23-07-2016 - 13:47

Bút ký "Người rừng" của tác giả Nguyễn Xuân Diệu

Hướng tới kỷ niệm 69 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1957 - 27/7/2016). Tạp chí Hồng Lĩnh số 119 hân hạnh giới thiệu bạn đọc bút ký "Người rừng" của tác giả Nguyễn Xuân Diệu.

NGƯỜI RỪNG
 

 

Đó là những ngày đầu mùa khô năm 1972, đại đội đặc công 20 (thuộc tiểu đoàn đặc công 31- Quân khu Bốn) chúng tôi được giao nhiệm vụ thọc sâu vào lòng địch, đánh chiếm cứ điểm Phu Xủng. Thông tin về cứ điểm này chỉ vẻn vẹn một khoanh tròn đỏ trên bản đồ quân sự chằng chịt đường bình độ và lời chú thích đơn giản: “Phu Xủng cao 1002m, do BS (tiểu đoàn) 226 quân đặc biệt Vàng Pao chốt giữ.” Việc “điều nghiên” cứ điểm được giao cho tổ trinh sát do tôi làm tổ trưởng cùng hai tổ viên Cù Trọng Hoà người xã Sơn Hòa và Đặng Minh Lương, quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Nhận nhiệm vụ xong, chúng tôi lên đường ngay. Đi suốt ba ngày, ba đêm luồn lách qua hàng loạt đồn bốt địch, chúng tôi mới đến nơi tập kết. Chiếu ống nhòm từ đài quan sát, cứ điểm Phu Xủng hiện ra như một miếng tiết đỏ bầm trên ngọn núi cao chót vót. Những nhà lính, lô cốt, cột ăng ten… lô nhô, xám xịt. Phía sau sau căn cứ là bức tường đá Phu Năng Non cao 1.442m, hình cánh cung, sừng sững ngang trời ôm lấy cứ điểm. Phía trước cứ điểm, sườn núi dốc đứng, cây cối bị chặt trụi, dăng kín mít 12 lớp rào gai các loại. Tiếp đến là sân bay dã chiến trần trụi, đường băng đỏ lòm lòm…

Lương quan sát xong, thở dài:

- Khó khăn rồi đây! Địa thế hiểm trở thế này, em thấy chúng ta không thể đột nhập phía trước cứ điểm. Vượt qua chừng ấy chướng ngại, chưa kể gỡ mìn trong đó, chí ít ta đã mất trắng hai đêm. Vậy là có một ngày ta phải nằm lại, ém quân trong rào gai rất nguy hiểm. Thế nên ta phải tìm đường tiềm nhập từ hướng lèn Phu  Năng Non. Em nghĩ, cái lèn đá này dài đến mấy cây số, thì thiếu gì hang hốc, chỗ lồi, chỗ lõm có thể lợi dụng mà qua được!

Tôi cho là phải. Cả tổ nhằm hướng lèn đá mà tiến. Đi suốt hai ngày nữa mới vòng được tới lưng lèn. Ngửa cổ lên nhìn, Phu Năng Non như một bức tường đá xám xịt, loang lổ hút tầm mắt. Mới quá trưa, bóng lèn đã đổ về phía đông, che rợp cả một vùng. Một vài đám mây bông xốp bồng bềnh trôi ngang lưng lèn. Tiếng súng trường Ga-răng “cắc bọp” của bọn lính đi tuần, tiếng DKZ 57 và cối 81li bắn ra từ cứ điểm cộng với tiếng è è đều đều của máy bay L19 bay sát vách lèn  tạo thành một âm thanh hỗn tạp, láo nháo, căng thẳng. 

Một ngày, hai ngày rồi ba ngày chúng tôi bám theo sườn dãy lèn mà vẫn chưa tìm được đường tiềm nhập. Nơi thì lèn dốc dựng đứng, nứt nẻ như ghép bằng những thoi đá dài hàng chục mét, chồng nối lên nhau cao vút. Nơi khác, lưng lèn lở lói, lởm chởm đá tai mèo nhọn hoắt, sắc lẹm. Nếu nối dây trèo qua, vô phúc vướng phải cạnh đá thì hoạ có dây bằng thép mới không bị đá cứa đứt! Hoà ngao ngán:

- Vài ngày nữa, cứ điệp khúc đá này, e phải chặt song làm thang mà trèo qua thôi!

Trời nhạt nắng, sương mù từ các hốc đá đã tràn ra trắng xoá chân lèn. Phu Năng Non giống như một ngọn tháp đá đang trôi trong màn sương. Chúng tôi dừng lại, chui vào một lòng hang nông choèn nghỉ qua đêm. Gần sáng, trong tiếng gió hú rờn rợn, không dứt trên đỉnh lèn, có lúc tôi nghe mơ hồ có tiếng chân người thoảng qua cửa hang. Tôi nhổm dậy, nhón chân đi ra cửa, ép sát tai xuống đất. Gió vẫn hú ào ạt, hu huơ đầy ngờ vực. Tiếng run rẩy, rón rén nghe nửa như tiếng chân thú, nửa như bước chân người thoảng qua lần nữa rồi chìm hút trong tiếng gió. Rõ ràng đây không phải là thám báo. Bọn thám báo địch phải mang trang bị, súng đạn đầy người, nên dù chúng rất tinh quái, giỏi luồn rừng, bước chân vẫn nặng hơn nhiều. Sực nhớ một lần đi trinh sát qua Bản Phuộc, dân bản nói với chúng tôi, hình như ở Phu Năng Non có người rừng! Tôi cười nụ, không tin. Nhưng bây giờ…? Chẳng lẽ có Người Rừng thật sao?

Tôi gật đầu rồi lại lắc đầu một mình, thắc thỏm ôm súng ngồi cảnh giới để Hoà và Lương ngủ.

                                                             *

Hưng hửng sáng, cả tổ đã lặng lẽ ra khỏi hang. Sương đặc quánh là là bay sát đất, lạnh buốt. Có quãng, sương đọng lại trên lá cây rồi ào cái, rơi dày xuống làm áo quần chúng tôi ướt đẫm.Vẫn chưa thoát khỏi ám ảnh của bước chân mơ hồ đêm qua, như một bản năng, đang đi, bàn chân tôi tự nhiên khựng lại. Trong sương mai đẫm mùi lá mục, mùi rêu nhớt, mùi thú hoang, phảng phất một thứ mùi là lạ, không phải mùi của rừng, thoảng qua như một ảo giác.Tôi ra hiệu cho cả tổ ngồi thụp xuống, rồi lấy tay vốc hơi sương hất vào mũi. Đúng là có mùi thuốc lá rê và cả mùi… người. Người hút đi qua đây chưa lâu,vì mùi thuốc lá và cái mùi người, cái mùi tôi nhận được nhưng thật khó cắt nghĩa, còn lãng đãng lắm. Có thể… Có thể là những làn gió vô hồi gần sáng trên đỉnh lèn đã làm hại tôi. Tôi đã không lọc ra được cái bước chân người thoảng qua cửa hang lúc ấy…?

Tôi ghé tai Lương và Hoà:

- Có người! Chừ cậu Hoà chú ý cảnh giới phía sau. Tớ và Lương tìm kỹ dấu vết  trên đất. Tai dỏng cả lên mà nghe! Cái bước chân lúc gần sáng tớ nghe mỏng lắm!

Chỉ ít phút sau, Lương đã níu áo tôi lại, thì thào:

- Anh xem này! Có dấu chân đây rồi!

Tôi ngồi xuống nhìn kỹ. Một vết chân to bè bè in mờ trên nền đất xốp. Lần theo một quãng, lại thấy một vết chân nữa, nhỏ hơn. Một lá khộp khô vỡ vụn dưới bàn chân nhỏ ấy.

Lương trầm ngâm:

- Có vẻ như là hai người, mà phải là một trai, một gái. Đây, anh nhìn mà xem: Vết chân to là của đàn ông, đất lún sâu hơn, khoảng cách bước chân dài. Vết chân nhỏ chỉ in mờ mờ, đều đặn, chứng tỏ người này là con gái chứ không phải trẻ con. Trẻ con hiếu động, hay chạy nhảy, không bước đều như thế này! Họ là ai nhỉ?

- Ừ! – Hoà gật gù ra chiều suy nghĩ – Dân các bản quanh vùng đã bị địch “xúc” đi tít tận Mường Nham từ hồi chiến dịch Cù Kiệt (rửa hận). Đây là vùng tranh chấp, ai dại gì ở lại để hứng tên rơi, đạn lạc! Hay họ là Người Rừng?

Tôi cắn môi suy tính một lúc, rồi quả quyết:

- Chừ ri, nhiệm vụ của tổ trinh sát chúng ta là tìm đường đánh Phu Xủng. Đây chỉ là tình huống ngoài kế hoạch tác chiến. Nhưng nếu ta bỏ qua, nếu người để lại vết chân ni phát hiện ra ta, báo cho địch là hỏng! Nên chi phải tìm bằng được!

Chúng tôi lần tiếp theo vết chân lạ. Nắng sớm đã miên man tràn trên tán cây, chưa thể len qua màn sương xuống tới mặt đất. Những con khỉ đá gầy còm nhom, không hiểu chui ra từ đâu vừa gãi bụng, gãi mông sồn sột vừa trố mắt nhìn chúng tôi vừa hỏi nhau khèng khẹc. Mấy con đại bàng đất ngồi sù sụ trên các mỏm đá tai mèo, cúi cái mỏ khoằm khoặm đầy nghi ngờ xuống nhìn rồi bay túa lên mất hút…

Qua một khu rừng khộp già đang mùa đổ lá, chúng tôi đi đến khoảng rừng non. Một vệt lá xiêu vẹo vuốt theo hướng người vừa đi qua, vài chiếc lá bị lật nghiêng, bụng lá màu trắng bạc lất phất trong gió sớm. Lương nhận xét:

- Những vết chân và vết lá bị lật này rõ là của dân rồi. Bọn “TEM” (Thám báo) đâu phải những thằng ngu mà không biết xoá dấu vết!

Qua khu rừng đại ngàn lốp xốp rêu, tới một vách đá chắn ngang mọc đầy cây dương xỉ, tôi bỗng thấy phía trước bên một cửa hang nhỏ, hình như có bóng người thoáng qua. Tôi khoát tay cho tổ dừng lại, đưa ống nhòm lên nhìn, sửng sốt:

- Trời ơi! Người Rừng!

Trong ống nhòm, thấp thoáng hai con người mặc áo quần rách tướp, xám xịt như màu vỏ cây, đầu tóc bờm bã, đang ngồi bên cửa hang ăn cái gì đó. Người đàn ông râu ria xồm xoàm gần như che kín bộ mặt đen đúa. Người đàn bà tóc đen nhánh, xoã tung ngồi quay lưng về phía chúng tôi, nên không nhìn rõ mặt. Lương nói nhỏ vào tai tôi:

- Có thể đây là những người được gọi là Người Rừng đấy. Xem ra họ chẳng có gì là dữ tợn cả. Giờ ta nên chia làm ba hướng tiềm nhập đến giữ họ lại, hay tránh họ mà đi hướng khác?

- Đã đến nước này thì phải đến với họ thôi! - Tôi quả quyết - Chừ ri, tớ đi giữa, hai cậu tiềm nhập hai bên. Súng ống mang ra đằng sau lưng, để khi thấy chúng ta họ yên tâm. Chưa có lệnh tớ, không ai được manh động!

Hoà có vẻ vẫn hoài nghi, tay lăm lăm cò súng. Tôi vỗ vai cậu ta:

- Đừng lo! Đã sống trong rừng sâu như ri, rõ là hai Người Rừng này không ưa thằng địch. Rứa tức là họ thuộc phe ta! Đừng làm họ sợ. Bí lắm thì chỉ giữ họ lại, tuyệt đối không được nổ súng!

Đợi Hoà, Lương đi khom khuất vào cây rừng, tôi mới tiềm nhập về phía hai Người Rừng. Rừng cây rậm rạp nên chẳng khó khăn lắm, chỉ ít phút sau tôi đã đến ngồi trước hai Người Rừng chưa đầy 10 mét. Họ vẫn chẳng hề hay biết, đang rì rầm  với nhau gì đó. Tôi vuốt vuốt lại quần áo cho ngay ngắn, rồi đứng thẳng dậy.

Cô gái Người Rừng nhìn thấy tôi rú lên một tiếng, chạy tọt vào cửa hang. Nhanh như cọp vồ mồi, Người Rừng râu ria đứng vụt dậy, đôi mắt dưới hàng mi rậm rì quắc lên sắc lạnh. Ông vớ chiếc nỏ bên người chĩa thẳng vào người tôi. Tôi cố lấy bình tĩnh, chắp hai tay trước ngực, tươi cười:

- Xăm bai bọ? (Lời chào thân mật khi gặp nhau của người Lào)

Người Rừng râu ria vẫn đứng yên như một tảng đá. Đôi mắt ông lừ lừ nhìn tôi không chớp, ngón tay gân guốc đặt trên lẫy nỏ như chực siết cò. Mũi tên nhọn hoắt, đen sì không động đậy hướng thẳng vào ngực tôi. Tôi cố vận dụng hết vốn tiếng Lào của mình:

- Khoi phên thả hán Việt. Phò xăm bai bọ?(Con là bộ đội Việt. Bố khoẻ không?)
 


Minh họa: Lê Anh
 

Đôi mắt lạnh lùng của Người Rừng bỗng dịu lại, bộ râu rối bời rung rung. Hình như đôi môi ông đang mấp máy. Tôi nắm hai bàn tay vào nhau đưa ra phía trước ngực, miệng nói “Xa ma khi” (Đoàn kết). Cây nỏ trên tay Người Rừng rơi xuống đất. Ông chững lại một lúc rồi bỗng quỳ sụp, giơ hai tay lên trời, nấc nghẹn:

- Phà ơi! Bua Thoa ơi! “Thả hán” Việt,  “Thả hán” Pa - thét về thật rồi!

Rồi ông loạng choạng đứng dậy ôm chầm lấy tôi. Từ hai bụi cây rừng, Hoà và Lương cũng bước ra, chắp tay “Xăm bai đi”…

                                                              *

Hang đá ông “Người Rừng” dùng làm nơi ở chật hẹp, đầy mùi lông và thịt thú rừng. Hai liếp nứa kê cao ở hai góc hang trải da báo dùng làm chỗ ngủ. Bếp đặt ngay giữa lòng hang, trên giàn bếp lủng lẳng từng xâu thịt rừng, mới có, cũ có, ám khói. Tôi nhìn quanh, lấy làm lạ. Tại sao một người Lào Lum quen sống trên sàn nhà cao ráo, mát mẻ lại có thể ở trong cái hang mốc meo này hai năm trời như một Người Rừng. Chợt nhớ ra, tôi hỏi ông:

- Phò ơi, lúc nãy chúng con thấy có người con gái nữa mà?

- À - Ông cười nhăn nhúm - Đó là Bun Mi, con gái ta. Còn ta là Khăm Lếch. Ở Phu Xủng, dân bản thường gọi ta là Phò Khăm.

Ông vỗ hai tay vào nhau. Bun Mi đột ngột hiện ra từ trong hang đá. Ba chúng tôi sững người. Cô đã thay bộ “xông xua” (váy áo) mới, màu xanh như da trời. Chiếc dây lưng đính những cúc óng ánh bạc làm thân hình cô càng thon thả, đường eo mềm như câu hát “ Hoa chăm pa”. Đôi mắt bồ câu Bun Mi đen thăm thẳm dưới làn mi con vút. Khuôn cô mặt trắng hồng, như từ gương mặt ấy đang toả ra mùi hương dịu mát. Đôi  cánh tay nõn nà của Bun Mi như múa theo nhịp đi. Phò Khăm mỉm cười nhìn khắp lượt chúng tôi, gật gật đầu:

- Ta biết các con đến đây đã ba ngày nay rồi. Ta và Bun Mi đi theo mãi mà không tìm được chỗ các con ngủ. Các con “thả hán” Việt giỏi thật!

Tôi ngạc nhiên:

- Làm sao Phò biết được chúng con đến đây?

Ta ở đây đã hơn hai năm. Đến con vượn nào sắp đẻ ta còn biết nữa là. Từ trước đến giờ trên vách đá, đại bàng đất thường ngồi từng dãy đến khi sương tan mới bay đi bắt mồi. Mấy ngày nay mới tảng sáng chúng đã biến đi đâu mất cả. Ở rừng xanh, đại bàng đất là loài chim dũng mãnh nhất, nhưng cũng là giống đa nghi nhất!

Nghe Phò nói xong, Hoà nhổm người lên cười tuếch toác:

- Phò biết chúng con đến, sao còn định lấy nỏ bắn chúng con?

Phò chỉ vào tôi, cười ha hả, khuôn mặt giãn ra như trẻ lại:

- Khi thấy con đi tới mà súng mang sau lưng, ta đã đoán đây là bộ đội Việt rồi. Nhưng ta còn phải thử xem cái gan bộ đội có cứng như đá lèn Phu Năng Non không? Bị chĩa nỏ vào người, là lính Vàng Pao hay Bun Mi, nếu chúng không bắn trả thì cũng đã chạy như con chồn, con cáo gặp thợ săn rồi!

Chúng tôi cùng cười vui. Mặt trời đã trèo qua đỉnh Phu Năng Non. Tần ngần hồi lâu, tôi thưa:

- Phò noọng ơi, sao Phò noọng không đi cùng dân bản mà ở lại đây cho cực?

Phò nhìn xa xăm. Cái nhìn vời vợi, đau đáu ở đôi mắt ông sâu thẳm, mênh mông hơn khoảng trời xanh trên đỉnh Phu Năng Non. Giọng ông nhức buốt:

- Chuyện của ta buồn lắm, dài lắm. Buồn và dài hơn hạt mưa rơi mùa mưa. Cách đây hai năm, lũ Vàng Pao tràn đến vùng này bắt dân bỏ bản, bỏ nhà vào sống tận Mường Nham rồi chúng đổ quân đóng đồn trên Phu Xủng. Nhiều nhà không chịu đi, trong đó có nhà ta. Một buổi sáng,  chúng cho hai chiếc máy bay đến quần đảo, ném bom vào bản. Lúc ấy ta và Bun Mi đang trên đường đi săn trở về. Khi ta về đến bản, hai chiếc máy bay đã ném bom xong, bay đi rồi. Ta và Bun Mi cuống cuồng chạy đến đống xác người nằm ngổn ngang vừa khóc, vừa tìm Bua Thao. Bua Thao là mẹ Bun Mi đó. Thấy Bua Thao còn thoi thóp thở, ta vội xé áo băng bó cho bà. Trong ánh mặt trời bữa đó cứ đỏ bầm như màu máu, ta cõng bà chạy vào rừng. Dọc đường bà chợt tỉnh lại. Ta ngồi xuống, đỡ bà trên tay. Bua Thao chỉ còn nói được phều phào:

- Tôi về với Phật đây. Hai cha con trốn đi…trốn vô rừng tìm bộ đội về…trả thù…

Nói rồi bà tắt thở. Bun Mi vật vã khóc khản cả tiếng. Còn ta, ta hết nhìn bà lại nhìn vào ngọn lửa đang cháy rừng rực trong bản mà tưởng như lửa ấy đang cháy trong ngực làm cổ họng ta khô rát.

Phò ngừng kể. Đôi vai Phò rưng rung, bộ râu dúm dó lại. Bun Mi gục đầu vào vai Phò, đôi mắt nhoè ướt. Phò vuốt vuốt mái tóc Bun Mi, giọng Phò nghe rờn rợn:

- Thằng giặc còn ác hơn cả con thú dữ trong rừng. Ta là thợ săn mà không thể giết hết được chúng nó. Ta cõng Bua Thao về đây chôn cất để cho Bun Mi được gần mẹ. Bun Mi buồn lắm, suốt tháng trời nó cứ quanh quẩn bên mộ mẹ. Nhiều lần cha con ta luồn rừng đi tìm bộ đội, nhưng rừng thì rộng, giặc thì nhiều, biết bộ đội ở đâu? Hai năm ở đây, mỗi khi đi đâu ta và Bun Mi đều mặc áo quần rách rưới, bôi mặt làm cho ai gặp cũng tưởng là Người Rừng để họ tránh đi. Ta chờ…vì biết có ngày bộ đội các con sẽ về…!

Tôi nôn nao nhìn Phò và Bun Mi mà sống mũi cay xè. Biết rằng đã đến lúc có thể nói thật nhiệm vụ của mình, tôi ôm lấy vai Phò:

- Phò noọng ơi, chúng con về là để tìm đường đánh thằng giặc ở Phu Xủng, trả thù cho Phò noọng và dân bản đây mà.

Phò nhìn chúng tôi lắc đầu như nghe chưa rõ, hỏi lại:

- Các con về đây tìm đường đánh giặc ở Phu Xủng?

Thấy tôi “dạ”, Phò gật gật đầu:

- Vậy là ta đoán không nhầm. Mấy ngày nay dù tìm không thấy, nhưng ta thấy  các con cứ quanh quẩn dưới chân Phu Năng Non thì chắc là đang đường qua lèn.

Rồi Phò đứng dậy, kéo chúng tôi vào vách đá bịt kín trong lòng hang. Chúng tôi đang ngơ ngác, Phò đã chỉ tay vào vách đá:

- Các con vần tảng đá này ra đi. Đường đến đồn Phu Xủng đó!

Tôi nhìn kỹ vẫn chỉ thấy một vách đá xù xì ám khói. Nhưng khi sờ tay vào, tôi mới biết đó là những viên đá được ghép rất công phu, chồng khít lên nhau. Ba chúng tôi hì hục vần ra một tảng đá nặng trịch. Một lòng hang tối om, sâu hun hút hiện ra. Phò Khăm chậm rãi nói:

- Ta vốn là một thợ săn giỏi nhất Mường này. đến con hổ, con báo cũng sợ vía ta. Không có đường nào đi qua chín núi, mười Mường quanh đây mà ta không biết. Đi qua Phu Năng Non đến Phu Xủng, có nhiều đường, bộ đội các con giỏi thế, tìm lâu rồi cũng thấy. Nhưng chỉ qua hang đá này là con đường tốt nhất, gần nhất, bí mật nhất. Ta đoán nếu bộ đội về đánh Phu Xủng ắt sẽ tìm đường qua Phu Năng Non. Vì thế, suốt hai năm qua ta và Bun Mi ở lại trong rừng sâu như Người Rừng là cốt chờ để chỉ đường cho bộ đội. Không ai ngoài ta và Bun Mi biết con đường này đâu!

Tôi mừng quá, giục anh em ăn vội lương khô rồi xin phép Phò cho vào hang. Phò nói:

- Hang này lắm lối, nhiều ngách như cây rừng. Muốn qua được hang lại phải biết bơi giỏi như “tu nạk” (rái cá). Để ta cho Bun Mi dẫn các con đi. Ta ở lại kiếm con nai, con hoẵng tối về uống rượu.

Tôi hơi băn khoăn chẳng hiểu sao đi trong hang lại phải biết bơi, nhưng không tiện hỏi. Để Hoà ở lại cảnh giới cửa hang, tôi và Lương theo Bun Mi vào hang. Lòng hang tối mờ mờ, lạnh chờn chợn. Có quãng đá sà xuống thấp lè tè, phải cúi gập người mới qua được. Những con chuột lèn to đùng chạy nháo nhác đâm cả vào chân chúng tôi. Những đàn dơi treo lủng lẳng trên trần hang, động người rơi xuống kêu chí choé, vỗ cánh bay táo tác. Cánh dơi đập vào người, vào mặt hôi sì. Đôi lúc một con rắn loang lổ trườn qua chân nhầy nhợt. Trong các ngách hang đen kịt, những đôi mắt chim Pu-rốc bắt ánh đèn pin lúc xanh lè, lúc đỏ lòm ma quái. Tiếng kêu “ Pu rốc, pu rốc” não nuột vọng ra, đập vào vách đá vỡ vụn, rồi lại vọng đến ong ong, u u…chờn chợn. Bun Mi đi sau, cứ níu lấy tay tôi run lẩy bẩy. Bấm đồng hồ, đã đi được một giờ, bỗng lòng hang phìng rộng rồi đi chúi xuống. Bun Mi dịu dàng dặn:

- Lòng hang rêu trơn lắm đó. Các ải (anh) bám chắc vào đá mà đi kẻo ngã.

Chúng tôi làm theo, vậy mà có lúc cũng trượt tuồn tuột. Bắt đầu đến đoạn lòng hang đỡ dốc, tôi bỗng khựng lại. Dưới ánh đèn pin chập chờn khi mờ, khi tỏ, hiện ra một dòng nước trong leo lẻo, đen rợn như không có đáy. Tôi giật mình, gọi toáng lên:

- Bun Mi ơi, hang cụt mất rồi!

Bun Mi cười khẽ trong bóng tối. Giọng cô thoảng như hơi thở:

- Đó là dòng nước ngầm chày vào từ sông Nậm Mộ đó. Nhiều người, cả nọong (em) nữa vào đến đây đều tưởng là hang cụt. Chỉ có Phò là biết thôi. Hai ải bơi có giỏi không? Giờ ta phải lặn qua dòng nước này. Nó dài lắm. Phải lặn hai hơi mới qua được! 

Rồi Bun Mi ngượng ngiụ:

- Các ải phải cầm chặt lấy tay nhau kẻo lạc.- Tiếng cô sát ngay bên tai tôi toả ra hơi thở thơm nồng - Còn ải cầm lấy tay nọong. Nọng lặn trước dẫn đường. Chú ý đá trần hang đoạn nước ngầm này sắc lắm, cứ ngoi bừa lên nó chọc vỡ đầu đó. Chỉ một chỗ giữa dòng là ngoi lên thở được thôi, nọong sẽ ra tín hiệu cho các ải.

Chúng tôi lấy hơi, lặn theo Bun Mi. Vướng khẩu AK trên lưng, tôi bơi ngầm dưới nước thật khó khăn. Bun Mi bơi sát ngay bên cạnh. Người cô mát rượi sát với  người tôi. Cái cảm giác lạ lẫm ấy làm tôi vừa thấy thinh thích, vừa luống cuống,  định ngoi lên mấy lần nhưng nhớ lời Bun Mi dặn lại mgụp xuống. Đến khi tưởng chừng như ngạt thở đến nơi thì thật may, đúng lúc ấy Bun Mi kéo tay tôi ngoi lên mặt nước.

Tôi vừa vuốt nước trên mặt, vừa thở dồn dập. Lương vốn là dân biển nên đoạn nước ngầm này chẳng bõ bèn gì. Vòm hang chỗ chúng tôi ngoi lên cao hơn mặt nước chừng nửa mét, như một cái vung chụp xuống, chật chội. Tiếng Bun Mi khúc khích cười thật gần sát mặt tôi:

- Các ải “thả hán” Việt ơi, thở vừa thôi, không hết mất không khí trong “vung” là “tái lẹo” (chết) đó!

Chúng tôi vừa đạp chân, vừa đập tay bơi đứng. Tối quá! Gần quá! Hơi thở chúng tôi phả vào mặt nhau, thơm thơm, hôi hổi nóng. Có lúc tay tôi quờ vào người Bun Mi, làm tôi đỏ chín mặt. May mà trời tối không ai nhìn thấy. Tôi lập cập gọi:

- Bun Mi ơi, chúng ta lặn tiếp đi thôi!

Chúng tôi nối nhau lặn qua đoạn hang ngầm. Vừa lên khỏi mặt nước, lòng hang lại hiện ra dốc thoai thoải, dài như đường lên trời. Xốc lại súng, tôi vẫy hai người tiến bước. Những gờ đá khấp khểnh của nền hang làm cho chúng tôi bước chập choạng. Càng leo lên cao, lòng hang càng sáng dần. Cửa hang bên này cũng được lấp kín. Tôi và Lương ì ạch gỡ từng viên đá. Lương nói đầy suy nghĩ:

- Thế mới biết Phò và Bun Mi vất vả đến đâu khi lấp hai cửa hang này!

Gỡ xong viên đá thứ năm, một luồng sáng từ bên ngoài oà vào lỗ hổng làm sáng bừng cả lòng hang. Quên cả Bun Mi bên cạnh, tôi và Lương dán mắt qua lỗ hổng đó.

Trời đất! Tôi không còn tin vào mắt mình nữa. Trong nắng chiều vàng úa, đang lụi dần, căn cứ Phu Xủng hiện ra lồ lộ, rất gần, gần như có thể đưa tay ra là với được cột ăng ten giữa cứ điểm. Bọn địch lố nhố đi lại, tiếng chửi thề, tiếng cười nói, văng tục của chúng ầm ĩ đến nỗi ở đây chúng tôi cũng nghe rõ mồn một. 

Đêm đó, không khó khăn lắm, tôi và Lương lọt vào cứ điểm. Toàn bộ hệ thống phòng thủ, sở chỉ huy, khu thông tin, nhà lính, lô cốt…quy luật tuần tra, canh gác của địch nằm gọn trong sơ đồ trinh sát của chúng tôi.

Năm ngày sau, đại đội đặc công chúng tôi san phẳng cứ điểm Phu Xủng trong chưa đầy sáu phút tấn công. Bàn giao cứ điểm ngổn ngang xác giặc cho bộ binh, ba chúng tôi xin phép đại đội trưởng chạy đến hang đá tìm Phò Khăm và Bun Mi. Phò và Bun Mi cũng đang chuẩn bị để trở lại làng cũ. Ông ôm chầm lấy chúng tôi giàn dụa nước mắt.

Lúc chuẩn bị ra về, Hoà và Lương ý tứ đi trước, để tôi ở lại. Trong ánh pháo sáng chập chờn của “thằng” C130 đang dăng trên cứ điểm tan hoang, tôi cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn, mềm mại của Bun Mi. Ngước đôi mắt đăm đắm nhìn tôi, em nghẹn ngào:

- “Thả hán” Việt ơi! Giờ ải như con suối chảy về sông. Ải còn nhớ Phò, nhớ nọong Bun Mi nữa không?

Tôi nhẹ nhàng đặt hai tay lên đôi vai tròn đang run lên của Bun Mi, nói với em mà như nói với chính mình:

- Khi mô nước Lào hết giặc, anh sẽ về tìm em, Bun Mi à!

Bun Mi nức nở gục đầu vào vai tôi. Tiếng em vời vợi:

- Thật không ải ơi? Lời nói đừng tuột đi như nước chảy qua tàu lá, ải nhé!

Tôi ôm ghì Bun Mi vào lòng rồi thảng thốt buông em ra chạy vụt về phía Hoà và Lương đang đợi. Chạy được một quãng, tôi quay người lại. In đận trên nền trời Phu Năng Non lúc này đã tắt hết pháo sáng, đang lấp lánh đầy sao, Phò và Bun Mi vẫn đứng đó nhìn theo chúng tôi như hai pho tượng tạc bằng đá…

                                                        *

Năm 1976, tiểu đoàn 42 của Tỉnh đội Nghệ Tĩnh sang chiến trường Nam Xiêng Khoảng để đưa hài cốt các liệt sĩ về Tổ quốc. Tôi xin phép Toà soạn được đi cùng với họ để đưa thi hài Hoà và Lương cùng về và tìm Phò Khăm, Bun Mi. Khi đến Phu Xủng, dân bản nói với tôi Phò Khăm đã mất, Bun Mi sau đó vào Quân Giải phóng nhân dân Lào, không biết nay đang sống nơi nào? Tôi kính cẩn đến thắp nén hương lên mộ Phò Khăm. Hun hút trước mắt tôi là thăm thẳm lòng hang và dáng lầm lũi của Phò đang vác từng viên đá…

Những năm sau đó, đời người phóng viên quân đội đưa tôi đến nhiều nơi trên đất nước Lào. Dưới những cơn mưa mùa mưa dằng dặc, trong cái nắng mùa khô đỏ trời, đến đâu tôi cũng cất công đi tìm Bun Mi. Nhiều lần, tôi đã sững người khi gặp những cô gái Lào hao hao giống em. Tôi vội vã chạy theo gọi tên Bun Mi rồi lại bàng hoàng xin lỗi. Bun Mi ơi! Phò và em suốt hai năm trời ròng rã làm Người Rừng để đợi các anh, giữ con đường cho các anh đánh giặc. Dù bao lâu nữa, mãi mãi trái tim người lính sẽ chỉ cho anh con đường đi tìm em!

Bây giờ em ở đâu, Bun Mi ơi, “ Người Rừng” của lòng tôi?  

N.X.D

. . . . .
Loading the player...