Tạp chí Hồng Lĩnh số 237 tháng 5/2026 trân trọng giới thiệu bút ký “Khắc khoải tiếng chim từ quy” của nhà thơ Lê Văn Vỵ
Hai năm sau, biết tin chồng ở Đồng Hới Quảng Bình, một lần nữa, cô như con chim từ quy lặn lội qua những “chảo lửa, túi bom”, những cung đường khu Bốn ác liệt tìm chồng. Khao khát có với nhau đứa con, cô quyết tìm đến được đơn vị của chồng. Nhưng tiếc thay, lần này, đơn vị của chồng vừa chuyển vào B lúc 12 h đêm qua. Nghe nhân dân kể mà cô đứng như trời trồng. Nhìn vết xe lăn bánh còn nguyên trên đất, nhìn lên trời chim bay lẻ bạn, nhìn trước mặt, điệp điệp trùng trùng núi non xa khuất, cô kêu lên như tiếng từ quy khắc khoải.
Cây nhãn
Mới sáng sớm, nắng hè đã nhóm lửa. Tôi và nhà giáo Chu Trọng Quýnh tìm đến xóm Lòi (nay thuộc thôn Gia Ngãi 1, xã Thạch Long, Thạch Hà), hỏi thăm nhà bà Nguyễn Thị Hương - em gái nhà giáo - liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân (1950-1975). Ông cụ láng giềng ân cần chỉ đường cho chúng tôi. Bước vào ngõ, ấn tượng của chúng tôi là căn nhà được bao bọc bởi cây xanh. Mảnh vườn được bàn tay bà Hương chăm sóc đầy hoa trái.
Tôi hỏi: “Trong vườn cây lưu niên nay, có cây nào lệt sĩ Nguyễn Phi Nhân trồng, còn lại không?”.
Bà Hương đưa chúng tôi ra sau nhà: “Đây, cây nhãn lồng này là do cậu (anh trai Nguyễn Phi Nhân) trồng; còn bụi tre kia có từ thời bố mẹ. Cả vườn này, chỉ còn cây tre, cây nhãn thôi là chứng nhân lịch sử!”. Tôi nhìn bao quát quanh vườn, nhìn khóm tre vẫn còn mơn mởn xanh tốt và đặc biệt bị hút vào cây nhãn. Cây nhãn hai nhánh, tán xum xuê bóng rợp cả mái nhà. Đang tháng 6, những chùm nhãn lúc lỉu, quả đã bằng ngón tay út. Đây là giống nhãn lồng, quả to, cùi dày, ngọt, mọng nước.

Bà Hương bên cây nhãn do anh trai - Liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân trồng. Ảnh: Văn Lê
Được biết, năm 1966, tốt nghiệp cấp 2, Nguyễn Phi Nhân đầu đơn vào sư phạm 7+3 (ở Sơn Trà, Hương Sơn). Bác Thông (chủ nhà trọ) tặng Nhân cây nhãn giống này. “Còn nhớ, hè năm 1967, anh về nghỉ, mang theo cây nhãn thân bé như chiếc đũa, đùm trong mo cau, rồi đem trồng ở vườn. Kỳ lạ, cây nhãn xanh tốt, 5 năm sau thì cho quả. Tính đến nay cây nhãn đã 58 năm rồi”. Bà Hương kể. Hơn nửa thế kỷ, kỳ lạ cây nhãn anh Nguyễn Phi Nhân trồng không sâu bọ phá hoại. Mưa nắng, lốc xoáy, bão xô, cây vẫn trụ vững giữa vườn… Cuối Xuân, nhãn đơm hoa, hương thơm ngào ngạt. Ong, bướm bay về tìm hoa lấy mật. Tháng Tám “rám trái bưởi”, nhãn chín tách cùi, tỏa hương thơm ngọt ngào. Bà Hương tiếp tục câu chuyện với chúng tôi mà như đang nói với chính mình: “Nhìn cây nhãn, tôi nhớ anh quặn lòng. Thương đứt ruột. Lúc anh ở nhà, nhãn chưa ra quả. Bây giờ nhãn ngon ngọt, anh chẳng còn được hưởng. Tôi đàn bà, chẳng thể lồng. Mùa quả chin, chập choạng lũ dơi đánh hơi cũng bay về. Khi lũ dơi bay về, là quả chín muồi, tôi thu hoạch chỉ được một phần dưới thấp, phần trên cao ngon nhất lại là làm thức ăn cho dơi và chim. Mùa quả nào tôi cũng ngắt, đơm đầy dâng lên tổ tiên, cha mẹ và anh trai”. Bà Hương kể.
“Một tình yêu như cánh chim từ quy…”
Trong rừng, chim từ quy sống từng đôi, như hình với bóng. Chuyện kể rằng: Có đôi trai gái yêu nhau tha thiết. Họ nguyện trăm năm kết tóc xe tơ, đi cùng trời cuối đất. Nhưng cha mẹ ngăn cấm. Họ không đến được với nhau. Không đoàn tụ khi sống, chết họ biến thành chim từ quy. Con trống ở núi bên này, con mái ở núi bên kia, khắc khoải gọi nhau suốt đêm. Khi mặt trời lên, đôi chim tìm được nhau. Nội dung câu chuyện đã tạo cảm hứng cho nhạc sĩ Đức Trịnh hoàn thành ca khúc: “Miền xa thẳm” viết về tình yêu đôi lứa trong chiến tranh: “Một tình yêu như cánh chim từ quy bay đi tìm nhau/Một tình yêu như bão giông khát khao đến bên nhau giữa đạn bom/Đi tìm nhau suốt chiều dài đất nước/ Đi tìm nhau giữa hai đầu trận đánh/ Đi tìm nhau để mãi mãi không về”. Câu chuyện và ca khúc vận vào thân phận nhà giáo Nguyễn Phi Nhân và Nguyễn Thị Lan.
Theo thông tin từ bà Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Phi Nhân và Nguyễn Thị Lan đến với nhau khi anh về dạy học tại trường cấp 2 Thạch Long. Tuổi đôi mươi nhiệt tình, thầy giáo Nguyễn Phi Nhân sẵn sàng, tiên phong có mặt nơi khó khăn gian khổ nhất. Thầy cùng nhà trường đào hào, đắp lũy, sơ tán trường đến nơi an toàn bảo đảm tính mạng cho thầy và trò. Thầy giáo Nguyễn Phi Nhân lại là Bí thư Đoàn TN xã năng động, xông xáo, cùng BGH trường và lãnh đạo địa phương tổ chức được hoạt động thanh niên “Ba sẵn sàng” trong thời chiến hiệu quả. Với những đóng góp xuất sắc, thầy giáo Nguyễn Phi Nhân sớm được đứng trong hàng ngũ Đảng. Phải lòng thầy giáo trẻ say mê lý tưởng, cô Nguyễn Thị Lan yêu thương. Năm 1968, cô Lan tham gia đơn vị thanh niên xung phong. Thầy giáo ở hậu phương, người yêu ra trận. Người yêu là một trong những “Cô gái Lam Hồng”, “đi thông đường”, “cho những chuyến xe qua”. Đầu năm 1971, hai người tổ chức lễ thành hôn. Lúc ấy, cô TNXP Lan đang cùng đơn vị phục vụ tuyến đường 1 A, 8A, ở Thị xã Hồng Lĩnh; một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ.
Đám cưới thời chiến tổ chức đơn giản ở quê. Hai người bên nhau được ba ngày. Nguyễn Thị Lan trở về đơn vị có mặt trên các cung đường ác liệt. Ngày 04/1/1972, thầy giáo Nguyễn Phi Nhân làm đơn tình nguyện gia nhập quân ngũ. Tạm biệt cha mẹ, tạm biệt mái trường, đồng nghiệp, học sinh thân yêu, Nguyễn Phi Nhân khoác ba lô lên đường. Hai năm sau, thầy giáo đã là Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 270, sư đoàn 341 Sông Lam. Ngày thầy Nguyễn Phi Nhân lên đường, vợ trẻ Nguyễn Thị Lan đang cùng đồng đội lăn lộn trên tuyến đường Trường Sơn, không thể về được chia tay chồng. Biết chồng là cán bộ khung huấn luyện đóng ở Hương Sơn, cô Nguyễn Thị Lan xin phép đơn vị, bất chấp bom đạn, lặn lội đi tìm chồng ở miền núi Hương Sơn. Tiếc thay, khi cô tìm được đến nơi đóng quân, thì chồng cô đã cùng đơn vị hành quân vào phía trong. Có phải đôi chim từ quy lại vận vào vợ chồng cô!?
Hai năm sau, biết tin chồng ở Đồng Hới Quảng Bình, một lần nữa, cô như con chim từ quy lặn lội qua những “chảo lửa, túi bom”, những cung đường khu Bốn ác liệt tìm chồng. Khao khát có với nhau đứa con, cô quyết tìm đến được đơn vị của chồng. Nhưng tiếc thay, lần này, đơn vị của chồng vừa chuyển vào B lúc 12h đêm qua. Nghe nhân dân kể mà cô đứng như trời trồng. Nhìn dấu xe lăn bánh còn nguyên vẹn trên đất, nhìn lên trời chim bay lẻ bạn, nhìn trước mặt, điệp điệp trùng trùng núi non xa khuất, cô kêu lên như tiếng từ quy khắc khoải. Và lần này, chồng cô; thầy giáo Nguyễn Phi Nhân đã cùng đơn vị đã đi ra tiền tuyến, đối mặt với trận chiến khốc liệt “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.
Sau này cô được biết, chồng cô và đơn vị được biên chế vào Quân đoàn 4; lực lượng chủ lực tham gia chiến dịch Xuân Lộc 12 ngày đêm, tung đòn quyết định làm bật “cánh cửa thép” Long Khánh mở cửa cho quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. Ngày 10/4/1975, Nguyễn Phi Nhân và đơn vị thọc sâu vào thị xã Long Khánh. Quân địch một mất một còn chống trả quyết liệt. Nguyễn Phi Nhân đã ngã xuống ở cửa ngõ Sài Gòn. Hai mươi ngày sau (30/4/1975) chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam. Tiếc cho Nguyễn Phi Nhân và các Liệt sĩ không chứng kiến được phút giây vỡ òa niềm vui vô biên bất tận này. Nhưng máu của anh và đồng đội đã góp phần viết nên trang sử vàng chói lọi của dân tộc.
Máu chảy về tim
Sau hai năm, nhà giáo - liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân hy sinh, gia đình nhận được giấy báo tử. Tỉnh đội, huyện đội, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, nhà trường đã làm lễ truy điệu nhà giáo - liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân. Bà Trần Thị Đôi; mẹ liệt sĩ, bị sốc không qua khỏi. Ông Nguyễn Phi Đạt từ đó mang bệnh nội tâm. Năm 1990, ông bị ngã gẫy xương đùi, con gái Nguyễn Thị Hương tận tụy, săn sóc cha.
Vợ chồng ông bà Nguyễn Phi Đạt (1902- 1995), Trần Thị Đôi (1904-1977) sinh được 4 con (ba gái, một trai). Nguyễn Phi Nhân là con trai thứ ba. Hai chị gái: Nguyễn Thị Châu (sinh 1938) lấy chồng, mưu sinh ở Quảng Bình và chị hai Nguyễn Thị Tam (sinh 1946) mưu sinh ở Đắc Lắc. Em út Nguyễn Thị Hương ở quê, lấy chồng “nửa đường đứt gánh”, về săn sóc cha bệnh tật kinh niên. Hiện bà Nguyễn Thị Hương là người thờ cúng tổ tiên, cha mẹ và hương khói cho anh trai liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân.
Trước bàn thờ tổ tiên và anh trai, bà Hương đã kể cho chúng tôi nghe hành trình vất vả, nhưng vẫn còn may mắn của bà. Theo bà Hương, anh trai là nhà giáo - liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân được an táng tại nghĩa trang Long Khánh, Đồng Nai. Tại nghĩa trang có 42 mộ chưa xác định được danh tính.
Năm 2019, sư 341 cùng với đội tìm kiếm thi hài liệt sĩ, lấy danh tính, tra cứu quê quán, cử người đến tận từng địa phương để xác định danh tính liệt sĩ theo AND. “Trong 42 mẫu, chỉ có duy nhất một mẫu anh trai tôi có AND trùng khớp với tôi. Đúng là số “độc đắc”. Bà Hương lật đật mở khóa, lấy trong hòm cho tôi xem “Thông báo kết quả giám định Gen hài cốt liệt sĩ” của Hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam. Thông báo mang số 250/TB-HHTGDLS đề ngày 16/1/2020.
Thông báo ghi: “Căn cứ kết quả phân tích giám định gen hài cốt sĩ của Viện Công nghệ ADN và Phân tích Di truyền, Công văn số 61/NCC-HSTTLS ngày 13/1/2020 của Cục Người có công “V/v thông báo kết quả giám định AND xác định hài cốt liệt sĩ” bàn giao cho Hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam ngày 13 tháng 1 năm2020.
Hội HTGĐLS Việt Nam thông báo cho bà Nguyễn Thị Hương; Nguyên quán và thường trú tại thôn Gia Ngãi 1, xã Thạch Long, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, là người yêu cầu giám định gen hài cốt liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân.
Đơn vị phân tích: Viện Công nghệ AND và Phân tích Di truyền. Mẫu phân tích: Mẫu hài cốt lấy từ mộ số 13,hàng 11, lô 5A (ký hiệu NCC 3588) NTLS TP. Long Khánh tỉnh Đồng Nai và mẫu tóc, móng tay của bà Nguyễn Thị Hương (em gái liệt sĩ), ký hiệu LK 28 GL). Ngày gửi mẫu đi giám định: 16/9/2019. Kết quả: Viện Công nghệ AND và Phân tích Di truyền xác nhận AND tách từ mẫu hài cốt đã phân tích có liên quan huyết thống theo dòng mẹ với AND tách từ mẫu tóc, móng tay của bà Nguyễn Thị Hương, là em gái liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân.
Như vậy, mẫu hài cốt lấy từ mộ số 13, hàng 11, lô 5A NTLS TP. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai là mộ của liệt sĩ Nguyễn Phi Nhân”.
Khó mà nói hết niềm vui của bà Nguyễn Thị Hương: “Đúng là vui trào nước mắt, bác ạ! Máu lại chảy về tim!”.
Đầu tháng 7 năm 2020, bà Hương hoàn tất thủ tục cùng người nhà đưa thi hài anh trai từ nghĩa trang LS TP. Long Khánh về an táng tại nghĩa trang LS núi Nài (Thành phố Hà Tĩnh). Bốn mươi lăm năm, máu lại chảy về tim!
Tôi và thầy Chu Văn Quýnh bị cuốn hút theo câu chuyện mà quên đã 12 giờ trưa. Thắp hương cho LS. Nguyễn Phi Nhân, chụp thêm ảnh tư liệu, chúng tôi chào bà Hương ra về. Màu xanh khu vườn, đặc biệt cây nhãn ám ảnh chúng tôi mãi. Nhưng điều kỳ lạ, là giữa trưa Thạch Long, tôi vẫn nghe lúc gần, lúc xa chim từ quy vẫn khắc khoải kêu. Giữa nắng rát, gió Lào, tiếng kêu như lửa đốt.
Hà Tĩnh 28/6/2025
L.V.V
________________
* Miền xa thẳm - Ca khúc của NS Đức Trịnh