Sách Nhà văn Việt Nam hiện đại tỉnh Hà Tĩnh (Nxb Hội Nhà văn, 2011) ghi nhận 76 nhà văn Việt Nam quê Hà Tĩnh. Đến 2024, con số này thặng lên 89. Đó là một con số biết nói. Nếu tính tỷ lệ 89 trên tổng số khoảng 1800 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay của 63 tỉnh, thành phố (cũ) thì Hà Tĩnh xứng đáng được gọi là miền đất văn chương. Tạp chí Hồng Lĩnh Số 233 + 234 - Tết Bính Ngọ 2026 trân trọng giới thiệu bài viết “Ba người lính ngự lâm văn chương - Mã đáo thành công” của nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng
Hà Tĩnh miền đất văn chương
Sách Nhà văn Việt Nam hiện đại tỉnh Hà Tĩnh (Nxb Hội Nhà văn, 2011) ghi nhận 76 nhà văn Việt Nam quê Hà Tĩnh. Đến 2024, con số này thặng lên 89. Đó là một con số biết nói. Nếu tính tỷ lệ 89 trên tổng số khoảng 1800 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay của 63 tỉnh, thành phố (cũ) thì Hà Tĩnh xứng đáng được gọi là miền đất văn chương.
Trong bài Văn chương nết đất thông minh tính trời (Lời giới thiệu sách) nhà thơ Hữu Thỉnh khi đó đương kim Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã trang trọng và tinh tế viết “Hà Tĩnh, về điều kiện tự nhiên, không được ưu đãi gì nhiều. Nhưng nết đất thì thật là đặc sắc. Một tỉnh thủ thì đới thủy (giáp sông Lam), vĩ thì đạp sơn (đèo Ngang), biển và núi chạy song song với nhau, đăng đối hài hòa giữa tĩnh và động, nhu và cương, thu vào thì thâm hậu thiết tha, mở ra thì mưu lược tìm cách kê đệm cho thiên hạ.( ...). Trong các cuộc thiên di mở cõi về phía Nam, Hà Tĩnh là bàn đạp, là hậu phương trực tiếp. Xem thế thì người sinh ra trên đất ấy có thể ví như máu tụ đầu ngón tay, cung tên đặt trên lẫy nỏ. Vẫn biết không ai có thể chọn cho mình nơi sinh ra. Nhưng nết đất là một đại tính cách, là cái vốn pháp định tinh thần đầu tiên nuôi dưỡng những thực tài. (...). Bản sắc Hà Tĩnh đắc địa đến đâu trong kinh tế, trong quân sự, xin sẵn sàng hầu chuyện các bậc cao kiến, riêng trong văn học, tôi muốn xem đó như một trong những nguồn mạch. Giống như triều Trần, vua ở đâu thì triều đình ở đấy. Trong văn học, thiên tài ở đâu thì nguồn mạch ở đấy. Hà Tĩnh là một trong những nguồn mạch có sức nuôi dưỡng và nhuần thấm cho cả nền văn của đất nước”.
Năm hết tết đến, trong không khí đượm nồng của hương xuân, vị tết chúng tôi muốn chia sẻ cùng bạn đọc quê hương ba gương mặt nhà văn tuổi Canh Ngọ (sinh 1930), đều là những tài năng văn chương của tỉnh nhà, quê hương biết mấy thân yêu, miền địa linh nhân kiệt Hà Tĩnh.
Âm vang từ chiến tranh
Nhà văn Xuân Thiều (Họ và tên khai sinh Nguyễn Xuân Thiều, sinh 1- 4 - 1930 tại xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; mất 4 - 4 -2007 tại Hà Nội). Nhập ngũ từ 12-1947, năm 1951 làm chính trị viên đại đội ở chiến trường Trị Thiên. Năm 1957 học Trường Tuyên huấn Trung ương (lớp Báo chí). Từ 1959 về công tác tại Tổng cục Chính trị, sau làm biên tập viên Tạp chí Văn nghệ quân đội, từng giữ chức Phó TBT. Từ 1987, biệt phái sang công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam, từng làm Phó ban Sáng tác, Chánh văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam. Các tác phẩm chính: Đôi vai (truyện ngắn, 1961), Chiến đấu trên mặt đường (ký, 1968), Trời xanh (truyện ngắn, 1969), Mặt trận kêu gọi (truyện ngắn, 1969), Thôn ven đường (tiểu thuyết, 1972), Đi xa (tùy bút, 1973), Khúc sông (truyện, 1974)), Bắc Hải Vân xuân 1975 ( ký, 1975), Khúc hát mở đầu (truyện, 1981), Gió từ miền cát (truyện ngắn, 1989), Xin đừng gõ cửa ( truyện ngắn 1994), Tư Thiên (tiểu thuyết, 2 tập, 1995).

Bức tượng đồng của cố nhà văn Xuân Thiều được đặt trang trọng trong khuôn viên Trường Tiểu học Nguyễn Xuân Thiều. Ảnh: Internet
Nhà văn Xuân Thiều đã nhận Giải thưởng Nhà nước về VHNT (2001) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT (2017). Văn giới và bạn đọc trìu mến gọi Xuân Thiều là nhà văn chiến sĩ, nhà văn viết chiến tranh xuất sắc. Nhà văn chia sẻ về nghề văn “Đã hơn 50 năm tuổi quân, tôi coi việc viết về chiến tranh các mạng và người lính là thiên chức. Viết về chiến tranh lúc này không chỉ để cổ vũ động viên, mà nhằm khám phá hiện thực chiến tranh, tìm những vẻ đẹp con người Việt Nam. Nó giống công việc người đào vàng. Đào bới sàng lọc từ trong đất đá ra từng vẩy vàng, gom nhặt đúc lại thành vàng thỏi. Những thỏi vàng lấp lánh kia là tâm hồn, tính cách Việt Nam, yếu tố quan trọng bậc nhất để lý giải vì sao dân tộc ta chiến thắng được những đội quân xâm lược khổng lồ” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội Nhà văn, 2020).
Xuất hiện lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ quân đội (1961) với truyện ngắn Đôi vai, quả thật lúc đó cái tên Xuân Thiều chưa nổi bật và gây ấn tượng so với Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Ngọc Tấn, Vũ Cao, Nguyễn Trọng Oánh, Hải Hồ,... những nhà văn mặc áo lính cùng trang lứa. Chỉ khi khoác ba lô Nam tiến trong vai phóng viên Tạp chí Văn nghệ quân đội, hoạt động ở chiến trường Bình Trị Thiên thì ngòi bút có duyên văn mới đạt tới độ đủ “bột” để gột nên “hồ”. Cây bút trẻ với bút danh Nguyễn Thiều Nam (tên con trai thứ ba của nhà văn) vừa viết văn vừa làm thơ. Nhưng cái mốc ghi lại sự chuyển biến của sự viết là truyện ngắn Gieo mầm (1964) với bút danh Nguyễn Thiều Nam. Cái cấu tứ “có cái chết gieo mầm sự sống” được lồng khéo léo trong một cốt truyện điển hình và hấp dẫn. Đọc truyện này độc giả chú ý tới cách viết của nhà văn từ góc độ tái hiện các nền văn hóa tiếp xúc và cọ xát làm bật nẩy lên vấn đề nhân cách (tận cùng của văn hóa là con người). Nhưng để cho thỏa chí viết thì phải là tiểu thuyết. Thôn ven đường (1972) và Tư Thiên (2 tập, 1995) là những panorama (toàn cảnh) về chiến tranh trong một biệt sắc không gian - thời gian nghệ thuật cụ thể ở dải đất miền Trung ác liệt.
Nhà văn Xuân Thiều sau 1975, nổi lên như một cây bút có lối nẻo riêng khi viết về chiến tranh - bộ mặt tinh thần, đạo đức, văn hóa của xã hội thời hậu chiến. Có thể nói về phong cách Xuân Thiều qua hai tập truyện ngắn tiêu biểu Gó từ miền cát (1989) và Xin đừng gõ cửa (1994). Một phong cách, bút pháp tâm lý hằn rõ trên từng trang văn truyện ngắn. Dư luận chung đánh giá cao truyện ngắn của Xuân Thiều trong sự so sánh với các tác giả khác như Nguyễn Minh Châu, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Trọng Oánh ở cái cái độ vừa lành vừa mạnh (lành mạnh) của văn chương. Nhà văn có xu hướng đi sâu khám phá phần bản thể, bản ngã con người (điển hình như Truyền thuyết về Quán Tiên). Nhưng không phá rào, thông chốt. Lối viết của Xuân Thiều là hướng tới khám phá, thể hiện “con người trong con người”, quan tâm tới cả hai mặt tình người và tính người muôn thuở. Vì thế những nhân vật trong truyện ngắn của tác giả hiện lên sinh động, gần gũi, nhất là các nhân vật nữ (trong Gió từ miền cát, Người mẹ tội lỗi, Truyền thuyết về Quán Tiên, Xin đừng gõ cửa,...). Văn của Xuân Thiều trong sáng, chân phương, nhiều sức biểu cảm, tuân thủ nguyên tắc “cái đẹp là sự giản dị”. Xuân Thiều là một trong những nhà văn có công lao góp vào quá trình đổi mới văn học Việt Nam từ sau 1986.
Tại quê hương bản quán của nhà văn hiện nay Trường Tiểu học Bùi Xá mang tên Trường Tiểu học Nguyễn Xuân Thiều (từ niên học 2011-2012).
Cây bút lặng lẽ tỏa hương văn
Nhà văn Văn Linh (Họ tên khai sinh Trần Viết Linh, sinh ngày 1-1-1930, tại phường Đại Nài, thành phố Hà Tĩnh; mất ngày 7-3-2014 tại Hà Nội). Viết văn với các bút danh khác Thao Bun Linh, Thoong Van Vi Chít, Trần Tùng, Trần Thạch. Tham gia quân đội từ 1945, chiến đấu tại chiến trường Bình - Trị - Thiên; năm 1949 đi học sỹ quan, 1950 - 1954 tham gia tình nguyện quân chiến đấu trên chiến trường Lào; năm 1957 làm công tác tham mưu; năm 1960 chuyển ngành làm công tác biên tập, học xong chương trình đại học; năm 1965 làm chuyên gia văn hóa giúp nước bạn Lào; năm 1974 làm biên kịch tại Hãng phim truyện Việt Nam; năm 1991 nghỉ hưu, dồn sức viết văn.
Tác phẩm chính đã xuất bản: Các tiểu thuyết: Mùa hoa giẻ (1957), Goòng (1960), Đêm sương muối (1963), Trên đất bạn (1968), Gương mặt một người thân (1972), Pá Sua (1975), Người Hương Trà (1976), Kỷ niệm nơi đáy hồ (1976), Bên thác (1976), Hai bờ một thung lũng (1984), Con ngựa bốn vó trắng (1988), Đêm nhiệt đới (1994), Thành phố người em gái (1995), Sông Gianh (3 tập, 1999), Tự do đầu tiên và cuối cùng (2003), Đất nước ông bà (2006); ngoài ra nhà văn còn là tác giả của 23 tập truyện ngắn, ký, 15 tập sách thiếu nhi, 20 kịch bản phim truyện, phim truyền hình, phim hoạt hình.
Năm 2022, nhà văn Văn Linh vinh dự được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT cùng đợt với Đại tá - nhà văn Nguyễn Quốc Trung, công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội (quê Sơn Ninh, Hương Sơn, Hà Tĩnh, 1955-2021). Suy nghĩ về nghề văn “Tâm hồn và trí tuệ mà Thượng đế ban phát cho nhà văn khác nào một đôi cánh khỏe hơn triệu triệu lần cánh chim hồng chim hộc. Với đôi cánh ấy, nhà văn vượt lên trên mọi cám dỗ tráng men, mọi dục vọng thơm tho, mọi lâu đài quyền quý nguy nga, đến thẳng với cõi ánh sáng trác tuyệt đặng hoàn thành thiên chức nhà văn. Nếu và có thể lắm chứ, bị rã cánh nửa đường, nhà văn cũng đủ hạnh phúc khi mình từng được trải rộng và vươn dài đôi cánh tự do giữa bao la tinh cầu” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, 2020).
Xuất hiện lần đầu tiên trên văn đàn bằng tiểu thuyết Mùa hoa dẻ (NXB Thanh niên, 1957) được bạn đọc, nhất là thanh niên, yêu thích vì nó nói bằng hình tượng nghệ thuật tình yêu và tuổi trẻ trong chiến tranh, về hạnh phúc và chia ly trong chiến trận. Sách được tái bản cùng năm và trở thành best-seller. Nhưng chính tác giả cũng không hình dung được nỗi đoạn trường do tai nạn nghề nghiệp lại cũng chính từ “đứa con tinh thần mình” sinh hạ mà ra?! Mùa hoa dẻ là tác phẩm có “vấn đề” (bây giờ người ta hay gọi là “nhạy cảm”, “lệch pha”), như một tiếng sét giữa thinh không vốn đang trời quang mây tạnh. Khi nó chuẩn bị tái bản lần thứ hai thì Báo Quân đội nhân dân và Tạp chí Văn nghệ quân đội có bài viết phê phán, nên tác phẩm sau đó bị cấm và rơi vào quên lãng cố ý. Ngày ấy, hai chữ “vấn đề” như là một bản án vô tiền khoáng hậu nếu không may một tác phẩm nào đó bị gán cho, mắc phải. Sau Đổi mới, Mùa hoa giẻ mới được chiêu tuyết, tái bản nhiều lần (tính tổng cộng 60.000 bản sách).
Nhưng Văn Linh là một cây bút có bản lĩnh. Tai nạn nghề nghiệp không làm nhà văn nản lòng, vẫn hùng tâm tráng chí theo truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ. Nhà văn vẫn bền bỉ ngòi bút phụng sự cho cái đẹp. Trước sau người nghệ sỹ vẫn đinh ninh “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên” (Lermontov). Sự kiên trì với lý tưởng sống và lý tưởng nghệ thuật chân chính của nhà văn Văn Linh là bài học sâu sắc về nhân cách văn hóa của người nghệ sỹ chân tài, nói theo cách nào đó là “hồng thắm chuyên sâu”. Nói hình ảnh thì Văn Linh là một “phu chữ”, một lão nông tri điền trên cánh đồng chữ nghĩa khi văn học là nghệ thuật ngôn từ. Nhà văn là tấm gương của tinh thần tận hiến vì “sinh nghề tử nghiệp”. Tài năng và nhân cách của nhà văn là một bảo chứng sinh động cho quy luật “ngọc càng mài càng sáng”; một biểu tượng của niềm tin vào chính nghĩa và công bằng ở đời cuối cùng sẽ chiến thắng. Tên tuổi nhà văn Văn Linh đã nối dài danh sách các nhà văn quê hương Hà Tĩnh thân yêu vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về KHCN&VHNT.
Người làm văn học đích đáng
Nhà văn Hoàng Ngọc Hiến (Họ tên khai sinh Hoàng Ngọc Hiến, sinh ngày 21-7-1930, quê quán xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; mất ngày 24-1-2011 tại Hà Nội). Nhận bằng Tiến sỹ văn học tại Liên Xô (trước đây); làm nghề dạy học từ 1949 đến lúc nghỉ hưu; đã từng dạy học tại Trừờng Đại học Sư phạm Vinh, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trường Viết văn Nguyễn Du. Tác phẩm chính đã xuất bản: Maiacôpxki, con người, cuộc đời và thơ (khảo cứu, 1976), Maiacôpxki, hài kịch (dịch, 1984), Văn học Xô Viết đương đại (khảo cứu, 1987), Văn học - học văn (tiểu luận - phê bình 1990), Văn học gần và xa (tiểu luận - phê bình, 2001), Triết lý văn học và triết luận văn chương (tiểu luận - phê bình, 2006). Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1985, dành cho tác phẩm Maiacôpxki, hài kịch (dịch).
Nhà văn chia sẻ với bạn đọc suy nghĩ về nghề văn “Những bài phê bình hay làm người đọc yêu văn học. Yêu văn học là yêu những giá trị tinh thần, sự khô cạn của tình yêu này đương là một trong những sự khốn cùng của thế giới hiện đại. Cũng như các thể loại văn học khác, viết phê bình không thể thiếu cảm hứng. Người viết phê bình là người có những chủ kiến mạnh mẽ (về các vấn đề nhân sinh, cũng có khi là những vấn đề học thuật). Cảm hứng phê bình nảy sinh khi chủ kiến của nhà phê bình ngẫu nhiên cộng hưởng đâu đó với tác giả và tác phẩm nào đó. Nhưng chủ kiến của nhà phê bình là sản phẩm của sự suy nghĩ, có ý thức đồng thời có gốc rễ vô thức (có những kinh nghiệm cá nhân và những kinh nghiệm cộng đồng được tàng trữ ở đây). Nhà phê bình không thể không tìm hiểu tác giả, tác phẩm mình phê bình, sự tìm kiếm này có thể làm thay đổi chủ kiến của nhà phê bình nhưng cuối cùng thì viết phê bình vẫn là bộc lộ chủ kiến của mình. Octavio Paz hoàn toàn có lý “Đối với nhà phê bình, bài thơ là điểm xuất phát để đi đến một văn bản khác, văn bản của mình ” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội Nhà văn, 2020). Có thể nói, chia sẻ này là một đúc kết nghề văn quý báu với những thế hệ viết phê bình đi sau.
Điểm mạnh của ngòi bút phê bình Hoàng ngọc Hiến là có nền tảng triết học, văn hóa, mạnh về khái quát, tổng kết. Đồng nghiệp không tiếc lời ca ngợi ông “Hoàng Ngọc Hiến - triết học ẩn dật trong văn học” (Chu Văn Sơn), “Hoàng Ngọc Hiến - nhà phê bình triết luận” (Trần Đình Sử), “Hoàng Ngọc Hiến - ông văn hiến trí thức, người làm văn học đích đáng” (Phạm Xuân Nguyên),... Những tiểu luận văn học của ông thường có sức thuyết phục về nền tảng triết học, văn hóa điển hình như Triết lý Truyện Kiều. Cách viết của tác giả gợi nhớ cách thức L.Tolstoy viết về M. Gorki “Tác giả của Truyện Kiều là một trí tuệ lớn, không phải là “trí tuệ của trí tuệ”, mà đây là “trí tuệ của trái tim”. Cách diễn đạt này tương đồng với cách diễn đạt “Đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ, đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim” là phẩm cách của những nghệ sỹ vĩ đại từ cổ chí kim, từ đông sang tây.
Tuy nhiên, do mạnh về khái quát, tổng kết nên có lúc nhà văn sa đà vào tư biện như trong trường hợp viết tiểu luận Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua (đăng báo Văn nghệ, số 23, ra ngày 9/6/1979). Trong tiểu luận này nhà nghiên cứu đã khái quát, đề xuất một khái niệm/thuật ngữ/phạm trù “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” để áp vào toàn bộ sáng tác văn học và nghệ thuật Việt Nam giai đoạn 1945-1975. Công bằng mà nói, tuy được sự hô ứng của bạn đọc, song le ý kiến này thiếu chân đế của tính lịch sử - cụ thể khi tiếp cận văn học và nghệ thuật quá khứ được quan niệm (về lý thuyết) và thực hành (thực tiễn) như là một mặt trận, người nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy. Cũng có ý kiến phản biện cho rằng đó là một quan niệm có tính chất, tinh thần “học phiệt”?!
Thời gian là vị quan tòa công minh. Cuối cùng thì chúng ta nhận ra tinh thần trung thực, trung thành với lý tưởng sống và khát vọng được thành thực trong lý tưởng nghệ thuật của nhà văn. Hoàng Ngọc Hiến là một nhân cách văn hóa. Điều đó rõ ràng như dưới thanh thiên bạch nhật./.
Hà Nội - Hà Tĩnh, 12/2025
B.V.T