:
- Cô ơi hay bữa nay mình nghỉ sớm đi cô!
Hôm sau, tụi nhỏ mới biết bà bị viêm phổi, phải nằm viện vài hôm. Mấy ngày đó, chiều không tới lớp, Nam lang thang quanh hẻm, tay ôm túi ve chai, nhưng tâm trí luôn nghĩ tới hình ảnh bà chấm bài dưới ánh đèn vàng, chép nhận xét tận tình vào sổ liên lạc từng đứa:
“Nam: chữ tiến bộ, cần tập trung hơn.”
“Hậu: chăm chỉ, chịu khó.”
“Tí: hay chạy ra chạy vô, nhưng thông minh.”
Nam chợt hiểu ra một điều mà trước đây nó chưa từng nghĩ tới: Không chỉ có đám trẻ nghèo này cần bà, mà chính bà cũng cần tụi nó. Những tiếng đọc bài ê a, những nụ cười hồn nhiên ấy chính là liều thuốc tinh thần, là động lực sống mãnh liệt giúp bà vượt qua những cơn đau nhức mỏi và nỗi cô đơn của tuổi già.
Chỉ ba ngày sau đợt đổ bệnh, bà Lân đã vội trở về. Chưa đầy một tuần, bóng dáng gầy gò ấy đã lại đứng bên bục giảng, mặc cho mấy cô hàng xóm xúm lại quở trách:
- Thôi nghỉ thêm vài bữa cho khỏe hẳn đi chị Lân ơi, cố chi cho cực thân vậy!
- Lạ lắm, cứ tới lớp nhìn mặt tụi nhỏ là chị thấy khỏe ra liền, nằm nhà một mình còn mệt hơn.
Thời gian cứ thế lẳng lặng trôi qua con hẻm nhỏ, lớp học tình thương ngày một đông vui hơn. Có đứa là con chị công nhân mới chuyển về xóm trọ, có đứa là cậu bé đánh giày ngoài ngã tư. Học trò của bà đủ mọi lứa tuổi: có em mới lên tám vừa biết mặt chữ, cũng có những "thanh niên" đã ngoài đôi mươi nhưng cuộc đời xô đẩy chưa một lần được chạm tay vào cuốn sách. Căn phòng trọ nhỏ xíu được bà khéo léo chia thành từng góc: nhóm tập đọc, nhóm làm toán, nhóm luyện viết. Nam bây giờ đã đĩnh đạc hơn trong "vai" đàn anh trợ giảng. Thay vì ôm túi ve chai đứng nép sau cửa như ngày đầu, nó giờ đây ân cần ngồi kèm cặp mấy đứa nhỏ, kiên nhẫn chỉ tụi nó cách cầm cây bút chì cùn, cách nắn nót từng nét chữ cho ngay hàng thẳng lối trên trang giấy trắng.
Một chiều nọ, đang giờ học thì có tiếng gõ cửa:
- Dạ, cô Lân có đây không?
Cửa mở ra, một cô gái khoảng hai lăm tuổi, mặc áo sơ mi trắng, quần tây đen, tay ôm một túi quà to. Bà Lân nheo mắt, nhìn một lúc, rồi reo lên:
- Trang hả con? Sao lâu rồi không thấy ghé lớp chơi?
Cô gái mắt rưng rưng…
Trang từng là học trò của lớp tình thương những ngày đầu tiên. Hồi đó, cô bán hột vịt lộn dạo, tối tranh thủ học chữ với bà. Sau này, có người giới thiệu làm công nhân may, rồi học bổ túc, rồi thi trung cấp. Giờ là nhân viên văn phòng cho một công ty chuyên thiết kế trang phục cao cấp.
- Đây là ít sách giáo khoa mới với vở, bút, rồi ít bánh kẹo cho tụi nhỏ. Còn đây là chút tiền con dành dụm, cô dùng mua gạo cho mấy hộ khó khăn.
Bà xua tay: - Thôi, thôi, con mới đi làm, còn nhiều thứ phải lo.
- Ngày xưa nếu không có cô, chắc giờ con vẫn bán hột vịt lộn ngoài kia. Con muốn tụi nhỏ bây giờ cũng có cơ hội như con.
Đám học trò ngồi im, mắt tròn xoe.
Cũng đúng lúc ấy, có người trong phường tới. Chú cán bộ trẻ, đeo thẻ, đi cùng cô cán bộ phụ nữ khu phố. Họ ngồi ở chiếc ghế nhựa, nhìn quanh lớp học chật chội nhưng gọn gàng.
- Chào cô! Chúng con tới đây một phần là thăm cô, một phần là… trao đổi chút chuyện về lớp học.
Nam ngồi phía sau, tim đập nhanh. Nó sợ người ta bắt nghỉ lớp, bắt tụi nó về nhà.
- Mấy chú cứ nói. Cô nghe.
Cô cán bộ phụ nữ cười:
- Trên phường biết cô có lớp tình thương lâu rồi, ai cũng quý. Chỉ là gần đây có quy định mới, tụi con đang tính xin cho lớp mình thành một “câu lạc bộ học tập cộng đồng”. Như vậy tụi nhỏ sẽ có sách, có bàn ghế. Cô đỡ phải tự lo hết toàn bộ như hiện nay.
- Mấy chú, nếu vậy, tụi nhỏ có phải đóng tiền gì không?
- Dạ không cô. Hoàn toàn miễn phí.
Bà gật đầu, khóe môi run run.
Khi hai người ra về, Nam mới dám thở phào.
- Cô sợ người ta bắt nghỉ hả cô? – Nam hỏi nhỏ.
- Không đâu. Cô sợ tới một ngày già thêm chút nữa, chân không đi nổi, không bán được vé số, không đứng lớp được. Nhưng nếu có thêm người chung tay, cô yên tâm hơn rồi.
*
Phố nhỏ đã ngủ yên từ lâu. Trong căn gác nhỏ chật hẹp, bà Lân ngước nhìn bóng đèn vàng vọt soi bóng lên trần nhà cũ kỹ. Ngày mai, 240 tờ vé số lại theo chân bà xuống phố, tiếp tục xây lên những giấc mơ như cái cách bà đang duy trì đời dạy học của đời mình, tiếp tục thắp lửa cho những tâm hồn đang khát khao ánh sáng!
L.C