01-02-2016 - 13:19

Chùm tản văn "Ký ức đồng quê"

Tạp chí Hồng Lĩnh số tết Bính Thân (113+114) giới thiệu đến bạn đọc chùm tản văn "Ký ức đồng quê" của tác giả Nguyễn Quốc Huy.

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ

 

Tự nhiên những ngày tháng 10 (Âm lịch) tôi lại hãy nghĩ về thôn quê, về cánh đồng, về vụ gặt. “Bao giờ cho đến tháng mười” với bao phấp phỏng ngóng chờ, nhuốm bao nỗi niềm thân phận. Đó là lúc tiết trời hơi se se lạnh, đông thì chưa tới, thu lại chưa qua. Thi thoảng có lúc phía bắc tràn về những cơn gió lạnh. Và bếp củi bập bùng thôn dã đã được nhóm lên. Những gộc tre đánh nỏ phơi khô cháy đượm. Cây tre làng dẻo dai, vít võng “có manh áo cộc tre nhường cho con” (Nguyễn Duy). Mẹ tôi vẫn có thói quen vo gạo bằng cái rá đan bằng tre, dần sàng, thúng mủng bằng tre. Mặc dù bây giờ đồ nhựa nhiều, lắm sắc màu lại rẻ. Nhưng mẹ bảo: Hạt gạo vo bằng rá tre ăn thơm hơn, bùi hơn vì có cả vị tre, vị quê thấm vào. Rồi mẹ lại bảo: Đồ nhựa là đồ tái sinh, nhuộm phẩm hóa học đó con ạ. Tái sinh thì làm gì mà sạch được. Gần đây quê tôi cái chữ “sạch” được trân trọng nâng niu. Rau sạch cho bữa cơm sau vụ gặt khi những giọt mồ hôi sạch giọt giọt xuống dòng sông, bến quê gội đi những lấm láp ngày thường. Rồi giếng làng sạch trong veo nhìn thấy đáy, vách giếng là những tảng đá ong mòn rêu - thứ rêu hút ẩm, hút cặn, gạn đục khơi trong trả lại nguồn mạch ngọt lịm.

Thương nhớ đồng quê - tôi nhớ về cái chợ quê họp ở cuối làng. Ở đó bán tất cả những sản vật do dân làng làm ra còn tươi roi rói. Mớ tép còn liu riu nhảy, quả bầu mới cắt xuống từ giàn còn căng ứa nhựa. Gạo thơm mới giả xong chảy rì rào giữa ngón tay người vốc lên, thả ra mịn màng tăm tắp. Hoa quả chín nức vườn, vỏ xù xì thô rám nhưng lại chín ủ, chín rấm bởi tình người, bởi thời gian bởi mạch sống của đất đai đầu rễ. Chầm chậm chín để thoang thoảng hương và đầm đậm ngọt. Ngọt đầu lưỡi và ngọt thấm cả tấm lòng thơm thảo thuận với lẽ tự nhiên chứ không phải kiểu chín tức thời, tức tưởi bắt mắt của hóa chất của sự thúc đẩy thực dựng. Chợ quê bán một chào mười. Ăn một miếng trầu đầm đậm chút vôi xua đi cái lạnh giá để rì rầm bao chuyện làng thôn trên, xóm dưới. Âu, cũng là nhu cầu giao tiếp để được đong đầy chia sẻ hơn là mặc cả bán mua. Muốn biết văn hóa làng ra chợ sẽ thấy: đặc sản ẩm thực của vùng quê cũng đơn giản, không cầu kỳ chứa bao nỗi phập phồng như bánh đa quê nhân vừng phải được nướng bằng củi than mới lách tách nổ, mới có vị bùi của “hạt gạo làng ta” Cũng gạo thôi mà làm ra bao thứ quà, thứ bánh. Nhưng tất cả rồi cũng quay về hơi ấm của lửa. Có lửa mới chín, có lửa mới nồng nàn và lan tỏa. Không hiểu sao lũ trẻ con làng quê rất thích vị nướng. Nướng trên đồng, khói thổi phù phù xúm xuýt quanh nhau. Nướng bằng lửa rơm, những sợi rơm đã tuốt đi bao hạt vàng hạt ngọc, giờ cho đám trẻ hơi lửa để làm chín con cá quả cắm một đầu vào cành tre tươi, thân cá nứt ra, thịt cá trắng bóc và thơm ngậy - thơm cả làn gió đồng để khi đánh trâu về tóc đứa nào cũng tỏa sệt mùi cá, mùi khói rơm rạ để tối lại ủ vào chăn lại mơ giấc mơ đồng ruộng.

Thương nhớ đồng quê - gặt xong mẹ lại thong thả lên chùa, lại áo nâu sồng tay lần tràng hạt. Mẹ   thả hồn phiêu diêu với tiếng mõ tụng kinh với khói hương trầm thơm thoảng, với hoa huệ trắng thơm lặng. Chùa làng là nơi cất giữ và siêu thoát cõi tâm linh, cõi người như thế cân bằng lại những ồn ào vội vã của cuộc sống thường nhật ngoài kia. Nhưng lạ thay lại có một ngoài kia nữa mở ra cánh đồng, con sông, bến ước... thì ra thiên nhiên chính là người mẹ vĩ đại  kiến tạo lên tất cả. Thương nhớ đồng quê - Tôi tìm lại chính mình... 
 

NGÀY ĐÔNG ẤM ÁP
 

Thời tiết bốn mùa thay đổi trong năm có những nồng độ cảm xúc khác nhau. Từ sang xuân, vào hạ đến cuối thu và chớm đông. Những khoảng khắc giao mùa tạo ra độ chênh chao với bao cung bậc, bao ấn tượng về sắc màu hoa lá, cỏ cây. Sự vận hành vũ trụ thẩm thấu vào cả thời vụ gieo trồng. Trong sự giao thoa ấy con người với thiên nhiên có tiếng nói hòa đồng với một linh cảm chia sẻ thấm đẫm như là một tiềm năng của tạo hóa.

Sang xuân tràn trề nhựa sống, hứa hẹn một sự khởi đầu. Vào hạ với tất cả nồng nàn căng nở râm ran từng mạch đất cuối rễ, đầu cành. Bao nhiêu màu hoa đỏ như chỉ chờ nồng nhiệt của khí trời sắc nắng là bùng nở như muốn thể hiện sức sống trỗi dậy. Cành hoa phượng đỏ - đỏ như nhiệt nắng của lứa tuổi học trò. Và khi đã cuối thu tất cả hình như ngưng lại với những chuyến đò chậm lặng lẽ qua sông chiêm nghiệm với bao hồi ức tĩnh tại vừa đi qua ồn ào náo nhiệt để thu hết mọi ưu tư vào một sắc cúc vàng. Và chớm đông khi cái rét ngọt đã thấm về thì bếp lửa bập bùng vun lên trong ta bao ký ức... 

Không biết ai đặt tên cho cái rét đầu đông là rét ngọt. Có chút xuýt xoa khi ngậm cái tái tê của kẹo gió. Có chút thu mình để trỗi dậy bùng nổ bao sắc màu quần áo của nhân tạo khi thiên nhiên lặng lẽ nhường ngôi rụng lá, tái hoa. Nhưng đằng sau thớ gỗ xù xì mạch nhựa mạch sống vẫn âm thầm đọng chảy thành những hổ phách thời gian cất giữ chút dùng dằng của thu mới qua và xuân chưa tới. Nhịp cầu vồng mùa đông bắc giữa cũ và mới, rụng và mọc của chuyển động tự nhiên, của vận động con người từ gốc đến ngọn. Bếp lửa ngày đông chính là điểm nhấn hội tụ vừa bập bùng ảo ảnh cũng chính là nơi vun lên những nhỏ nhoi niềm vui tí tách len lỏi vào tâm tư, lan tỏa vào mạch giao cảm khi đốt những lụi tàn, nhen nhóm những tro than, thổi bùng lên hy vọng. Bếp lửa là nơi ta trở về với tuổi ấu thơ mà “chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu - đến bây giờ sống mũi vẫn còn cay” (Bằng Việt).

Không hiểu sao tôi vẫn thích “Bếp lửa ngày đông” hơn là “Bếp lửa mùa đông” những khoảnh khắc bất chợt với những ngấn thời gian chia nhỏ như lóng mía, đốt cau cứ từng nấc một để vươn cao và bùi ngọt. Vị ngọt của hương đất, hương đời, trong ngọt có cả bùi, và ấm. Có cả chút đắng đót để miếng trầu thêm đậm cho sắc da thêm đỏ, cái kẹo mía thêm giòn, những sợi mật thêm dai. Một sự dẻo dai quyến luyến hòa nhau đánh thức mọi khứu giác chứ không phải bọt bèo hòa tan, nông nổi nhạt nhẽo. Bếp lửa ngày đông có gì lạ đâu mà sao cứ rưng rưng lạ lùng, cứ làm nhẹ nhõm cả người như nâng bỗng ta lên mà không hời hợt bãng lãng cứ bập bùng quấn quýt thật độ lượng và tin cậy biết bao. Khác với ánh lửa gas xanh lè hay ngọn lửa hồ quang nhức mắt của hơi thở công nghiệp lạnh lùng có chút gì đó vô cảm. Hơi lửa có sóng điện riêng, có tần số riêng bằng sự đồng điệu của những nhịp đập trái tim đỏ thắm sắc hồng cầu tình cảm. Có hai câu thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh thật ám ảnh day dứt trong tôi: “Còn một chút hoa dong riềng cuối dậu – có một ngày sương muối đến mang đi”. Màu hoa dong riềng như một ánh lửa thiên nhiên lẻ loi thắp lên từ đất, tự dâng hiến mình để củ khoai bụ bẫm hơn, thơm bùi hơn giấu sau màu đất giá lạnh sương muối của mùa đông khắc nghiệt. Mới biết sức sống của thiên nhiên lớn lao hết mình thì sao ta lại không truyền giữ và khơi bùng bếp lửa như một hồi âm đồng vọng giữa héo khô và tươi cháy, giữa mộc đến hỏa đúc cho người một khối kim trong veo không đọng cặn cát bụi đời thường. Mà kết tụ thành “Bông hồng vàng” như tên một thiên truyện nổi tiếng của nhà văn Nga Pau tốp xít ki, những cám vàng li ti, in hình vảy lửa của thổn thức tình người. 

Trong những ngày giá lạnh đầu đông này ta lại bùi ngùi khi thấy những người bán hàng rong nhen bếp lửa bên hè phố để tiếng rao không khản giọng. Rồi bếp lửa vùng cao các em học sinh đến lớp hơ những con chữ mỏng mảnh xiêu vẹo trên chính hơi ấm của rừng. Và ngoài đảo khơi xa các chiến sĩ hải quân tựa lưng tìm hơi ấm vào nhau trong nhà giàn heo hút gió thèm nghe tiếng lửa ấp úng cơm sôi với bóng dáng mẹ già. Bếp lửa ngày đông - bếp lửa mùa đông đang nhóm trong ta bao niềm tin cuộc sống. Đừng để ngày xưa ấy lụi tàn - ai đã từng nói thế! Trong ánh sáng quang phổ mặt trời ta thấy cả diệp lục màu xanh. Trong ánh sáng điện gần như không trọng lượng  ta thấy cả quang hợp màu sáng và trong ánh sáng của bếp lửa thắp lên cái ngọn ta thấy cả màu ấm tình người... 


NGÔI NHÀ CÓ NGỌN LỬA ẤM

 

Khi đi xa nhớ về mẹ tôi lại nhớ đến ngôi nhà của mẹ: “Che suốt đời người vẫn một mái nhà tranh - Mái tranh bạc che mái đầu tóc bạc”. Bây giờ thì ngôi nhà của mẹ đã lợp ngói đỏ, tường xây nhưng trong ký ức của tôi vẫn nhớ về mái nhà tranh năm xưa. Nơi đó có chái bếp, có ngọn lửa trấu ủ hơi ấm ổ rơm. Có cái vại đựng cà, có lọ tương kho cá. Ngôi nhà ấm nồng một hương vị rất riêng có cả vị đồng, vị ruộng. Có cả vị ấm của trầu cay. Và những ngày trở trời trái gió siêu nước thuốc bắc của mẹ lại ấp úng sôi, tỏa ra hương vị cỏ cây của lá bạc hà, rau kinh giới, của vị sả nồng xua đi cơn cảm sốt mà trong vườn nhà bao giờ mẹ cũng dành một khoảnh đất nhỏ để trồng, để chăm bón. Cái nón cũ càng của mẹ khi không đội được nữa cũng được đậy lên cái chum đựng thóc. Với mẹ, tất cả đồ đạc đều có linh hồn và không bao giờ cũ. Không bao giờ cũ cả tiếng gà gáy sớm. Không bao giờ cũ gàu nước giếng mát lạnh sóng sánh nắng trưa. Không cũ bao giờ tiếng chim chào mào lích chích buổi sáng mổ vào hương ổi như báo hiệu mùa thu đã về. Thu của mẹ ngổn ngang mây bạc. Hơi thu mỏng mảnh vô chừng. Và đêm thu thật dài tiếng ho của mẹ chừng cũng như ngắn hơn và túi trầu lại càng thêm nặng.

Dân gian có câu: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ âm”. Ngôi nhà tuổi thơ của tôi là do tay cha tôi dựng nên từ những cây xoan trồng trong vườn. Rồi được ngâm kỹ càng dưới lớp bùn ao trước khi được vớt lên để bào, để đục, dựng nên cái kèo, cái cột khít mọng vào nhau. Nhưng khi nhớ về ngôi nhà ấy, tôi lại cứ hình dung ra mẹ không chỉ những giăng mắc cột nhà vững chải mà từ mái rạ chuốt từng sợi rơm vàng mùa gặt, chuốt cả bao sương gió đời người. Mái rạ thật mềm mại, đầy đặn và ấm áp. Nhưng cũng thật dễ vẹt mòn, rụng rơi, bào mỏng bởi đôi cánh ấp iu của hai mái nhà đó luôn phải chịu đựng những tàn phá của nắng mưa, bão gió. Một sự cam chịu đến bền lòng, bền bỉ âm thầm không hề tiếc nuối. Nhớ về ngôi nhà của mẹ, tôi lại bần thần trước bậc cửa   – Bậc cửa thấp và đã vẹt mòn. Bao lần mẹ ngồi đó trông ra. Những việc lớn, việc nhỏ cũng bắt đầu từ tay mẹ xoay xở, tảo tần, thu xếp, đều từ cái bậc cửa đầu đời của tôi ở đấy. Cái giới hạn từ nhà ra cửa thật giản đơn mà neo giữ cho tôi qua bao sóng gió cuộc đời. Nhớ về ngôi nhà của mẹ tôi lại càng thổn thức nghe được cả tiếng giần sàng. Hạt thóc lép bay đi, hạt gạo tròn níu lại. Bao nhiêu là vòng tròn sàng sảy từ đôi tay gầy nhăn nheo của mẹ. Những vòng sóng hướng tâm đó bao giờ cũng để quy tụ lại những thơm thảo, trắng ngần, những chắt chiu, dành dụm. Vòng tròn giần sàng mùa màng ấy như thắt vào lưng mẹ cái hầu bao vô hình để nuôi bao lớp con lớn lên. Rồi bế bồng cháu, vẫn câu hát “à ơi…” không cũ ru trong lưng lửng chiều …

Mẹ tôi thường đi chân đất. Mẹ thường ướm bàn chân nứt nẻ như ruộng đồng hạn hán lên nền nhà đất bùn mát lạnh. Nền bùn vớt lên từ ao nhà. Hồn đất mộc mạc quấn quýt cả một đời người. Mẹ bấm chân xuống đất như bấm vào huyết mạch của hồn vía quê làng. Cái đòn gách của mẹ gánh bao chuyện làng, chuyện nước mà vẫn cứ uốn nhịp dẻo dai khi nặng khi nhẹ, khi đầy khi vơi nhưng không bao giờ tuột khỏi vai người. Mẹ giữ lấy cái thế cân bằng chung chiêng ấy để làm của tin, để cho và nhận, để vay và trả. Cho ân nghĩa đầy hơn để không có chỗ cho thù hận len vào. Ngôi nhà của mẹ dù xây to hay dựng nhỏ bao giờ cũng có một cánh võng đung đưa. Mẹ ru bé ngủ, bé ngủ thiu thiu. Mẹ cũng thiu thiu giấc nồng mà sao cánh tay vẫn đung đưa đều đặn không lỡ nhịp như một phản xạ tự nhiên có từ trong tâm thức. Cuộc đời mẹ là một sự đung đưa dẻo dai như thế để định vị lại chắc chắn, bền vững của mái ấm ngôi nhà. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã có tứ thơ rất hay “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”. Mẹ ơi! Mẹ chính là ngọn lửa ấm không bao giờ tắt, là hạt nhân của mỗi ngôi nhà…

. . . . .
Loading the player...