Nhân kỷ niệm 79 năm ngày TBLS (27/7/1947 - 27/7/2026), Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh giới thiệu hồi ký “Nghĩa tình nơi chiến trận” của thương binh Nguyễn Tiến Dũng, sinh năm 1959 tại Tp. Hà Tĩnh (cũ) từng chiến đấu tại chiến trường K. Hiện sinh sống tại phường Phú Thủy - Lâm Đồng.
Vì nghĩa vụ quốc tế cao cả
Sáng 13, tháng 3, năm 1979, đơn vị chúng tôi đang đóng quân tại Tây Nguyên nhận được lệnh hành quân thẳng sang Campuchia (CPC) giúp bạn truy quét bọn tàn quân Pol Pot. Tôi tranh thủ viết thư bằng thơ gửi về nhà động viên Mẹ: "... Chiến trường cách trở mịt mù/ Nhưng Tổ quốc gọi thì dù nơi đâu...". Sau hai ngày hành quân bằng xe cơ giới, vừa đặt chân đến tới thị xã Ban Lung, tỉnh Ratanakiri, CPC tôi được chọn đi tập huấn trinh sát pháo binh. Hai tuần sau được điều về Đội Công tác Vũ trang, Trung đoàn 729, Sư đoàn 315.
Theo phân công, trung đoàn thành lập 03 đội công tác đến ba bản của huyện Bokeo, tỉnh Ratanakiri nằm trong rừng sâu với nhiệm vụ nhanh chóng ổn định đời sống cho người dân. Sau một ngày đi bộ khoảng 20km với ba lô, súng đạn, lương thực nặng vai, bảy anh em tiểu đội chúng tôi dừng chân tại địa điểm được xác định, tranh thủ mắc võng ngủ trong trạng thái phải canh chừng bọn tàn quân Pol Pot có thể trà trộn trong bản tập kích bất cứ lúc nào.
Trong giấc ngủ tự vệ ấy bỗng nghe tiếng gà gáy sáng khiến tôi cứ mơ màng cảm thấy như đang ở quê nhà thị xã Hà Tĩnh thời trai trẻ. Ai hay giấc mơ đẹp đêm đầu tiên đó lại là tín hiệu cho những tháng, ngày gian khổ, hiểm nguy luôn hiện hữu trên chiến trường khốc liệt sau này! Khoảng nửa tháng trôi nhanh, tôi cùng Chiến, quê Yên Thành (Nghệ An) và Nhân quê Cẩm Xuyên được giao nhiệm vụ luồn rừng, đến một bản mới khác để nắm tình hình.
Hơn 7 giờ, ba anh em với súng, lựu đạn mang theo. Khi gần tới, một cảm giác ớn lạnh chợt xuất hiện! Vì con đường ngoằn ngoèo, rộng hơn nửa mét bao quanh hai bên là rừng già dày đặc chông tre. Bước vào bản mới tiếp cận vài căn nhà ở mé ngoài thấy khoảng chục người dân ra chào hỏi, nhưng không biết họ nói gì? Trông vào mắt họ, ai cũng như có ý thăm dò! Chiến phát hiện một quả lựu đạn trong ngôi nhà gần đó vội nói nhỏ với tôi và Nhân rút khỏi ngay. Sau này mới biết bản đó chính là sở chỉ huy của bọn tàn quân Pol Pot ở vùng này.
Trung đoàn chúng tôi có ba đội công tác đóng quân tại ba bản theo thế tam giác, ba anh em chúng tôi thuộc Đội 2. Từ đội này tới đội kia cách nhau khoảng hai giờ đi bộ, nên anh em thỉnh thoảng qua lại gặp gỡ đồng hương thăm hỏi nhau.
Khoảng giữa tháng 5, năm 1979 quân ta quyết định tấn công sào huyệt của địch, nơi trước đó chúng tôi đến trinh sát. Trung đoàn giao cho hai đại đội đánh trực diện, ba đội công tác phối hợp đón lỏng đường rút lui của chúng. Ba đội hẹn đúng 2 giờ sáng gặp nhau, dùng mật khẩu và buộc khăn tay trắng lên cánh tay để nhận biết. Theo kế hoạch đúng 5 giờ sáng nổ súng nhưng phục kích đến hơn 7 giờ không có động tĩnh gì, chúng tôi được lệnh rút về. Thông tin, được biết kế hoạch bị bại lộ là do đơn vị phối hợp phía bạn CPC thiếu cảnh giác.
Cũng từ đó bọn tàn quân Pol Pot thường đánh lẻ vào các đội. Có lần nhờ người dân mật báo, Đội 2 biết trước ngày, giờ chúng tập kích liền thông tin cho Đội 1 và Đội 3. Nhưng có thể bọn chúng cũng có nội gián tìm hiểu rất kỹ các phương thức hoạt động của ta. Nên đúng như dự báo, Đội 1 và Đội 3 bị chúng tấn công gây thiệt hại nặng. Đội 2 cũng bị áp sát, thậm chí có lúc nghe cả tiếng thở, tiếng bò sột soạt của phía trước, nhưng không thấy rõ nên chưa dám bóp cò, trừ phi địch nhảy lên công sự, vì hướng bắn còn có hàng chục ngôi nhà dân.
Rất có thể bọn địch cũng cảm nhận được cái giá chúng phải trả nếu tiến thêm vài mét nữa nên rút lui. Tuy vậy trong trận tập kích của chúng Đội 1 và Đội 3 tổn thất nặng. Đội 1 chỉ còn lại thiếu uý Câu - đội trưởng, quê Cẩm Xuyên và hạ sĩ Bông - chiến sĩ quê Quảng Ngãi. Đội 3 có trung uý Cao - đội trưởng, quê Quảng Nam hy sinh tại chỗ và hai chiến sĩ khác quê Nông Cống, (Thanh Hoá) bị thương nặng. Không ngờ cả hai trưởng bản nơi hai đội này đóng quân đều tham gia cùng địch tấn công ta. Một tên bị thương nặng, một tên bị tiêu diệt tại chỗ.
Sau khi thu gom tư trang, súng đạn đưa thương binh, tử sĩ về đơn vị, chúng tôi lại nhận được mật báo: hai ngày sau địch sẽ dồn lực lượng quyết tấn công Đội 2. Lúc này có một đại đội của trung đoàn trên đường đi truy quét, đóng quân gần chúng tôi. Thượng sĩ Cảnh, quê Quảng Ngãi - quyền đội trưởng đã liên hệ sẵn sàng phối hợp tác chiến. Rút kinh nghiệm từ trận đánh trước đó, trời vừa tối, chúng tôi mời trưởng bản vào ở cùng đơn vị và giao chiến sĩ canh giữ.
Khoảng nửa đêm, cả khu bìa rừng hướng bọn địch tấn công rực sáng những đống lửa. Thì ra đây là cách đánh của chúng dựa theo kinh nghiệm của dân làm rẫy mà bọn chúng học hỏi được, để nhìn xuôi sẽ dễ phát hiện thấy mục tiêu rõ. Còn chúng tôi thì bị ngược sáng phải căng mắt ra nhìn cũng không thấy gì.
Tuy nhiên chúng không ngờ được khi những đám lửa ấy xuất hiện, tất cả chúng tôi đã có mặt dưới công sự. Suốt đêm đó chúng cũng không dám mạo hiểm tiếp cận, nên chúng tôi cũng im lặng chờ thời cơ. Có lẽ chúng đã phát hiện lực lượng ta đông hơn, và không loại trừ khả năng trưởng bản đang bị ta "quản thúc".
Trời vừa sáng, anh em đi kiểm tra phát hiện địch chia thành ít nhất 5 mũi bò vào, vệt cỏ đổ rạp xuống theo năm lằn đường rất rõ. Cũng có thể có vài mũi khác từ hướng khu dân cư, nhưng không có dấu vết rõ vì ở đó đất trống. Vào bản thấy nhà nào cũng mới đào công sự khiến chúng tôi càng nghi vấn.
Sau lần bị tấn công, trung đoàn điều các đội công tác về tập huấn phương thức tác chiến và công tác dân vận; quán triệt tinh thần tích cực học tiếng địa phương. Cuộc tập huấn ngắn ngày nhưng có gì đó giống như lễ “truy điệu” sống. Cấp trên cũng ngầm hiểu được sự nguy hiểm mà chúng tôi phải đối mặt trong thời gian tới nên rất quan tâm từ cách ăn, ở, sinh hoạt... Lúc đó tôi nêu ý kiến xin được cấp sách báo để đọc, vì ở tận rừng sâu thiếu thông tin quê nhà được đáp ứng ngay.
Sau khi quay lại các bản, Đội 2 được tăng cường quân số tới 12 người, thiếu uý Tương, quê Yên Thành (Nghệ An) làm đội trưởng, còn thượng sĩ Cảnh làm đội phó; được bố trí một máy vô tuyến giao cho Tiến, quê Hương Khê phụ trách; và Thanh quê Thạch Hà đảm nhận hậu cần. Hàng ngày chúng tôi chia làm 2 nhóm thay nhau tuần tra. Lúc nào trung đoàn tổ chức truy quét thì đội cử người phối hợp. Tôi cũng nhiều lần cùng tham gia với các đại đội đi truy quét nhưng chưa hề chạm trán địch. Trong khi đó, các đồng đội khác hạ lại gặp chúng thường xuyên. Có lần đánh vào sở chỉ huy của địch, (nơi trước đây ta định tấn công nhưng bị bại lộ), bắt sống được hàng chục tù binh, trong đó có cả tù binh nữ.
Mùa mưa đến thật khủng khiếp. Ở bìa rừng có cây cổ thụ to chừng hai người ôm bị sét đánh chẻ đôi. Một buổi sáng chợt nghe tiếng B40, tiếp đến tiếng AK vang trời, đến khoảng 11 giờ đại đội trở về khiêng theo xác hạ sĩ Thẩm, quê Nông Cống, (Thanh Hoá). Đêm đó tôi cùng 5 chiến sĩ được phân công đưa xác Thẩm đến giao cho Đội 3. Trời mưa to, nhiều lần bị lạc đường nhưng cũng nhờ có chớp, cuối cùng chúng tôi tập kết đến nơi an toàn.
Tháng 9, năm 1979, tôi được phong hàm trung sĩ và được trung đoàn cho về học lớp cảm tình Đảng. Thời điểm này một đội đi truy quét của ta không may bị địch phục kích bất ngờ nên hầu hết đều hy sinh. Không những vậy, chúng còn rất dã man dùng lưỡi lê đâm nát đầu anh em. Riêng trung sĩ Việt - y tá bị một viên đạn xuyên qua vai kịp trườn xuống khe nước, nấp vào bụi cây chờ đến tối đoán hướng bò về tới đơn vị. Theo lời kể của Việt, có thể nhận định đoàn của ta đi bị lộ.
Tôi trở lại Đội 2 sau khi học xong tiếp tục cùng anh em làm nhiệm vụ, nhưng cũng như trước, những lần đi truy quét cả tuần, vượt suối sâu, núi cao, mưa rừng, thác lũ.. chưa hề đụng độ bọn địch. Một lần nhận được mật báo, tên P một tay cộm cán của Pol Pot về bản thăm gia đình. Tối đó Thắng được phân công mũi chính diện, tôi phục kích đón chặn phía ngoài, quyết tâm bắt sống hoặc tiêu diệt. Khi thấy bóng Thắng sắp bước vào nhà, P nhanh chân chạy ra lao vào bóng tối. Thắng chỉ kịp lia theo một loạt đạn AK.
.jpg)
Người lính Nguyễn Tiến Dũng trước lúc bị thương tại chiến trường K
Nơi chúng tôi ở thời Pol Pot nó gom dân của hai bản khác nữa về nên dân khá đông. Tất cả đều ăn uống sinh hoạt chung trong ngôi nhà lớn. Khi Pol Pot bỏ đi, dân chia nhau tài sản trở về nhà riêng. Chúng tôi tới, tiếp quản căn nhà làm lán trại. Một trong hai bản ấy có vẻ sinh hoạt độc lập, ít giao tiếp với cộng đồng. Trưởng bản này đến gặp đội trưởng Cảnh nói: bọn Pol Pot ở ngoài rừng bắt dân phải gom đủ một gùi muối cho chúng, nếu không nó giết ông ta. Đêm đó tôi được giao phục kích tại nhà ông, nhưng không thấy tên địch nào mò đến.
Cuối mùa mưa các cuộc truy quét của ta vẫn duy trì thường xuyên và thường đụng độ địch. Nghe tin hạ sĩ Quảng quê Cẩm Xuyên bị thương nặng tôi đến hỏi thăm, nhưng rồi Quảng được đưa đi cấp cứu. Hơn tháng sau tôi theo đại đội khác ghé qua bản cũ, nơi mình lần đầu tiên từng đến trinh sát bỗng thấy nhà cửa ở đây bị địch đốt sạch.
Tình quân dân
Thời kì này chúng tôi thay đổi phương thức hoạt động không chỉ truy quét vào ban ngày mà cả ban đêm. Vì về cơ bản mọi người đã khá thông thạo địa hình. Phía dân bản cũng được thành lập trung đội du kích phối hợp với ta.
Dân nơi đây rất mê tín. Một lần, tôi phụ trách tổ công tác cùng 3 du kích đi tuần, trong đó có trung đội trưởng du kích Ch.rơn. Vừa ra khỏi bản, đến một rẫy lớn Ch.rơn từ cuối đội hình chạy lên gặp tôi vừa nói vừa chỉ lên trời có mấy con chim đang bay: Dũng ơi! Quay về thôi, không đi được đâu. Tôi không để ý nhưng khi nghe nói, ngước lên thấy và nghe cả tiếng chim kêu. Ch.rơn nói, đó là tín hiệu xấu.
Để trấn an họ, tôi quyết định cho rẽ trái. Băng qua đám dã quỳ đi tiếp. Ra khỏi, đi thêm được khoảng 500m thì phát hiện dấu vết có nhóm người vừa qua, bởi các cành lá cây bị bẻ ra lót làm chỗ nghỉ rất nhiều và rất mới. Nếu đi thẳng rất có thể chúng tôi gặp nhóm này. Tôi bảo anh em sẵn sàng truy theo dấu vết, nếu gặp sẽ chia hai nhóm tản ra chiến đấu.
Đi thêm nửa km thì mất hết dấu vết, chúng tôi rẽ phải vào cánh rừng già bỗng Ch.rơn lại chạy lên vỗ vai tôi không nói gì mà chỉ tay ra hiệu phía trước. Lúc đầu tôi tưởng có địch, nhưng nhìn kỹ thấy cách khoảng 100m có một con nai to như con bò, Ch.rơn nói với anh em: Để Dũng bắn. Tôi tựa súng vào gốc cây, nhắm vai con nai bóp cò, con nai giật mình nhảy đi. Tôi bắn thêm ba phát nữa thì thấy bóng nó chạy vào bụi cây. Thật lấy làm lạ vì bình thường con chim cu cách cả năm chục mét tôi cũng bắn rơi ngay! Kiểm tra lại súng thấy thước ngắm đặt sai. Rất có thể trong lúc bươn qua đám dã quý thước ngắm bị vướng vào.
Hai ngày sau, Ch.rơn đem đến đơn vị một miếng thịt nai khoảng 5kg đã bốc mùi, nói con nai đó chết cách chổ bị bắn khoảng 200m, bà con đi rừng thấy mổ thịt đem về chia cho bộ đội mình. Thú thực chúng tôi không dám ăn.
Đội 2 có phong trào học tiếng dân tộc bản xứ nên cần sáu tháng tiếp xúc là tôi đã biết nghe, chín tháng biết nói khá thành thạo. Hiểu được một số phong tục, tập quán của dân nên sinh hoạt với bà con tiện hơn. Đặc biệt đám cưới của họ có phần sơ sài nhưng đám ma thì rất đông vui, náo nhiệt. Mỗi khi nhà nào có người chết thì cả bản gom rượu đến uống, đêm đến đốt lửa, cồng chiêng ca hát, nhảy múa. Có những cô em gái còn rất trẻ mới 13-14 tuổi nhưng đã có chồng. Tôi hỏi một bà già thì được biết các cháu lo lấy chồng vì bọn Pol Pot tuyên truyền: Nếu không lấy chồng thì sẽ bị bộ đội Việt Nam bắt làm vợ.
Thực tình con gái ở đây rất xinh đẹp. Trong đó có một em người Lào khoảng 17 tuổi xứng đáng xếp vào diện "hoa khôi". Có một cô hơn tôi khoảng 4 tuổi tên Danh nhan sắc cũng không kém. Danh có cặp mắt rất đẹp! Anh Thanh cùng đơn vị lúc nào thấy chị cũng vui vẻ gọi “Mây Danh, Mây Danh ơi!” (Chị Danh, Chị Danh ơi!). Ban đầu tôi tưởng chồng chị đi làm rẫy suốt ngày như những người đàn ông khác trong bản, nhưng tháng 01, năm 1980 bỗng thấy anh đi cải tạo về. Anh tên Nuốt- nguyên đại đội phó của Pol Pot. Sau khi về nhà anh thường chủ động bắt chuyện với anh em đội công tác chúng tôi rất vui vẻ và gần gũi.
Sau Tết Canh Thân 1980 đã là mùa khô, đội công tác vẫn duy trì truy quét. Một hôm cả đơn vị đi làm nhiệm vụ, mình tôi ở lại. Anh Nuốt chủ động đến gặp tôi tâm sự rằng, hoàn cảnh vợ chồng anh hiếm muộn, cưới nhau được bảy năm rồi vẫn chưa có con. Sau đó anh ấp úng nói, vợ chồng bàn với nhau xin tôi một đứa con. Quá bất ngờ và hốt hoảng, nhưng kịp trấn tĩnh lại, tôi nói: “Mây pha lị lạ kêênh” (Anh nói bậy bạ ghê). Nuốt lủi thủi ra về. Nhìn bóng anh khuất dần tôi cảm thấy thương anh chị! Biết rằng,với tâm thế của người lính tình nguyện vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, tôi không thể được phép làm điều đó.
Càng ngày người dân bản càng xem chúng tôi như con em trong gia đình. Một đêm trăng non, trong lúc đi tuần tới gần nhà em gái người Lào thì nghe tiếng trung đội trưởng Ch.rơn gọi: “Dũng ơi, lăm ba a”, (Dũng ơi, đi vào đây). Có 5 người đàn ông đang uống rượu cần gồm cả chồng em gái Lào. Ngồi chuyện trò vui vẻ, Ch.rơn nói, nếu gặp con gái người Lào, Dũng cứ nói thế này: Kin khẩu bọ mi nhăng khắp. Non bọ lắp, bọ mi thẻo cọt. (Ăn cơm không có thức ăn, cũng như nằm ngủ không có gái ôm). Tôi chuyển hướng câu chuyện khác, nhìn ánh trăng hỏi Ch.rơn, trăng lên, tiếng Lào là gì? Mọi người cùng phá lên cười.
Cuối tháng 3, năm 1980, tôi cùng đội phó Luyện quê Nông Cống (Thanh Hoá) và Hà quê Hương Khê, đều là trung sĩ được trung đoàn rút về để đưa lên sư đoàn, tham gia lớp học tiếng Khơ Me. Sư đoàn thành lập một đại đội gồm 40 chiến sĩ và 2 sĩ quan chỉ huy. Anh em chúng tôi học học chung cùng các học viên người CPC tại Trường Quân chính, Quân khu Đông - Bắc CPC. Chỉ sáu tháng học tiếng Khơ Me, không phải tiếng dân tộc như nơi tôi đóng quân nhưng chúng tôi tiếp thu khá nhanh. Tôi nảy ra ý dùng cuốn từ điển của lớp, tra từ ngữ viết thư về bản cho cô giáo Khăn hơn tôi khoảng 10 tuổi để trao đổi. Tôi vốn nghiêm túc nhưng thân thiện nên ngay cả thầy giáo dạy chữ người CPC đều quý mến! Thầy biết tiếng Việt thành thạo. Cuối khoá học tôi đưa sổ tay thầy viết lưu bút. Chữ Thầy bay bướm, có một câu rất cảm động: “Dù cho biển cạn, đá mòn, tình cảm anh em vẫn không thay đổi”.
Kết thúc khoá học, tôi trở về trung đoàn với kết quả tốt, được phong quân hàm thượng sĩ và được bố trí ở lại trung đoàn bộ làm trợ lý Ban chính trị. Lúc này các đội công tác cũng đã giải thể. Một tháng sau tôi lại được điều về Đại đội 4 làm Trung đội trưởng để chuẩn bị chuyển lên Chép, tỉnh Pretvihia nhận nhiệm vụ mới khai thác đá.
Trên đường hành quân dừng nghỉ qua đêm cách thị xã S.tung T.reng hơn 10km trời mưa như trút. Sáng sớm nghe một đồng đội nói vừa đi sâu vào rừng khoảng mấy chục mét vệ sinh cá nhân, phát hiện thấy cả một đống xương người chất lên thành đống. Tôi chợt rùng mình! Nhớ lại chiều qua trong lúc hành quân qua đó trước khi nghỉ lại, khát khô họng tôi đã uống nước ở một con khe ngay đó.
Ăn sáng xong, mỗi người một nắm cơm đi tiếp tới khoảng 3 giờ chiều thì đến nơi tại một khu rừng già, chính là khu vực mỏ đá. Với kinh nghiệm đơn vị từng làm kinh tế ở Tây Nguyên - nổ mìn phá đá. Tuy vậy như bao lần tra kíp, đặt thuốc nổ đốt dây cháy chậm xong phải chạy xa nấp sau thân cây hay gò mối... Khi mìn nổ, một hòn đá to hơn viên gạch văng trúng thân cây sạt qua đầu tôi khoảng 10cm găm thẳng xuống đất. Trung sĩ Tiến đồng hương cùng quê ở cạnh đó thấy vậy tái cả mặt!
Gần hai tháng sau, tôi được trung đoàn điều về đột xuất chuẩn bị cho nghỉ phép thăm gia đình vào dịp Tết sắp đến. Tâm trạng vui không thể nào tả hết! Thế nhưng trên đường dừng chân ở thị xã S.tung T.reng chờ xe lại nhận được tin hoãn. Lý do là phải ở lại chuẩn bị cho công tác bầu cử của CPC.
Gần đến Tết Nguyên đán năm Tân Dậu (1981), trung tá Bình - chính uỷ trung đoàn cho gọi tôi lên gặp, động viên và giao nhiệm vụ đem theo giấy mời của trung đoàn đến bản nơi tôi từng đóng quân, mời trưởng bản tới dự lễ và ăn Tết cùng đơn vị. Năm ấy nhân kỷ niệm 5 năm ngày thành lập trung đoàn nên ăn Tết rất to. Tôi đến gặp trưởng bản truyền đạt lại ý của chính uỷ và dịch nội dung giấy mời cho ông nghe. Cô giáo Khăn - em gái trưởng bản đi ra, đi vào rồi kéo tay tôi đi ra ngoài. Cử chỉ của chị rất thân tình như gặp lại người thân trong gia đình lâu ngày đi xa mới trở về.
Chị nhắc, trước đây tôi có gửi chị một bức thư dài 4 trang giấy vở học sinh rồi lấy bức thư ra nói không tin tôi viết được như vậy. Tôi cũng nói thực ra không giỏi thế, mà chủ yếu dựa vào từ điển. Rồi tôi lấy bút ra viết một đoạn cho chị xem. Lúc này có tiểu đội thông tin vừa đến bản để bảo vệ tôi theo lệnh cấp trên mà tôi không biết. Đồng chí tiểu đội trưởng khá thông thạo tiếng Khơ me nói thêm giúp tôi. Qua đó chị Khăn càng tỏ ra khâm phục và quý mến tôi hơn.
Trưởng bản mời tôi tối đó ở lại ăn cơm cùng gia đình, có cả chị Khăn. Tôi tranh thủ ghé thăm bà Then. Bà bảo, từ ngày Dũng đi gia đình lúc nào cũng mong ngày gặp lại. Không có thời gian thăm hết bà con, nhất là Ch.rơn tôi rất tiếc!
Theo chỉ đạo của sư đoàn, trung đoàn cử 2 tổ công tác tham gia giúp bạn lo công tác bầu cử tại 3 xã (3 bản thuộc Trung đoàn phụ trách trước đó). Sau đợt tập huấn do tỉnh Ratanakiri tổ chức, tôi trở về trung đoàn, chuẩn bị cùng anh em cả 2 tổ công tác làm nhiệm vụ. Đoàn gồm 7 người, hàng ngày ngoài việc lo điểm bầu cử được chọn, sẽ đi về các bản nắm tình hình và tuyên truyền.
Cùng lúc chúng ta giúp bạn chuẩn bị nhân sự, tuyên truyền vận động dân thực hiện quyền dân chủ, thì bọn Pol Pot cũng tăng cường chỉ đạo lực lượng về các cơ sở, thực hiện âm mưu dựng lên các nhân sự do chúng sắp đặt.
Một hôm, tôi cùng Hà, quê Hương Khê và Trung, quê Thạch Hà đến bản ở vùng sâu, Đây là bản nhỏ tách ra nơi thuộc Đội 2 chúng tôi đóng quân trước đây sau khi bà con về lại chính chốn cũ của họ, nên tôi gặp lại rất nhiều người thân. Gặp bà Dum người thường cung cấp cho chúng tôi những tin tức quan trọng của địch. Tôi hỏi bà, em Hoa con gái bà cỡ tuổi tôi đi đâu? Bà buồn nói em nó gần đây bị bỏ bùa, ốm đau thường xuyên đang nhờ thầy cúng cho ngoài suối. Tôi cùng bà ra suối, thấy thầy đang phù phép gì đó? Tôi nói bà đừng tin vào họ, mà nên về đưa Hoa đi bệnh viện để khám chữa bệnh.
Gửi lại máu xương trên đất bạn
Chuyến đi vào bản hôm ấy không ngờ ngay hôm sau được người dân kể lại rằng, chiều qua có một toán Pol Pot gồm 8 tên được trang bị vũ khí đầy đủ về đây. Phát hiện thấy ba anh em chúng tôi, mấy thằng chủ động đòi tiêu diệt, nhưng thằng trưởng nhóm không cho bắn, mà bảo tất cả trốn vào bụi cây, chờ chúng tôi qua rồi bỏ đi. Đặt tình huống, nếu thấy bọn ấy trước thì chắc chắn chúng tôi sẽ nổ súng và chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra.
Sư 315 cùng đoàn chuyên gia và tỉnh bạn tổ chức họp giao ban lần đầu về công tác chỉ đạo bầu cử. Tôi được mời về họp. Nhờ nắm được tình hình trong dân là bọn Pol Pot đã ấn định ngày tiến hành bầu cử. Thực ra, lúc đầu tôi không nghĩ chúng làm vậy, mà cứ nghĩ do ban chỉ đạo tỉnh bạn sắp xếp lịch. Tuy nhiên tôi cũng không nhận được chỉ đạo trực tiếp nào từ cấp trên. Sau khi nghe tôi báo cáo, sư đoàn trưởng tỏ ra rất bất bình, đồng thời lệnh ngay cho tiểu đoàn thông tin đóng quân gần nơi sắp diễn ra sự kiện ấy khẩn trương đến truyền lệnh dừng ngay công tác bầu cử.
Sáng 20/4/1981 tôi đi làm nhiệm vụ được nửa đường thì gặp địch phục kích. Từ hai bên bìa rừng chúng dồn dập bắn ra. Theo phản xạ chúng tôi lăn xuống đất bắn trả. Nơi xảy ra giao chiến cách tiểu đoàn thông tin đóng quân khoảng 1,5km nên anh em kịp thời đến ứng cứu. Thấy thế quân ta mạnh vây hãm tứ phía, bọn địch bỏ chạy.
Khi tiếng súng vừa ngớt tôi cảm nhận dưới bụng tê buốt, sờ tay xuống thấy máu chảy nhiều, cơ bụng co thắt cứng lại. Nghĩ rằng mình sắp chết, như bản năng tôi kêu hai tiếng mẹ ơi! Rồi nằm gục xuống. Y tá nhanh chóng kiểm tra, băng bó, thông tiểu và động viên tôi bình tĩnh. Lúc này Hà đã hy sinh bởi viên đạn xuyên qua đầu. Anh em khiêng tôi và Hà về Bệnh xá sư đoàn cách đó chừng 20 km.
Tôi được chuyển về nước điều trị và an dưỡng ba tháng, rồi quay lại đơn vị làm thủ tục kết nạp Đảng và ra quân. Một lần gặp lại bà con dân bản có người thấy tôi tỏ ra bất ngờ kêu rất to: “Oi! Dung oi! Dung bơ tâu” (Ôi! Dũng ơi! Dũng chưa chết); một người dân khác nói: “Pù pha, pù panh ây tâu ke” (Chúng nó nói, chúng nó bắn mày chết rồi). Bà con dân bản nghe vậy, họ chạy tới ôm chầm lấy tôi, khiến tôi xúc động ứa nước mắt!
.jpg)
Đời lính của tôi là thế đó. Vất vả, gian lao, nước mắt, đau thương. Nhưng không thể sánh nổi với sự mất mát hy sinh anh dũng của đồng đội, khi họ đã gửi lại thân xác của mình trên đất bạn, mà không có phần may mắn như tôi là được trở về bên bố, mẹ, người thân, bạn bè và quê hương!
Tháng 7/2026
N.T.D