12-04-2026 - 04:32

Truyện ngắn “Người lẩn thẩn” của tác giả Nguyễn Trung Tuyến

Tạp chí Hồng Lĩnh số 235 trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Người lẩn thẩn” của tác giả Nguyễn Trung Tuyến

Vô công rỗi nghề hắn lại hay nhớ chuyện cũ. Chiều nay nhìn đám trẻ lùa đàn trâu bò qua ngõ lại xui hắn nhớ ông Sáu ấy.  

Không đoán được ông ngoài bảy mươi, tám mươi hay đã hơn chín mươi tuổi. Người ông gầy choắt, cổ dài ngoẳng như cổ cò, nhìn chính diện thì thấy vẫn là cái mặt người nhưng nhìn nghiêng thì trông hao hao giống cái tượng gọt đẽo sơ sài từ củ tre. Thật ra thì đã ông ngoài thất thập. Những nét chạm khắc của đấng hóa công cho kiếp người khó nhọc thường rất vụng về cẩu thả. Trên manh chiếu, giữa hoang vu, ông nằm mắt lim dim nhìn vào một nơi vô định nào đó. Cái ống điếu thuốc lào - bạn chiến đấu, nằm chỏng vó bên cạnh. Đúng thế, chỉ có cái điếu thuốc lào là bạn gắn bó trung thành với ông thôi. Người ngợm như thế thì ma nào bạn với ông chứ! Mà ông cũng chẳng cần hệ lụy ai, con người gần đất xa trời này có quan điểm sống rất thực tế : “Đời khổ nhiều rồi. Bây giờ Trời cho được ngày nào hay ngày đó. Ai chê, ai khen? Kệ. Chỉ sợ mỗi ông Trời thôi”. Cũng vì sống lặng lẽ, cũ kỹ, vẻ lẩn thẩn nên ai cũng xem ông Sáu hôi như cú ấy là người vô hại, chẳng mấy ai quan tâm và dễ bị quên lãng.

*

Bọn trẻ chúng tôi lùa đàn trâu bò từ bãi sông lên thì chợt thấy ông Sáu nằm buồn thiu bên ống điếu dưới gốc cây vông bên nách nghĩa địa Đồng Cùng. Chúng tôi tò mò quá đỗi. Bèn rủ nhau len lén lại gần. Ông cũng thấy bọn trẻ. Nhưng… “kệ”.

Thằng Anh Bang trưởng hội chăn bò, người to lớn như hộ pháp vung vẩy cái roi cày trong tay rồi trỏ roi vào ông Sáu. Khệnh khạng, hỏi:

- Lão "khốt ta bít" này! Nhà cửa đàng hoàng sao không ở mà lại ra đây nằm, hử?

Ông Sáu không buồn trả lời. Quờ tay vớ lấy cái điếu cày. Mấy nhóc chăn bò đứng quanh cứ nghĩ phen này thằng Anh Bang “trêu ong chọc rắn” thể nào cũng bị ông Sáu tẫn một cái điếu cày để hắn biết thế nào là lễ độ. Thế nhưng, ông vớ lấy cái điếu rồi mặc nhiên chậm rãi vê vê nhúm thuốc ấn vào nõ điếu, quẹt diêm rít sòng sọc một hơi nhả khói trắng đục như thể khói đặc có dính đờm trong phổi của ông tuồn theo ra nữa.

Chúng đứng đực ra nhìn ông già vẻ kỳ quái, dị hợm bằng ánh mắt tò mò khó hiểu. Bọn trẻ nhìn ông, ông nhìn bọn trẻ như thể hai thế giới xa lạ lần đầu gặp nhau nhìn nhau bằng hai thứ ánh sáng chẳng mấy thân thiện. 

Qua cơn say thuốc lào, ông ngà ngà đôi mắt đục ngầu ươn ướt, thong thả nhìn chúng tôi khắp lượt. 

Thế rồi như thể không nói với các nhóc chăn bò mà ông đang nói với một ai trong vô định:

- Ông còn nhớ… hình như hài cốt người ấy nằm ở quanh đây thôi.

Tiết lập thu, nghĩa địa Đồng Cùng quạnh hiu, khí âm toát lên từ những ngôi mộ loang vào cỏ hoang vàng cháy. Mây sà xuống rất thấp, đè nặng dãy núi Mồng Gà xa xa khiến cảm giác nơi đây như đang có sự sống vô hình nào đó cố cựa quậy nhưng đành bất lực trước sự tàn nhẫn hữu hình. Nhìn không gian, lại nhìn ông Sáu, bọn trẻ gợn thoáng ớn lạnh.

Ông Sáu nói thế, thằng Toản gặng hỏi:

- Ông nói năng kiểu gì thế? Đây nào có hài cốt nào đâu? Nhược bằng mà có thì người ấy là ai? Ở đây âm khí nặng nề lại nghe ông nói như kiểu ma ám vậy nghĩa là thế nào? Ông muốn hù họa chúng tôi chắc?

Ông cũng biết “ Nhất - quỷ, nhì - ma, thứ ba - bầy bò”- đám nhóc chăn bò làng này chẳng vừa đâu. Vậy nên không thể dửng dưng mà “ kệ” với chúng được, “vòng vo tam quốc” lại càng không ổn, phải chân thật với chúng thì mới mong được yên thân.

Ông Sáu ngồi dậy dựa cái lưng tôm vào gốc cây vông. Trả lời:

- Có người nằm dưới ấy thật đấy! Người ấy chắc đã chết từ lâu rồi. Ông cố tìm mà lấp liếm cho người ta kẻo có tội. Ông đã hứa rồi. Thế mà nay vẫn chưa tìm được đúng chỗ người ấy nằm lại.

Thế rồi ông kể chuyện như ma ám ấy cho đám trẻ chăn bò chúng tôi nghe.

... Ngày ấy, gần bến đò bên sông Cả là các điểm cất dấu vũ khí, quân nhu do nước ngoài viện trợ. Hàng hóa này được các tàu nhỏ vận chuyển từ cửa biển Hội Thống vào có khi chất đầy bến sông. Vậy nên làng ven sông bị máy bay, pháo kích Mỹ ngày đêm tàn phá. Dân tình bỏ làng, bỏ nhà cửa vườn tược, bỏ của chạy lấy người. Chạy càng xa nơi đạn bom rơi đạn lạc càng tốt. Ở làng chỉ còn mươi người dân quân ở lại canh giữ, tất cả già trẻ lớn bé đều phải dắt díu chạy lên đồng hoang sơ tán. Bà con chạy lên đồng hoang vu bụi rậm sát chân dãy núi Hồng Sơn. Ở đây họ dựng tạm những túp lều nhỏ bé đủ che mưa che nắng. Hồi ấy ông Sáu cũng trạc tuổi những đứa trẻ chăn bò bây giờ. Ông nhớ hình như ngày ấy mấy mẹ con ông dựng lều sơ tán ở đâu đây thôi.

Bà con nơi sơ tán thương mẹ con nhà sơ tán nên họ thường mang cái ăn ra cho. Nhớ có lần dì Hương đội một rổ khoai lang chiêm dâu ra cho và Thêu lẻo đẻo đi theo mẹ. Khác với những đứa trẻ sơ tán, tóc tai quần áo lôi thôi nhếch nhác, mắt ghèn đóng choèn choẹt, Thêu thì ăn mặc sạch sẽ, hai búi tóc buộc vổng lên xinh tươi, tinh nghịch. Bọn trẻ chẳng lấy ăn mặc làm điều, cứ gặp nhau là không muốn rời nhau nữa, mãi khi dì Hương gọi: “Thêu ơi! Về. Con!” thì khi đó bọn trẻ đành tiếc nuối chia tay nhau. Vài ngày Thêu không ra là cả bọn đều thấy nhớ nhớ…

Ông nhớ có lần:

- Sáu ơi! Cậu đi hái quả mâm xôi với mình đi! Mình biết chỗ có quả mâm xôi nhiều lắm!

Sáu nhanh nhảu:

- Ừ, ta đi. Hè!

Lần theo lối hoang, cỏ gai bụi rậm ngập lút đầu người lớn, hai đứa trẻ hăm hở đi tìm quả mâm xôi.

Làng Sáu ở ven sông, chỉ biết quả bần, quả sú với cỏ lác, với con còng, con cáy... thôi, chưa biết quả mâm xôi là quả gì nên Thêu rủ đi hái quả mâm xôi thì mừng lắm.

Chợt, Thêu kêu lên:

- Kia kìa! Quả mâm xôi kia!

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN

Nhìn theo hướng tay Thêu chỉ, Sáu muốn reo lên. Bên kia rãnh nước vàng đục tanh tưởi là lùm cây mâm xôi. Cây mâm xôi là loài cây bụi, thân rất nhiều gai, lá như hình bàn tay có năm ngón. Mùa này lá héo khô, héo quắt để lộ ra những chùm quả mâm xôi chín đỏ tươi như màu thạch lựu. Quả mâm xôi nhỏ xíu nhưng trông ngon lành như quả dâu tây kết từng chùm, quả to thì cũng nhỉnh hơn đốt ngón tay tí ti. Bên kia rãnh nước, cả lùm cây mâm xôi chín đỏ rực như chào mời lại như thách đố. Thêu đã cởi nón sẵn sàng hứng những quả mâm xôi đỏ mọng, ngon lành từ tay Sáu hái thả xuống.

Mắt Sáu dán vào những quả mâm xôi đỏ rực quyến rũ bên kia và hăm hở lội ào xuống rãnh nước tanh tưởi. Vừa đặt chân xuống rãnh nước thì Sáu như chạm ngay vào tổ kiến lửa, lũ kiến lửa đã chờ sẵn, chúng lao vào chân Sáu mà cắn, khiến cả người Sáu tê dại. Thấy mặt Sáu tái xám, Thêu vội nắm tay kéo bạn thoát khỏi vũng nước độc rồi dìu Sáu về lán.

Về đến lán thì chân Sáu đã sưng phù, mọng nước. Độc dược trong rãnh nước càng ngấm thì toàn thân Sáu càng đau tê dại. Đêm đó, đau quá, Sáu nằm ôm chân khóc thút thít.

Tờ mờ sáng hôm sau đã thấy Thêu chạy sang. Sáu nằm trên manh chiếu lót giữa lều không buồn ngồi đậy. Thêu lặng nhìn Sáu. Xót xa. Xoa tay lên hai chân phồng cứng, căng mọng, đỏ lựng của Sáu, Thêu lí nhí:

- Sáu à! Thêu ân hận quá! Nếu Thêu không rủ đi hái quả mâm xôi thì Sáu đâu đến nỗi này! Mình kể chuyện sáng hôm qua của chúng ta với mẹ… Nghe xong rồi mẹ nói: Sáu bị trúng phải nước độc rồi! Các con không biết chỗ đó có rãnh nước độc không ai dám lội qua nên ở đỏ quả mâm xôi mới chín nhiều như thế!... Sáu à! Thế mà Thêu rủ Sáu đến chỗ đó. Thêu có lỗi với Sáu quá! Thêu rơm rớm nước mắt ái ngại nhìn Sáu như ăn năn, xin lỗi bạn

Đừng nghĩ trẻ con thì hồn nhiên vô cảm trước tình cảm, sự quan tâm, niềm trắc ẩn của trẻ khác giới. Chút tình cảm ngây thơ đó cứ ám ảnh, đeo đuổi âm ỉ mãi trong miền sâu thẳm của Sáu.

Dì Hương biết Sáu trúng phải nước độc nên lặng lẽ nấu một nồi nước vỏ cây dưới - loài cây gỗ trắng như ngà, nổi vân rất đẹp, bọn trẻ thường chặt về đẽo gụ. Cây dưới mọc nhiều trên đồng hoang. Sức sống bền bỉ của nó ít có loài cây nào sánh được. Thân cây xù xì, cau có vừa như thách thức vừa như là nhẫn nhịn trước nghiệt ngã. Nếu đẽo lớp vỏ dày thì thân cây sẽ ứa ra dòng mũ trắng đục như sữa của người đàn bà khỏe mạnh mới sinh con so.

Lần này dì Hương ra lán, nách theo nồi nước vỏ dưới còn rất nóng ấm. Dì buộc Sáu cởi quần, ngâm chân thật sâu vào chậu nước vỏ cây dưới đặc sánh của dì. Cứ thế, nước nguội thì đun nóng lên và ngâm. Nhờ thần dược ấy mà mấy ngày sau chân Sáu không còn phù nề. Dẫu chân đã lành nhưng mẹ vẫn bắt Sáu ngồi trong lán không cho đi chơi. Mẹ nói: “Chưa được đi đâu hết! Ở trong lều cho khỏi hẳn đã, “Cái sảy nảy cái ung” thì làm sao". Những ngày giam hãm trong lán nhìn ra thấy đám bạn nô đùa dưới nắng đồng hoang, đôi khi Sáu nghĩ: có mất đôi chân mà được đi chơi với chúng bạn cũng cam lòng. Một mình ngồi trong lều nát nhìn ra, buồn quá! 

Sáu lại được ra chơi sân chơi. Như chim sổ lồng, Sáu hòa vào niềm vui tình bạn. Chúng sáng tác ra đủ trò chơi, mồ hôi ướt đẫm. Mãi mê chơi, khi chiều xuống xập xè sau dãy núi xa xa cùng mùi khoai nướng thơm như thúc vào cái dạ dày đã đói khát thì cả bọn mới chia tay, ai chạy về lều ấy và những giấc mơ cổ tích đang đợi chúng trong từng đêm, từng đêm nơi sơ tán...

Nghe ông Sáu cứ rủ rỉ rù rì thế, đương nhiên bọn nhóc cũng muốn nghe nhưng thằng Anh Bang cắt lời:

- Ông cứ kể vòng vo tam quốc gì thế vậy? Ông nói cái hài cốt người ấy nằm ở quanh đây là thế nào?

Như thể chẳng quan tâm gì đến thái độ sừng sộ của Anh Năng. Ông thong thả nhồi thêm một viên thuốc lào vào nõ điếu, cong cổ rít òng ọc một hơi rồi mơ màng nhả khói…

Ông lại tiếp tục với cái giọng rủ rỉ rù rì:

... Thế rồi, đúng vào cái đêm ấy- Cái đêm Mỹ tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc. Đêm ấy Sáu đang thiu thiu ngủ trên manh chiếu trải trong lán thì giấc mơ chập chờn ma mị hiện lên. Trong giấc mơ, Sáu thấy khoảng đất trước cửa lán phập phồng rồi sụt lở. Sáu tê cứng vì khiếp đảm. Sáu ú ớ muốn kêu lên nhưng họng cứng và lưỡi đã ngọng líu lại. Đành kinh hãi chứng kiến cảnh rùng rợn đang diễn ra ngay trước lối ra vào.

Sáu thấy đất trước cửa lều sụt lở, bùn đen sôi lên òng ọc, lênh láng rồi sụt xuống và mở ra hố sâu toang hoác, nham nhở. Mùi hôi bùn tanh lợm sộc lên đến nghẹt thở. Trong bùn lầy nhớp nháp, quái đản kia bỗng nổi lên một chiếc quan tài. Khí âm đẩy chiếc quan tài lơ lửng trên miệng hố. Bùn, nước đen nhỏ xuống ròng ròng. Ngay sau đó, tấm thiên quan tài lập cập mở. Khi tấm thiên vừa bị hất ra thì trong quan tài đen ngòm ngồi bật dậy một bộ xương nhớp nháp, đen đúa.

Sáu nghe rất rõ một giọng nói âm hồn phát ra từ đầu lâu, từ xương hàm rung lập cập:

- Mấy lâu nay ta nhường nơi ăn chốn ở cho mẹ con tá túc. Mai, hết chiến tranh bom đạn. Mẹ con dỡ lều về làng ven sông thì chôn cất lại cho được cẩn thận.  

Nói đoạn, bộ xương lập cập rời quan tài tan biến vào không gian đêm tối đặc quánh, để lại một khoảng đất hôi hám nhớp nháp bùn đen với chiếc quan tài rỗng.

Tuy đã cứng miệng, cứng lưỡi, Sáu vẫn cố đáp lại như một tiếng: "Dạ" nén chặt trong đó lời thề, lời hứa với bóng ma kia.

Hơi thở reo vui gấp gáp, ghé sát tai, mẹ lay thức Sáu:  

- Dậy! Con ơi dậy! Ta về nhà. Hết chiến tranh rồi!

Lời lay gọi của mẹ khiến Sáu bàng hoàng như giấc mơ này tiếp nối giấc mơ kia, giấc mơ đen tối hãi hùng lội qua giấc mơ ngập tràn ánh sáng.

Sáu lắp bắp hỏi:

- Thật thế không? Mẹ!

Mắt mẹ long lanh, trả lời:

- Loa phát thanh đã công bố chấm dứt chiến tranh miền Bắc rồi!- Mẹ nói tiếp trong hơi thở như vừa qua cơn vượt cạn: -Từ nay hết nằm hố nằm hầm chui bờ rúc bụi. Con dậy sớm tranh thủ nắng chưa lên thu dọn lều trại, mẹ vào xóm cảm ơn, chào bà con ở lại rồi trưa nay ta trở về làng.

Nhìn ra đồng hoang, thấy các lều trại bà con đang dục nhau hối hả dỡ phên cót, cột kèo, mái rạ.

Căn lều mấy lâu che mưa che nắng được thu dọn nhanh chóng. Thứ gì rác rưởi không tiện mang về thì gom lại và đốt như đốt bội ngày rằm tháng bảy. Trong sáng sớm, rải rác trên đồng hoang, từng đám lửa khói cuộn lên như thiêu hết muộn phiền của bao ngày dài nối tiếp đêm thâu mà mỗi người từng mòn mỏi trong căn lều ẩm thấp oi nồng hơi đất và đầy muỗi, kiến, rắn, rết, bọ cạp, ểnh ương, cóc, nhái… Bao đêm, họ cầu Trời khấn Phật mong sao sớm hết chiến tranh để về quê hương bản quán ven sông. Họ nhận ra - chỉ cần được tự do hít thở không khí trong lành của bến sông quê đã là sung sướng, hạnh phúc lắm rồi!

Làm thì lều trại thì khó nhưng dỡ nó thì chẳng mấy chốc. 

Khi còn lại trên mặt nền loam nhoam những cỏ tranh, lạt buộc thì sau tấm phên dựng tạm chắn gió, khoai nướng cũng đã tỏa ra mùi thơm chín ngọt. Mẹ luộc khoai trong nồi đất. Mẹ đặt nồi đất lên đống củi khô lửa cháy phừng phừng. Khi nước luộc khoai đã cạn, hơi nóng bén vào bên ngoài lớp vỏ thì mẹ bắc xuống. Khoai lang trồng đất cát pha bột vàng như trứng rán, vừa rắn vừa thơm, nóng hổi vừa thổi vừa ăn với cà pháo muối trường dòn và mặn là bữa ăn thay cơm của những ngày sơ tán. Trẻ con sơ tán đi mót khoai nhưng khoai mót thì ít, khoai bà con xã viên hợp tác xã cho thì nhiều. Bà con xã viên ai cũng thương mấy nhỏ con nhà sơ tán nên cứ như thể vô tình họ để sót lại những củ khoai to trong luống cho bọn trẻ nhặt. Chiều về, đứa nào cũng đội cả rổ khoai to, nặng đến sái cổ.

Thằng Anh Bang cắt lời, hỏi:

- Rồi sao nữa? Sau đêm ông bị ma ám trong lều, sao nữa? Cứ chuyện nọ xọ chuyện kia là kiểu gì thế?

Tại sao bọn trẻ chăn bò gọi hắn là Anh Bang? Bang là tên thật của hắn. Tuy là trẻ con cùng lứa nhưng Bang đô con, hắn lại luôn nghĩ ra chuyện chia bè, kết đảng, chia rẽ nội bộ, lại có tính thù dai, hằn vặt. Đứa nào bị hắn ghét là hắn lôi kéo cả đám về phía hắn và cách ly đứa hắn ghét không cho nhập hội nữa. Vậy nên đứa nào cũng phải nịnh, làm đẹp lòng nó. Nịnh nó tôn nó là "anh" nhưng chỉ gọi là “anh” thì thấy bất tiện, ngường ngượng vì cùng lứa với nhau, nên chúng gọi là Anh Bang cảm thấy hợp. Hắn có tên Anh Bang từ đó.

Ông buồn bã trả lời:

- Đúng là ma cũng biết chiến tranh và hòa bình. Hồn ma biết trước kết thúc chiến tranh nên đêm ấy đã dặn: “Đi rồi thì chôn lại cho cẩn thận” là vậy.

Mọi người hối hả dục nhau rời vùng sơ tán. Mẹ con Sáu cũng lo dỡ lán trại trở về làng cũ. Sáu è cổ gánh vác nên bụng dạ đâu còn nghĩ đến chuyện ma mị kia nữa. Giấc mơ hãi hùng tan nhanh như làn khói bay. 

Thế rồi cuộc đời của ông cũng giống như hạt bụi cuốn theo chiều gió. Việc này chưa xong thì việc khác lại sinh ra cho mà lo nghĩ, gánh vác. Ông đã làm đủ nghề - từ cửu vạn, bổ củi thuê, nhặt than, khuân đá nung vôi, đập cọc điện bán sắt vụn... Thế rồi tuổi già xồng xộc kéo đến khi nào không hay và ông vẫn mang theo cái nợ tuổi thơ cùng những ngày sơ tán vẫn chưa trả được. Ông cứ dày vò bứt dứt, những mong lúc nào đó sẽ tìm lại được hài cốt kia mà lấp liếm kẻo tội người ta. Họ chết rồi vẫn cưu mang mẹ con ông cơ mà! Họ sống thì cũng như mình cả, ân oán ở đời có ai vô tình đâu. Suy tính như thế mãi nên ông lên đây để cố nhớ lại vị trí của cái lán sơ tán ngày ấy...

Ông trầm ngâm, thở dài:

- Giờ nhà cửa mọc san sát lên thế kia! Đến cả bụi cây mâm xôi ngày xưa cũng không biết nó ở đâu nói gì đến hài cốt nằm im trong đất... Ông nằm đây mong gặp lại trong mơ hồn ma ngày ấy…

Trong hoàng hôn, bên nghĩa địa âm khí nặng nề, hắn ái ngại nhìn ánh mắt già nua của ông dõi về nơi xa xăm vô định nào đó.

Hắn hỏi:

- Mơ gặp lại hồn ma ấy thì ông sẽ làm gì?

Như kẻ mộng du, ông nói:

- Ông cũng không biết nữa. Nhưng đêm qua, nằm ở đây và ông đã thấy

... Ông Sáu, người cứng đơ, mắt mở to nhìn ra cửa túp lều sơ tán. Lỗ huyệt đen ngòm lại mở ra. Bùn đen đặc quánh sôi lọc bọc đẩy quan tài nổi lên. Quan tài chưa đóng nắp, tấm thiên cựa quậy muốn bò lên đậy nhanh nắp lại, bởi lẽ trong quan tài dấu bí mật không nên nhìn vào trong đó chỉ là giây lát. Trong bóng đen, bỗng bộ hài cốt lập cập khật khà khật khừ bước lại nằm xuống bên cạnh cái quan tài nắp đang mở sẵn. Mấy đứa trẻ rách rưới mà ông không biết, từ đâu trong hoang mị chạy lại. Ông nhờ mấy đứa trẻ chung tay nâng lên rồi đặt bộ hài cốt vào trong quan tài. Cái đầu lâu trên tay ông lúc lắc cựa quậy, xương quai xanh ngáp ngáp phả ra mùi hôi thối nồng nặc. Chôn cất xong bộ hài cốt ấy thì ông tỉnh dậy, mồ hôi đổ ra như tắm…

Ông trầm ngâm nói tiếp:

- Mơ là vậy nhưng hiềm một nỗi mơ vẫn chỉ là mơ thôi, tỉnh lại vẫn không biết đích xác vị trí nằm của bộ hài cốt ấy. Ấy là nơi ngày ấy mẹ con ông ở trên một nấm mồ vô chủ. Nấm mồ đó không nỡ đuổi mẹ con ông mà cứ chịu đựng, che chở, mãi đến khi hết chiến tranh mới dặn ông lấp liếm lại.

Anh Bang tỏ vẻ nhạo báng:

- Đúng là ông này bị ma ám thật rồi! Về thôi. Để ma bắt ông ta đi luôn cho rồi!

Mấy đứa muốn nấn ná để nghe ông Sáu thủ thỉ thù thì chuyện gì nữa nhưng trời cũng đã nhá nhem với lại Anh Bang đã nói là mệnh lệnh. Mặc ông Sáu một mình dựa gốc cây vông bên nghĩa địa Đồng Cùng khi trời sập tối, chúng lùa trâu bò về làng

*

Từ giã ấu thơ, hắn cũng như những đứa trẻ khác, đều mang theo những ký ức vui buồn trong trẻo. Trong lưng vốn ký ức nho nhỏ của hắn có chuyện như ma ám của ông Sáu. Rồi đến khi biết đau, biết yêu, khi biết thêm chút đĩnh sự đời thì hắn nhận ra không phải ông Sáu bị ma ám mà tuổi già ông tìm về ký ức những ngày ấu thơ còn dấu nơi ông sơ tán cũ. Ông kể cho  hắn âu cũng là phục sinh quầng sáng một thời trong ông. Sau này hắn mới nhận ra tâm tư một con người mà ai cũng cho rằng là lẩn thẩn ấy.

N.T.T

. . . . .
Loading the player...