Tạp chí Hồng Lĩnh số 120 giới thiệu bạn đọc tác phẩm Điềm Phùng Thị người con gái sông La của họa sỹ Lê Anh Ngọc.

Người ta biết đến Điềm Phùng Thị về điêu khắc nhiều hơn là về hội họa. Nhận định trên không phải là không có cơ sở bởi những tác phẩm hội họa của bà đều thiên về điêu khắc. Điêu khắc là hình và khối, còn hội họa là mỗi tổng hòa: hình khối - màu sắc. Hội họa mang ánh sáng tự thân còn điêu khắc thì ánh sáng phải phụ thuộc hoàn cảnh cụ thể. Hội họa của bà Điềm thiên về hình khối, màu chỉ là trang trí, dù ở mức độ nào cũng chỉ để phục vụ hình khối mà thôi. Tuổi thọ nghệ thuật của Điềm Phùng Thị là ở điêu khắc.
Nhà điêu khắc tài danh Điềm Phùng Thị (1920- 2002) quê quán xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Bà là con gái ông Phùng Duy Cẩn, một quan lại triều Nguyễn. Bà sinh ra ở Huế, năm lên 3 tuổi thì mẹ mất, theo cha đi khắp vùng cao nguyên trung phần sau về Huế học tiểu học. Năm 26 tuổi tốt nghiệp trường Y Hà Nội khóa đầu tiên, sau đó sang Pháp học đỗ tiến sỹ nha khoa. Bà có 22 năm làm bác sỹ nha khoa, 33 năm làm điêu khắc. Chồng bà là ông Bửu Điềm người Huế. Tên thật của bà là Phùng Thị Cúc, khi lấy chồng bà dùng họ chồng (Điềm), kết hợp với họ mình (Phùng) để thành tên Điềm Phùng Thị, một “thương hiệu” được kính trọng ở cộng hòa Pháp và Châu Âu. Nghệ thuật điêu khắc của Điềm Phùng Thị là một hiện tượng độc đáo trong giới mỹ thuật thế giới, không rõ bà đã theo những lớp học điêu khắc nào, ở đâu, bao nhiêu thời gian, để rồi khi xem tượng “Chân dung một người bạn” bằng đất nung, sáng tác năm 1960 ta thấy phần hàn lâm trong tượng của bà khá vững chãi. Nhưng đó không phải là thế mạnh của bà. Kiến thức xã hội cộng với tâm hồn Việt mách bảo khiến bà “ngộ ra đạo nghệ thuật” mà mạch nguồn Phương Đông gợi mở. Chúng ta ai đọc sách đều biết: Kinh dịch định nghĩa rằng: “Giản dị là đức của trời và đất”. Điềm Phùng Thị cũng như nhiều nghệ sỹ lớn đều được sinh ra để tạo dựng nên một số thế giới riêng dào dạt chất trẻ thơ, tự nó đã khởi nguồn cho mọi sự khởi nguồn, bởi chính họ đã nhận ra những gì quen thân hàng ngày bỗng bừng lên những ánh sáng lạ thường đầy hấp dẫn và sáng tạo. Xem tượng và tranh của Điềm Phùng Thị, ta thấy bà xây dựng tác phẩm như một thói quen, thói quen của những triết lý nhân bản. Sản phẩm của bà tự nó bật ra tiếng nói sâu thẳm và mạnh mẽ đến kỳ lạ. Giản dị là sức mạnh ngôn ngữ tạo hình của Điềm Phùng Thị đã dẫn dắt nghệ thuật của bà trên những nẻo đường tâm linh của Phương Đông, lấy đức của trời và đất tạo ra được sức chuyển động, không cầu kỳ mà tạo thành vạn vật.
Điềm Phùng Thị sớm tạo được ngôn ngữ nghệ thuật của mình, đây là điều mà ít ai có thể xác định rõ ra được như bà. Những nghệ sỹ lớn trên thế giới phải hình thành phong cách, rồi mãi sau nữa, những nhà phê bình nghệ thuật mới “tác thành” cho họ với sự ảnh hưởng của các tên tuổi lớn... Bà Điềm Phùng Thị có lối biểu cảm nội tâm, mang nhiều hình thức của lối chữ viết tượng hình Phương Đông, bà như một người khai phá xu hướng này bằng ý chí, sáng tạo phi thường, quyết đoán và rất thông minh.
Tác phẩm điêu khắc của Điềm Phùng Thị từ tượng nội thất đến ngoại thất, từ tượng đài đến trang trí luôn luôn được xử lý nghiêm ngặt cả về ngôn ngữ lẫn bố cục, được xem như những kiến trúc không gian đa dạng với một tính thẩm mỹ trong sáng, giàu cá tính và quả cảm.
Với 7 mẫu tự (signes) có kích thước tỷ lệ tương đối cân xứng luôn tương hỗ giữa các khối đá tạo nên một tỷ lệ vàng, tỷ lệ Điềm Phùng Thị, tác phẩm của bà chỉ gợi chứ không tả, vì vậy sức tưởng tượng trong sáng tác tạo nên giá trị nghệ thuật của các tác phẩm. Người xem đồng hóa các đối tượng thẩm mỹ và họ đọc nó bằng mối quan hệ cuộc đời chứ không phải bằng mắt. Bà là người khéo kết hợp những niêm luật truyền thống Phương Đông với những ý niệm thẩm mỹ phương Tây tiên tiến.
Một chuỗi những khám phá liên tiếp đầy bí ẩn, cứ thế các khối hình chuyển hiện tạo nên sức hấp dẫn không cùng, chính vì vậy mà sức tưởng tượng của người xem luôn được vận động và nâng cao.
Người con gái sông La bé nhỏ đã làm nên kỳ tích trong giới nghệ thuật thế giới, chính mạch nguồn Núi Hồng - Sông La đã hun đúc nên một tài danh mẫn tiệp không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Châu Âu và trên thế giới.
33 năm làm điêu khắc, bà để lại 36 tượng đài trên khắp nước Pháp, rất nhiều tượng vườn, tượng nội thất và tranh nghệ thuật. Năm 1991, bà được giới thiệu trong từ điển Larousse “Nghệ thuật thế kỷ 20” về hội họa điêu khắc. Năm 1992, bà được mời làm Viện sỹ thông tấn hàn lâm khoa học Châu Âu về văn chương và nghệ thuật, năm 1994 khánh thành nhà bảo tàng nghệ thuật tại Huế: Pondation Điềm Phùng Thị.
Trong cuộc đời làm nghệ thuật bà tự giới thiệu:
“Khi sáng tác, tôi đã hạnh phúc, đã đau khổ. Tác phẩm điêu khắc đó bây giờ không còn thuộc tôi nữa, tôi trao lại cho các bạn, hoặc đúng hơn nói theo cách của Bissiere, tôi trao tôi cho các bạn”.
L.A.N