Tạp chí Hồng Lĩnh số 120 giới thiệu bạn đọc tác phẩm "Gặp lại cô gái Thạch Kim - Thạch Nhọn" của tác giả Nguyễn Hà Huy.
Tháng 7 này tôi gặp lại O (Cô) Nhị - Nguyên mẫu của bài thơ “Gửi em cô thanh niên xung phong” của nhà thơ Phạm Tiến Duật trong đó có câu thơ: “Em ở Thạch Kim sao lừa anh là Thạch Nhọn”. Tuy là người cùng quê nhưng tôi ít khi gặp O Nhị. Nhớ một lần vào năm 2000 O có nhờ tôi liên hệ gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật qua điện thoại. Ngày đó điện thoại di động còn hiếm. Nhà tôi có lắp chiếc điện thoại bàn. Tôi gọi cho nhà thơ Phạm Tiến Duật, hồi ấy ông là phó ban đối ngoại của nhà văn Việt nam. Anh Duật hẹn sáng mai 9 giờ anh sẽ đến hội nhà văn và tôi sẽ điện ra cho anh để nói chuyện với o Nhị theo số máy bàn của ban đối ngoại. Khi nghe tôi nói cuộc hẹn o Nhị mừng lắm. Mới 8 giờ sáng O đã đi bộ vào nhà tôi cách khoảng 1 cây số. Trong lúc chờ, O kể cho tôi nghe câu chuyện gặp nhà thơ Phạm Tiết Duật. Đó là năm 1968, O ở đại đội 555 thuộc tổng đội TNXP 55 san đường lấp hố bom tại đường 15A ở Phú Lộc (Can Lộc). Trong tiểu đội O là người cao nhất vốn là vận động viên bóng chuyền của tổng đội đã từng thi đấu ở Quảng bình được giải nhất. O cao 1m67 đã từng vác cả hòm đạn 50 - 70kg để giải phóng hàng cho xe. Tối đó, O mặc chiếc áo phin lơ xanh vì áo quân phục lấm bụi đất đường giặt chưa khô. Tiểu đội O đang san đường thì gặp một đoàn xe tải từ Quảng Bình ra. Vì đường còn vướng hố bom nên nhiều lái phụ phải nhảy xuống để làm cộc tiêu chỉ đường. O kể: “Hồi nớ, bọn tuy có biết ông Duật là ai mô. TNXP với bộ đội lái xe là bạn thân và hay trêu đùa nhau. Thế mà cũng có người thành đôi lứa. Mỗi lần xe qua các anh tài xế rất vui tính hỏi vọng xuống: “Có yêu anh không?”. Bọn O đáp lại ví von: “Bao giờ chạch đẻ ngọn tre - Thì em mới lấy lái xe làm chồng”. Nói là nói thế những ai cũng thương cánh lái xe chạy thâu đêm. Anh nào mắt cũng hõm sâu, râu ria mọc không kịp cạo, nhưng dũng cảm lắm. Xe cứ đi lầm lụi, bò lắc lư như con cua càng mà các anh vẫn quay lại tán tỉnh: “Sao lại chê cánh lái xe này”. Bọn O đáp ngay: “Dại gì mà lấy lái xe - Đi ba cây số còn nghe mùi dầu”. Bữa đó có lẽ O là người cao nổi bật lên hẳn, lại mặc áo màu sáng nên có một anh bộ đội lại gần. Anh ấy dáng dong dỏng cao đặc biệt có cái mũi tây, nói giọng Bắc, vai đeo cái Rađio cùng cái sắc - cốt bên người như các anh nhà báo. Anh đó hỏi O: “Cô ở đâu”. Vốn tinh nghịch từ nhỏ O đáp ngay: “Em ở Thạch Nhọn anh nờ. Anh bộ đội ngớ ra: “Sao lại có xã Thạch Nhọn”. Lũ bạn O đập vào lưng nhau thùm thục: “Đúng rồi đó em nớ ở Thạch Nhọn, còn bọn tuy ở Thạch Tày”. Anh bộ đội vui lây với không khí thời chiến rất tươi trẻ ấy lại cười : “Có xã Thạch Tày à” Cả bọn lại cười rộ lên: “Là Thạch Bằng cạnh Thạch Kim đó anh à” Cứ tưởng chuyện đó qua đi không ai nhớ thì một hôm ông Nghinh đại đọi trưởng gọi O lên gặp: “O nói chi mà để người ta đọc thơ trên đài nói o lừa Thạch Kim là Thạch Nhọn đó?”. Thôi chết, O giật mình. Tưởng nói đùa ai hay anh bộ đội nhà thơ đó đã viết bài thơ đọc trên đài tiếng nói Việt Nam. Ông Nghinh nhăn mặt: “Này, tôi nói cho O biết. May đó là nhà thơ chứ là cán bộ Trung Ương thì O đi tù rồi đó”. O sợ hết hồn ngồi im thim thít. Lát sau mới rón rén đứng dậy: “Thủ trưởng ơi, em đã trót dại. Thủ trưởng cho em ở lại chăn trâu, chăn bò gì cũng được chứ đừng bắt em về, mẹ em chửi chết”. Không hiểu sao lúc đó O cứ nghĩ đến mẹ thương mẹ vô cùng. Nhà O có 5 chị em thì ba người đã chết đói năm 1945. Rồi bố mất, chị gái lấy chồng, mẹ giữ riệt không cho con đi xa. Khi nghe tin có đoàn về tuyển TNXP O đã trốn đi khám tuổi mặc dù chưa đủ tuổi, nhưng cũng được cái sức vóc O cũng cao to nên họ chấp nhận. Về nhà O dấu mẹ lấy hai bộ quần áo bỏ vào cái túivải và nhập theo đoàn. Nghe tin mẹ chạy lên xin cho O về. Nhưng O cương quyết không về, vì đi thì vui có chị có em. Mà hồi đó vui lắm chú ạ đúng như nhà thơ viết: Ngày em đi phá bom nổ chậm - Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà”. Rồi cái lần khi biết O tình ngyện sang đội công binh rà và đánh dấu bom “Như anh hùng La Thị Tám”, Mẹ O lo quá lên tận đơn vị “khiếu nại”. O an ủi bà: “Mẹ cứ yên tâm, con đi rồi con lại về không chết được mô, bom đạn là cái chi”.

O Nhị ngồi bó rau trước hiên nhà mình - Ảnh: Ngọc Phú
Hôm đó O và nhà thơ Phạm Tiến Duật nói chuyện qua điện thoại khá lâu. Lát sau thấy O ra mắt đỏ hoe, tôi hỏi: Gặp nhà thơ thì vui sao O lại khóc”. O bảo “Anh Duật tình cảm lắm, cứ hỏi mãi về hoàn cảnh của O và những bạn bè TNXP. Anh còn kể mới viết xong trường ca về tiếng chuông chùa, về những nữ TNXP Thái Bình trở về sau chiến tranh vào nhà chùa đi tu. Anh có đọc cho O nghe một doạn, không cầm được nước mắt chú ạ. Mà cũng đúng thôi, thời thanh niên đẹp nhất, nhan sắc nhất thì hiến dâng tuổi xuân cho những tuyến đường. Ngày về tuổi đã khác, đâu còn xuân sắc nữa, với bao chuyện vướng bận. Như O đây đến giờ vẫn đọc thân một mình.
Tháng 7 này tôi ra nhà O bởi nhà báo Bùi Minh Huệ - Phó tổng biên tập báo Hà tĩnh, có nhờ tôi gặp O liên hệ trước để xin gặp viết bài cho số báo thương binh liệt sĩ. Lần đầu O từ chối. O bảo: “Thôi chú ạ, báo chí họ cũng viết nhiều. Rồi cũng từng ấy chuyện cả thôi. Còn có bao người thầm lặng hy sinh mà ít người biết đến. Nhưng còn có một lý do khó nói. Thấy O ngại ngần tôi lại càng tò mò lựa lời: “O cứ nói đi đừng ngại. Em cũng là nhà báo mà - Nhà báo rất tôn trọng sự thật O ạ”. O Nhị rót nước mời tôi: “Chú đã nói thế thì O chẳng dấu chi - Chả là cách đây mươi năm có một nhà báo đến nhà O tìm hiểu câu chuyện gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật rồi chụp ảnh, xong đó lại viết bài đưa ra cái tin giật gân lại có một người Lê Thị Nhị khác ở huyện Hương Sơn mới là nhân vật trong bài thơ. Nghe thế O lặng người bỏ ăn. Mẹ phải khuyên bảo mãi. Tôi bảo: “Em có nghe chuyện đó. Sau đó họ cải chính rồi O ạ” Bất ngờ O hỏi tôi: “Dạo này ít thấy thơ chú”. Tôi giật mình: “Sao O biết O cũng có đọc báo theo dõi à”. O Nhị đứng dậy bước vào buồng trong lấy ra cái đài nhỏ: “Đây, O đêm nào cũng nghe chương trình tiếng thơ. Nghe không mất tiền. Thỉnh thoảng lại được nghe thơ anh Duật cả băng thơ ghi giọng anh ấy đọc nữa, chứ báo chí làm chi có”. Thế rồi cao hứng O còn đọc cho tôi nghe một đoạn thơ viết về mười cô gái Đồng Lộc của một người bạn đồng đội của O là Ông Võ Tá Lý: “Tưởng được sống bên em những giờ sôi nổi - Xe đi Cào Cào lát gầm Cầu Tối - Xe em đi trăng đứng đợi trên đèo - Xe em về trăng cũng lẻn về theo”. Khi nghe tôi nói Bùi Minh Huệ cũng là một người làm thơ và cũng là tác giả có nhiều bài thơ viết về chiến tranh, về TNXP, O vui vẻ nhận lời.
Chúng tôi đến nhà O vào một buổi chiều, vì buổi sáng O phải đẩy xe ra gò cá để bán hàng vặt cho những người đi biển. Xe hàng vặt của O là vài chục bó rau, mươi củ su hào, ít cân cà chua, rồi những bó hành, ngò... O bảo: “Nghề ni và gánh hàng ni là của mẹ tui truyền lại cho”. Ngôi nhà cấp bốn mà O đang ở là của công ty Việt Tiến thông qua báo Người lao động cho 20 triệu đồng xây năm 1997. O vẫn đi chân đất (tôi lại nhớ đến câu thơ của Phạm Tiến Duật: “Cạnh giếng nước có bom từ trường - Em không rửa ngủ ngày chân lấm). O đon đả mời chúng tôi vào nhà thân tình như khách quên đã lâu với dáng nhanh nhẹn của một cầu thủ bóng chuyền ngày nào. Tôi không tin nổi vì trước mắt mình không phải là bà lão đã 70 tuổi - O sinh năm 1946. Vẫn tiếng cười nói rộn rảng, vẫn giọng đùa đùa dí dỏm và trong câu chuyện cao hứng O còn đọc thơ và hát cho chúng tôi nghe những câu hò ứng khẩu, đối đáp với cánh lái xe, bộ đội hồi đó. Tôi chú ý có một đàn gà con lục tục quấn quýt quanh chân. O vãi một nắm thóc và bắt lên từng con cử chỉ thật âu yếm: “Tui sống độc thân nên nuôi đàn gà cho vui, có trứng ăn lại đỡ trống trải. Mà nó tình cảm lắm, đang kiếm ăn dưới bến nghe thấy tiếng xe lộc cộc đẩy về là nó kéo cả đàn chạy về như muốn chào hỏi chủ nhà rồi mới kéo đi xuống bến kiếm ăn. Lại có con gà trống thiến thật khôn, thấy tui kéo xe đi hắn nhảy lên ngồi trước xe và vỗ cánh cất tiếng gáy. Ai cũng gọi đó là gà O Nhị”. Trong khi chúng tôi đang hỏi chuyện O trong ngôi nhà bài trí đơn giản, có treo mấy tấm ảnh và tấm huy chương thời TNXP thì bất ngờ một đàn chim sẻ từ cây dâu trồng trước sân nhà O sà xuống nhặt thóc cùng với bầy gà con trông thật đầm ấm. O Nhị đứng dậy thắp một nén nhang cắm lên bàn thờ cho mẹ. Lại thắp lên nén hương khác nơi có chiếc mũ tai bèo bị mảnh bom xé rách, O bảo: “Mẹ tui thương tui lắm. Rất may là mẹ còn được ở trong căn nhà tình nghĩa này mấy năm trước khi mất”. Còn đây, O chỉ vào bát hương thờ có chiếc mũ tai bèo: “Đây là tui thắp cho bạn bè đồng đội”, rồi O nghẹ ngào: “Chiếc mũ đó là của một người lính công binh phá bom bị tan xác, may còn chiếc mũ rơi ra cách vài chục mét như một di vật của chiến tranh sót lại”. Nhà báo Bùi Minh Huệ hỏi O: “Thế ngày đó O có biết chị Võ Thị Tần ở Ngã ba Đồng Lộc không?”. O nói: “Có chứ. Tui là A trưởng, Tần cũng là A trưởng. Thỉnh thoảng về tổng đội họp bọn tui gặp nhau tuy khác đại đội. Tần ít nói, dáng người nhỏ nhắn ngồi họp thường ngồi sau nhưng khi ra mặt đường thì bao giờ cũng dẫn đầu. A4 của Tần trước lúc hi sinh đã nổi tiếng nhiều thành tích’’.

O Nhị bên giường bệnh Nhà thơ Phạm Tiến Duật - Ảnh: Tư liệu
Câu chuyện của chúng tôi quay về nhà thơ Phạm Tiến Duật, khi đó ông bị ung thư phổi điều trị ở viện quân y 108. Tôi nhớ trước đó ít lâu có lần ra Hà Nội họp, O Nhị đã gửi cho nhà thơ món quà biển là 1kg mực khô loại 1 khá ngon. O dặn: ‘‘Nhờ chú đưa cho anh Duật uống bia để làm thơ. Bia hơi Hà Nội vốn đã ngon mà uống với mực khô Thạch Nhọn thì còn gì bằng’’. Nói rồi O cười: ‘‘Chú Phú này, mực to loại 1 ta gọi là mực kim’’. Lúc gặp nhà thơ ở cổng hội nhà văn, khi nghe tôi nói O Nhị gửi mực Kim, anh Duật cười phá lên: ‘‘ Lại kim, lại nhọn nữa rồi. Kim mà to thế này à’’. Và sau đó ít lâu căn bệnh quái ác quật ngã nhà thơ của Trường Sơn một thời, của tiểu đội xe không kính ngang tàng: ‘‘Chỉ cần trong xe có một trái tim’’. Trái tim đa cảm, đa tình, đa sầu ấy giờ đập thoi thóp giữa chằng chịt những ống dẫn, những ống truyền, những mũi kim vào ven mạch nổi gân xanh xao của mình. Nhà thơ vốn rất hoạt ngôn giờ nói năng khó nhọc, ngắt quãng. O Nhị được bạn bè nhà thơ và người thân của ông đón ra Hà nội 5 ngày thăm nhà thơ. Cùng đi có cậu con trai đầu của người chị cả. Khi bước lại gần giường bệnh, anh Duật không còn nói được nữa, nhưng vẫn mở mắt đưa bàn tay gầy guộc ra bắt. O Nhị ghé vào tai anh thì thầm: ‘‘Anh Duật ơi! em là Nhị TNXP ở Thạch Kim, Thạch Nhọn đây’’. Ông cố mở mắt một lần nữa rồi mệt mỏi nhắm lại. Giọt nước mắt nóng hổi của O rơi uống gò má vàng vọt của ông thì bất ngờ từ khóe mắt nhà thơ ứa ra giọt nước mắt như cả hai muốn hòa tan vào nhau, như có một luồng điện thần giao cách cảm. Ngày nhà thơ mất, nghe tin O thu xếp việc nhà và nhảy xe ra Hà Nội. Lần này Ban tổ chức đã sắp đặt riêng cho O một vòng hoa vào viếng ở nhà tang lễ. Sau đó xe của Công ty Dầu Khí đưa O xuống nghĩa trang. Gia đình nhà thơ xem O như người nhà. Chị gái anh Duật mời O về nhà chơi ở Bắc Cạn.
Khi nhìn thấy hoàn cảnh neo đơn của O, nhà báo Bùi Minh Huệ chắc cũng là phái nữ nên rất đồng cảm hỏi nhỏ: ‘‘ Bây giờ O sống bằng nguồn gì và sao lại không lấy chồng ?. Vì em thấy O cao ráo lại mặn mòi đằm thắm nữa’’. O Nhị bảo: ‘‘Bà con làng xóm ở đây rất tốt, đùm bọc lấy tui dù mẹ chết, chị cũng chết, các cháu làm ăn xa. Mỗi tháng tôi được phụ cấp thương binh loại 4 khoảng được 1 triệu đồng còn tất cả sống nhờ cái xe hàng vặt này bán trên gò cá Thạch Kim. Còn chuyện riêng tư dài lắm’’. O kể : ‘‘ Sau chiến tranh tôi được trên cho đi ôn văn hóa và thi đậu vào trường Thể dục thể thao ở Hà Bắc. Nhưng rồi thương hoàn cảnh mẹ một mình thui thủi không đành lòng được, tui lại quay về chăm sóc bà. Hồi còn ở TNXP tôi có yêu một anh bộ đội cơ khí sửa chữa ô tô quê Thái Bình. Cả hai đơn vị cùng đóng quân ở xã Thượng Lộc - Can Lộc. Năm 1973 anh đó có về thăm nhà ở làng biển. Tui đưa anh đi dạo biển và anh cũng tâm hồn lắm, làm thơ tặng tui có câu : Biển đẹp lắm em ơi có biết không - Bao nhiều ngày tháng vẫn chờ mong - Hôm nay anh đến cùng em nhỉ - Cho thỏa lòng ta nỗi ước mong. Nhưng rồi bọn tui phải chia tay vì hoàn cảnh gia đình, tui không thể theo anh để mẹ sống một mình’’.
Chiều xuống muộn, nhưng O vẫn dẫn chúng tôi ra gò cá, ở đó có chiếc chõng tre được móc với dây khóa, là nơi O thường ngồi bán hàng vặt. O vẫn đi chân đất, bàn chân bấm vào cát mịn, ngón xòe ra, võng xuống. Khi một người trong đoàn hỏi: ‘‘Từ nhà ra đây xa thế mà ngày nào cũng đẩy xe hàng ra bán chắc vất vả lắm O nhỉ’’. O cười, nụ cười dường như trẻ lại mươi tuổi: ‘‘Phải, chịu khó để bụng khỏi phải khó chịu chứ’’. Gió biển thổi lộng vào. Và lạ thay mái tóc đã thưa của o vẫn chưa có sợi nào ánh lên màu bạc…
Hà Tĩnh ngày 27/7/2016
N.H.H