Tạp chí Hồng Lĩnh số 236 tháng 4/2026 trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Rằm tháng Bảy” của nhà văn Đức Ban
Tên hắn là Lê Thinh. Khoảng hơn bốn chục tuổi, nét mặt gân guốc, mệt mỏi, đuôi mắt trĩu xuống lạnh lùng và buồn chán. Người ta có thể đoán biết hắn vừa trải qua những oan trái, cơ cực nào đấy.
Chín năm trước, hắn là Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Kẻ Nu, một tổ chức bảo vệ rừng của ngành Lâm nghiệp tỉnh H. Trạm đóng bên đường số 8, dưới chân rừng Trường Sơn. Thuở ấy, rừng ngút ngát, thăm thẳm xanh. Trạm gồm mười ba chàng trai, vui vẻ, vô tư, ăn uống, hát hò, mơ mộng và yêu đương…Từ cái barie trước cổng Kẻ Nu xuôi theo đường về Thành phố H. chừng ba cây số, có một Trường học, giáo viên là các cô gái trẻ, khỏe mạnh, xinh đẹp từ miền xuôi lên, học sinh là con cháu của cư dân miền biển không chịu được cảnh chật chội lên rừng khai hoang dựng nhà, lập vườn bên rìa rừng phòng hộ; và dăm bảy em người Mã Liềng, bộ đội Biên phòng đưa từ trong rừng Trường Sơn ra. Tối chủ nhật hàng tuần, thường có cuộc giao lưu văn nghệ tại sân trường, khuya thì từng đôi dắt tay nhau đi vào rừng…Những cuộc tình ướt át và thoáng nhanh như mưa rừng cuối mùa. Cuộc sống của những giáo viên trẻ không còn yên tĩnh nữa, nó bị khuấy đảo, ồn ào hơn, vội vàng hơn.
Lê Thinh chở cô giáo Huyền Trang xuống thị trấn Cừa may áo rộng thân chuẩn bị làm lễ cưới. Một lễ cưới vội vã vừa rừng vừa phố thị. Hoa phủ sân trường, hoa giấy học sinh cắt, dán và hoa Cai rậy đỏ hái trong rừng. Sau đám cưới, Lê Thinh thuê thợ miền xuôi lên làm một ngôi nhà gỗ tựa lưng vào sườn đồi, ngoảnh mặt ra ngã ba đường, một ngả vào rừng, một ngả về Thành Phố, rồi hắn bỏ mười hai chàng trai trẻ trong rừng ra ở cùng vợ. Bảy tháng sau, Huyền Trang sinh cho hắn một thằng con trai bụ bẫm, da trắng như phấn. Họ đưa bà cô góa chồng ở quê lên giúp việc gia đình. Bà cô người nhỏ bé, nhanh nhẹn và vui tính. Nhà ra bốn người, ngày liền đêm ríu rít tiếng cười, nói.
Sự ấy không được lâu. Tai nạn đổ ập lên Lê Thinh. Con trai chết vì sốt rét, mẹ ở quê bị tai nạn. Tiền bạc, của cải trôi theo mẹ những lần chuyển viện, lên bàn mổ, rồi tang gia…Ngôi nhà ba gian hương gỗ nhạt dần, thay vào đó là mùi ẩm mốc. Lê Thinh đâm ra ngẩn ngơ, cái ngẩn ngơ của một kẻ bất lực trước mọi sự. Như người rơi xuống xoáy nước.
Hắn về Thành phố, tìm gặp người quen cũ và là cấp trên của hắn. Tên người ấy là Phan Ninh, từng học ngành Lâm nghiệp ở Liên Xô, thời trẻ ở trong rừng, gần về già thành lãnh đạo của những người làm nghề rừng. Lê Thinh đã diện kiến Phan Ninh mấy lần, những khi ông ta vào Kẻ Nu kiểm tra công tác bảo vệ rừng. Hắn chưa bao giờ trọng ông ta. Phan Ninh cũng chẳng mấy thích tay Lê Thinh khinh bạc. Lần gặp này, Lê Thinh không còn nét vẻ, thái độ xưa kia. Từng trải, tiếp xúc với đủ hạng người, Phan Ninh thấy ra cái nghèo khó phủ trùm, cái tâm trạng hoang mang, bấn loạn và một niềm tin mong manh vào cuộc sống của tay Trạm trưởng Kẻ Nu.
Phan Ninh và Lê Thinh vào quán cà phê ngoài rìa Thành phố
- Khỏi kể lể, tôi biết anh gặp nhiều chuyện buồn, hoàn cảnh thành ra gian nan - Phan Ninh nói và không rời mắt khỏi gương mặt thểu não của Lê Thinh.
- Không chỉ gian nan mà vô cùng gian nan thủ trưởng ơi.- Lê Thinh rầu rầu.
Phan Ninh mỉm cười, nhưng nét mắt thì trở nên nghiêm khắc:
- Rừng vốn không có đường, người ta đi lâu thành đường.
- Là sao?
- Là tìm lấy đường đi cho mình. Với cái chức Trạm trưởng tôi cho anh đủ để làm lại cuộc sống. Một cuộc sống đủ đầy mọi thứ cho cho gia đình
Lê Thinh im lặng. Hồi hộp.
Phan Ninh nhìn thẳng vào mặt người Trạm trưởng. Ông ta dễ dàng đọc ra tâm trạng, suy nghĩ của hắn.
- Tôi sắp sửa nghỉ hưu. Thời nay mà thời nào cũng thế, nghỉ hưu là hết mọi cơ hội làm ăn, chơi nhởi, yêu đương… - Phan Ninh uôm người lên bàn, giọng trầm xuống. - Tôi vẫn còn thời gian để giúp anh.
- Cách gì đây? - Lê Thinh hỏi chẳng biết mình hỏi mình hay hỏi con người đang ngồi trước mặt .
Phan Ninh xoay người, lưng thẳng, đầu ngước lên:
- Làm ngơ cho đám nhân viên chặt hạ gỗ trong khu 42.5. Làm ngơ cho xe kéo gỗ qua barie Trạm. Ra khỏi Kẻ Nu có người khác lo. Một sự làm ngơ chẳng tốn kém, tổn hại gì, chỉ mỗi làm một phép cộng với phép nhân là nhận tiền…
.jpg)
Minh họa: LÊ ANH
Lê Thinh hiểu và đáng ra phải tập trung trí óc để suy nghĩ lợi, hại của lời mời mọc của Phan Ninh thì hắn lại thở phào, méo mó cười.
Phan Ninh đặt bàn tay lên vai Lê Thinh:
- Thế nhé. Nói xong thì đứng nhanh dậy, bước ra khỏi quán.
Còn lại một mình, Lê Thinh nhìn gương mặt mình chao đảo trong ly cà phê. Có tiền sẽ chữa lành bệnh cho mẹ, mua thuốc bổ cho vợ. Sau đó, sắm máy móc, thuê thợ, mượn tên cha căng chú kiết nào đấy thành lập một Doanh nghiệp sản xuất đồ mộc cao cấp. Từ giã cái khó khăn khốn nạn… Mà chỉ cần nhắm mắt làm ngơ! Ta làm ngơ cho gỗ rừng qua Barie, còn có kẻ làm ngơ để mất cả một nhà máy, một hòn đảo, một cánh rừng hàng trăm ha; có kẻ làm ngơ trước con người bị sỉ nhục, bị đẩy vào chỗ sống dở chết dở… Ta làm ngơ là vì mẹ, vì con dưới suối vàng, vì người vợ do ta mà khổ nạn…
Thế rồi Lê Thinh cùng 12 công nhân của Trạm Kẻ Nu mở barie để Doanh nghiệp Tứ Lâm chở gỗ về xuôi cho Phan Ninh. Một chuyến, rồi hai, ba…Tai vách mạch rừng; chuyện vỡ lở. Thanh tra, Công an lên Kẻ Nu. Chỉ còn sờ sờ mỗi hắn. Cả lúc Lê Thinh gục đầu trước vành móng ngựa cũng chỉ mỗi hắn. Phan Ninh đã biến mất không dấu vết.
2. Lê Thinh ở tù, cô giáo Huyền Trang xin ra khỏi ngành giáo dục vì xấu hổ với đồng nghiệp và học sinh. Hàng ngày cô luẩn quẩn trong ngôi nhà gỗ ba gian trên sườn đồi lúp xúp cây dại, héo hon vì buồn chán.
Dường như tâm không yên, Phan Ninh đã tìm đến người vợ của người đã giúp mình mà phải ở trong tù.
Huyền Trang dày dạn, khôn ngoan lên nhờ năm tháng chống chọi với sự khinh thị của người đời. Cô hiểu không thể sống nghèo đói trong ngôi nhà trống trải, hoang lạnh với sự cô đơn luôn nức nở trong lòng. Cô hẹn hò với Phan Ninh. Rồi cô thực hiện những quyết định làm thay đổi thân phận của mình: Quyết định không vào nhà tù thăm chồng, quyết định về Thành phố, nơi tiếng đàn hát thay cho tiếng thầm thì thăm thẳm của rừng, nơi có những người đàn ông làm trái tim cô run rẩy…
3. Lê Thinh nghe tin ấy vào một đêm mưa. Mưa ở rừng sâu ồn ào, bí ẩn. Tiếng tiếng thú rừng hú gọi, tiếng đất chuyển âm âm u u, tiếng suối chảy thê thiết, tiếng gió vật vã trên mái nhà, dọc những chấn song sắt… Dữ dằn mà buồn thảm. Một gã “cố ý gây thương tích” mang án tù bảy năm, cùng phòng giam với Lê Thinh, nói:
- Ỉu xìu, nhăn nhó làm đ… gì. Con vợ mày có học, thông minh nên nó không yên nổi đâu. Làm sao nó yên được khi mà một ngày hai mươi bốn giờ thì hai mươi giờ động trời, trở gió. Nó đói nó đi tìm cái ăn, nó khát nó đi tìm nước uống. Người mà. Mà biết đâu lúc nào đó no say rồi, nó tìm về với mày.
Lê Thinh lắc đầu:
- Nó không về đâu. Đàn bà nó tham, nên bạc. Làm vợ kẻ đi tù, nó càng bạc. Nói xong, hắn nằm vật xuống sàn xi măng.
Gã “cố ý gây thương tích” bảo:
- Rơi xuống đáy đời hoang tàn rồi, thì mỗi cách đứng dậy. Khuỵu xuống là gục luôn. Đừng ngóng chờ cái gọi là lương tâm nó đỡ. Thời nay lấy đâu ra lương tâm dành cho kẻ dưới đáy như tôi, như ông. Ra khỏi chốn này đi tìm cái thằng lợi dụng mày đến nỗi mày ra kẻ thân tàn mà sòng phẳng với nó.
- Sòng phẳng - Lê Thinh cau có lẩm bẩm, răng nghiến ken két. Một cơn đau dữ dội nhói lên trong lồng ngực, chỗ tim. Những nỗi đời triền miên từ sau ngày cưới vợ đã chà bóp quả tim hắn không thương xót: Huyền Trang đem đến cho Lê Thinh hạnh phúc và đớn đau, thương yêu và hận thù; cuộc đời thì cho Lê Thinh sự trớ trêu, giảo hoạt, tàn nhẫn và độc ác… Tim Lê Thinh vẫn không vỡ. Mỗi khi cơn đau tim xuất hiện, Lê Thinh chỉ biết ôm ngực mở to mắt nhìn qua chấn song nhà tù về phía rừng. Rừng chập chùng.
4. Lê Thinh ra tù. Hắn lên chuyến xe khách về Thành Phố lúc quá chiều. Xe chạy đến đến Kẻ Nu thì dừng lại. Hắn nhảy xuống đường, lặng nhìn về phía rừng không chớp mắt. Một lúc lâu. Rồi hắn xốc quai túi. Cái túi vải lép kẹp, bên trong đựng mỗi bộ áo quần cũ bạc phếch, mấy thứ lặt vặt như bàn chải đánh răng, hộp kim chỉ… và một con dao nhíp năm lưỡi, lưỡi nào cũng sáng loáng.
Phía xa rừng đã kết thành khối xanh đen, nặng nề. Qua ngã ba, qua một con dốc, Lê Thinh nhìn thấy ngôi nhà gỗ ba gian. Ngôi nhà của hắn. Nhỏ bé, đơn độc. Mái tranh phơi dưới nắng chiều vàng hoe. Những tán lá cây rủ trên mái hiên không còn nữa. Đằng sau ngôi nhà là sườn đồi chen chúc những bụi cây mọc hoang không tên. Lê Thinh đi qua lối ngõ lổn nhổn đá cuội, qua mảnh sân lan man cỏ dại không một dấu chân. Gió cuộn bụi đất dọc thềm. Hắn đẩy mạnh cánh cửa. Một khoảng trống. Một mặt đất sẫm đen. Chơ vơ một cái bàn gỗ, một cái ghế đẩu. Gian trong, sát khuôn bếp nguội lạnh là một cái giường, trên giường một thân hình còm nhom nhô lên dưới tấm chăn vải in những bông hoa màu hồng nhợt nhạt: Bà o. Một mình bà.
Lê Thinh khẽ gọi:
- O ơi,,,
Bà O nhổm dậy, dụi mắt rồi tụt khỏi giường, loạng quạng về phía Lê Thinh.
- Suốt đêm, tôi cứ nháy mắt, đoán anh sắp về. Cháu tôi về thật. Trời, đất, ạ.
Lê Thinh khụy xuống đỡ đôi vai run bần bật của O. Bà đập đập bàn tay lên ngực Lê Thinh. Nói và khóc. Khóc và nói. Thều thào. Sụt sùi. Câu được câu mất. Chắp nối lời bà kể lễ, Lê Thinh hiểu ra Huyền Trang bỏ đi sau khi hắn vào tù đúng một năm. Bà O thì ở lại. Bà phải giữ nhà cửa, chờ hắn. Vả, bà con biết đi đâu.
Lê Thinh đưa hai tay ôm mặt. Hắn khóc khan, nấc lên từng cơn. Thương cho kiếp người. Thương cho mình. Thương mẹ. Thương đứa con trai mệnh yểu. Thương bà O tốt bụng. Thương một thời đủ đầy, phóng khoáng…
- Nín đi, nín đi - Bà cô đưa vạt áo nâu quệt nước mắt trên đôi má nhăn nheo.
Một bà già đơn độc và một kẻ cơ cực.
- Nay nó ở đâu? - Lê Thinh hỏi, hổn hển.
Bà O vẻ lưỡng lự, đoạn nói:
- Năm ngoái có mấy người dưới xuôi lên rừng tìm trầm xin nghỉ nhờ nhà ta, bảo là con Trang và ông Ninh nào đấy ôm nhau đi vào Nam. Rồi con Trang lại theo người khác, ông kia về một mình. Và không biết gánh tội nợ gì mà gửi thân vào chùa.
Gió từ rừng ra, thổi ràn rạt trên mái nhà. Lê Thinh thấy lòng dạ bồn chồn. Hắn không dám hỏi thêm gì nữa vì thấy nụ cười nở trên đôi môi khô héo của bà O. Hắn cắn môi. Trong cơn bối rối và cảm giác bất lực, hắn nhận ra hắn chưa từng yêu thương bà cô và đấy là một tội lỗi. Đầu hắn bỗng đau nhức, người căng ra, hắn muốn đập phá cái gì đó.
5. Những người cũ ở Trạm Kiểm Lâm Kẻ Nu nói cho Lê Thinh biết Phan Ninh ở chùa Tịnh Lâm trong núi Lĩnh Sơn. Hắn tìm đường đến Lĩnh Sơn. Hắn đi qua nhiều cây số đường đồi, sang đường rừng. Lửng chiều hắn đến một ngã ba, một ngả hun hút về Thành Phố, một ngả rẽ vào chùa Tịnh Lâm. Đã thấy mái chùa thấp thoáng sau những ngọn thông và nghe tiếng nước suối chảy róc rách đâu đây.
Vòm trời cao ngút ngợp. Nắng nhưng nhức. Đất phả hơi nóng hầm hập. Những cái ki ốt bán kinh phật, hương hoa, đồ mỹ nghệ, lưu niệm… màu sắc sặc sỡ. Lê Thinh bước vào một ngôi nhà thấp và nhỏ nằm tách khỏi dãy ki ốt, dưới bóng râm của những cây thông, ngay cạnh lối dốc lên chùa.
Một chị phụ nữ, chắc chủ quán vồn vả:
- Mời vào. Chiều ni nắng quái, nóng…
Lê Thinh đổ người xuống cái ghế kê cập kênh cạnh cửa.
- Đường lên chùa mấy bậc? - Hắn độp hỏi
Chủ quán đáp:
- Chín mươi chín.
Lê Thinh hỏi:
- Có những ai ở trong chùa?
- Có sư Huyến chủ trì, ni cô Thúy, một chú tiểu và mấy người giúp việc.
Chủ quán không quan tâm thái độ của khách, liếng thoắng như chẳng mấy khi có người chuyện trò với mình. Chị nói, chị đi Thanh niên xung phong về thì đã quá lứa, lỡ thì. Chị che mặt để có đứa con. Đứa con gái của chị hiền hậu, yếu ớt không dám động đến cả một con kiến niệng. Thế mà rồi nó bỏ chị vào chùa. Nó đã quy y cửa Phật, nhưng chị vẫn không yên. Nó tốt bụng quá mà đời thì nhốn nháo. Chị lên đây dựng nhà, bán hàng lặt vặt để được ở gần con.
- Tốt bụng đi trốn nhốn nháo - Lê Thinh lẩm bẩm.
- Ai vào chùa cũng có căn cớ riêng của người ta. - Chị ta nói và ngoảnh nhìn khách, ánh mắt ngờ vực, rồi hỏi - Ông từ đâu đến? Và rồi về đâu ?
- Nếu biết được sẽ về đâu thì ngồi đây làm gì? - Lê Thinh nói, xoè bàn tay áp vào ngực, chỗ tim.
- Vào chùa để dưỡng tính, xả tâm à?
- Xả hận - Hắn đáp nhanh
- Nam mô…Đừng nói rứa. Chủ quán ngác ngơ, lo lắng vì thấy mắt khách long lên.
- Sủa lắm thế. - Lê Thinh càu nhàu, đứng dậy đặt lên mặt bàn chằng chịt vết nứt mấy tờ giấy bạc nhàu nhĩ rồi bước ra đường. Ở giữa đường hắn ôm đầu rên một tiếng nghe thật não nề.
Chùa Tịnh Tâm nằm giữa rừng cây, cây thông và cây trúc. Lối lên chùa ghép bằng những tảng đá đen, thành bậc, im lìm vẻ nhẫn nhịn. Hai bên đường xây tường cũng bằng đá đen, cao ngang đầu người. Cỏ len lách giữa khe hở của đá. Một vài cây dại bám chơ vơ trên tường, lá xanh mướt. Không khí mát mẻ. Có tiếng nước chảy róc rách và tiếng chim hót đâu đây. Chín mươi, chín mốt, chín hai…chín chín… Lê Thinh lẩm bẩm đếm. Không phải để biết mà để quên đi mỏi mệt. Qua một bãi đất trống lơ thơ cỏ, chung quanh khép kín tán lá cây là cổng Tam quan. Hắn lưỡng lự một lúc rồi đi vào cửa bên trái. Người khôn không đi phía trái. Ta không làm người khôn vì thời nay người khôn nhiều như cỏ, người dại ít như thông như trúc. Hắn nghĩ và nhếch môi cười.
Một mảnh sân rộng, xếp hàng mấy dãy cây cảnh, nhiều nhất là đại. Rải rác những bông hoa trắng trên mặt đất.
Một chú tiểu đang quét lá rụng giữa sân. Thấy khách, chú cúi đầu, đưa bàn tay trái lên ngực, lí nhí:
Dạ, chào ông.
Lê Thinh hỏi:
- Ở chùa có ai tên Phan Ninh?
Chú tiểu mở to mắt nhìn khách, nói:
- Là người giúp việc ở dưới nhà Tăng.
Hắn nói:
-Tôi xuống nhà Tăng.
Chú tiểu rụt rè:
- Sắp đến giờ tụng kinh.
Lê Thinh khoát tay:
- Khỏi, tôi người ngoại đạo.
Chú Tiểu nói:
- Thế thì ông theo ngả bên trái ấy.
Lê Thinh theo lối nhỏ rải đá cuội giữa hai hàng thông non dẫn vào vườn trúc thân vàng cao ngang đầu người. Một ngôi nhà thấp nhưng dài ở cuối vườn, chắc là nơi ở của người nhà chùa.
Phan Ninh đang gom rác vào cái giỏ tre dưới cây hoa đại cạnh cửa vào nhà Tăng. Lê Thinh đến gần vẫn chưa thể nhận ra ông già gầy gò, lưng còng, tóc bạc, da dẻ sạm đen là Phan Ninh ngày xưa.
- Tôi đây… Người ấy nói, không quay mặt lại. Tôi biết là trước sau gì rồi anh cũng đi tìm tôi.
Lê Thình nói:
- Gặp trong chùa. Đời chó má, hỉ?
Phan Ninh nói:
- Nó trớ trêu.
- Là sư? Là Phật ư? - Lê Thinh nhếch môi buông một tiếng cười ngắn, trong bầu tĩnh lặng nghe rờn rợn.
- Chưa. Tôi đang giúp việc nhà chùa. Rồi cũng sẽ đến lúc…
Lê Thinh thấy mặt nóng phừng, hắn lắc đầu, rít qua kẽ răng:
- Mày bảo sẽ đến lúc à? Đồ lừa lọc, đồ đểu cáng chui váy đàn bà mà định tu thân thành sư, thành phật à?
Phan Ninh lùi lại, thì thào;
- Nhà Phật là cõi Chư Thiên, nơi diệt ngã, xả tâm…Và gì đi nữa cũng để qua rằm tháng Bảy, ngày xá tội vong ân. Tôi trả hết nợ cho ông… Và ông cũng phải trả nợ cho tôi. Trả trước khi tôi chết. Nợ người sống chứ nợ người chết nặng nề lắm.
Lê Thinh nhăn mặt, gằn giọng:
- Tôi nợ đ… gì ông?
Phan Ninh vịn tay vào gờ bàn thờ Phật.
- Nghĩ đi, lặng tâm lại mà nghĩ - Giọng Phan Ninh run run nhưng rõ ràng - Tôi nợ anh, anh nợ tôi. Một vòng luẩn quẩn nợ nhân, quả…
- Câm mồm. Còn dạy dỗ người ta à? - Lê Thinh gầm lên. Cơn giận dồn ứ ngực bốc lên đầu nóng rẫy, hắn đưa nắm đấm về phía trước, chồm vào Phan Ninh. Đột nhiên tim Lê Thinh nhói đau, cơn đau khiến hắn tối tăm mặt mũi. Hai nắm đấm rơi thõng vào khoảng không. Hắn ngã gập người xuống nền gạch.
Phía cổng Tam quan bỗng rền lên một chuỗi thanh âm binh bong, binh bong, lan ra, vỡ vụn rơi lả tả xuống mặt đất rồi bất ngờ lụi tắt. Hình ảnh cuối cùng Lê Thinh thấy là bức tượng Tam Thế Phật uy nghi, lặng im và gương mặt ngờ ngạc của Phan Ninh trong ánh sáng chập chờn, rờn rợn phát ra từ chỗ nào đó ở những cặp chân đèn và lư hương trên bàn thờ Phật.
Đúng lúc ấy, một hồi chuông dài ngân vang. Sư Thầy, chú Tiểu, Ni cô và rất đông phật tử tập trung nơi chính điện. Tiếng tụng kinh vọng cả ra ngoài rừng.
Người giúp việc bồng Lê Thinh trên tay để Sư thầy nhỏ nước thánh xuống vầng trán đẫm mồ hôi lạnh của hắn.
5. Lê Thinh gặp Ni cô Thúy trước cổng chùa. Ni cô hỏi hắn về cơn đau tim, hắn nói, không sao, nhiều lắm lần đau tim, đã quen, nên không sao. Ni cô nói, ngày mai là Rằm tháng Bảy, lễ chùa. Lê Thinh nói, tôi phải đi, đường còn xa. Nói xong chậm chạp xuôi theo những bậc đá trên lối dốc. Bấy giờ mặt trời ở đâu bên kia núi dọi sáng vòm trời, còn trên mặt đất bóng tối sâm sẫm đã bắt đầu loang rộng. Nhiều người, nam có, nữ có đi ngược chiều Lê Thinh. Họ đang lên chùa.
2016
Đ.B