Sông Ngàn Sâu khi qua địa phận làng tôi không chảy xiết mà nó cứ lặng lờ như trìu mến vấn vương, lưu luyến không muốn rời. Và như thể muốn bù đắp cho những sạt lở mất mát ở đất này, nó ngầm để lại thật nhiều cá tôm cua cáy và đặc biệt là hến. Làng tôi ở nằm theo dọc triền sông thơ mộng ấy. Tạp chí Hồng Lĩnh Số 233 + 234 - Tết Bính Ngọ 2026 trân trọng giới thiệu bài viết “Hồn quê bên dòng Ngàn Sâu” của tác giả Trần Đăng Đàn
Quê tôi có dòng Ngàn Sâu (tên chữ là Thâm Giang) chảy qua làm ranh giới tự nhiên với các làng xóm bên kia thuộc Vụ Quang và Hương Sơn cũ. Con sông Ngàn Sâu thâu nhận nước của tất cả suối khe lớn nhỏ thuộc hệ đại ngàn Giăng Màn trên dãy Trường Sơn gồm Ngàn Trươi và Ngàn Sâu, hợp lưu tại Cửa Rào, rồi theo dòng chảy nhanh về dưới xuôi, gặp dòng Liệt Thuỷ thì bỗng nhiên chậm lại, rẽ trái sang phía Bãi Trạng dưới chân núi Mồng Gà, đón nhận thêm con hói Hiến, xoáy sâu lòng sông thành một cái vực gọi là vực Ác rồi mới ngoặt phải xuống vực Tàng trước khi hội cùng Ngàn Phố góp nước thành sông La. Sông Ngàn Sâu khi qua địa phận làng tôi không chảy xiết mà nó cứ lặng lờ như trìu mến vấn vương, lưu luyến không muốn rời. Và như thể muốn bù đắp cho những sạt lở mất mát ở đất này, nó ngầm để lại thật nhiều cá tôm cua cáy và đặc biệt là hến. Làng tôi ở nằm theo dọc triền sông thơ mộng ấy.
Cũng như bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam, làng tôi vốn có một truyền thống văn hoá quần cư làng xã lâu đời, vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang những nét riêng biệt của một miền quê. Những phong tục tập quán đẹp đẽ được hình thành và lưu giữ, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác đã định hình trong đời sống sinh hoạt thường nhật thường niên của cộng đồng là những di sản tinh thần vô cùng quý giá.
Cư dân sống bên bờ sông Ngàn Sâu có tục rửa nước Tiên sáng mồng một Tết. Người quê tôi vẫn quan niệm mơ hồ rằng cứ đúng đêm giao thừa là các nàng tiên trên trời xuống tắm gọi là để “tẩy trần”, hễ ai sáng đầu năm mà ra sông rửa được nước tiên tắm thì quanh năm sẽ không bị ốm đau bệnh tật gì nữa cả. Trong ký ức tôi vẫn còn đằm sâu mãi một kỷ niệm của thời thơ bé, lần ấy cũng vào tinh mơ mồng một tết được chị gái cưng chiều dắt ra bến rửa nước tiên cầu may, tôi nghịch ngợm nô đùa té ngã để hậu quả là sáng đầu năm chị phải gánh chịu một trận đòn. Chuyện cũ xa rồi, chị tôi nay cũng đã thọ gần chín mươi, mỗi lần nhắc lại chị tôi chỉ cười “cậu nhớ dai thiệt”.
Dân vùng xóm núi có tục cúng thần núi thần khe. Người làm nghề chài lưới thì cúng Hà bá Thuỷ thần. Mỗi vùng đều có một vật chuẩn riêng biệt. Vùng kẻ Tàng có bến đá Ghềnh Tàng. Vùng kẻ Bượm có bến đò Đại ngàn. Vùng Trại Trắn có cầu Dê. Vùng kẻ Nướt có cây trôi Đông Bình. Những vật chuẩn ấy lâu ngày mặc nhiên trở thành tên gọi thân tình thay cho tên làng tên xóm. Tình cờ gặp nhau bất cứ ở đâu, trên tàu xe hay ngoài đường ngoài chợ, hễ nghe nói tiếng quê giọng quê trọ trẹ “mô tê răng rứa” là thể nào cũng lân la bắt chuyện làm quen. Khi biết đó là người đồng hương thì xoắn xuýt như thể bao năm lạc nhau bây giờ tình cờ gặp lại, cứ ríu ran “em ở ngoài xóm Tùng”, “chị ở trên xóm Bượm”, “cô ở dưới Kẻ Tàng”, “bác ở trong xóm Hũng”, “ông ở vùng Trại Trắn”, “cháu ở cạnh cầu Dê…”. Rồi ghi địa chỉ, cho số điện thoại, rồi hẹn sẽ đến chơi nhà, dần dà khi đã thân thương gắn bó thì coi nhau như ruột thịt.
Dân quê tôi từ xưa tới nay đã thấm sâu trong căn cơ máu thịt nghĩa xóm tình làng. Bình thường ai lo việc nấy nhưng khi có việc này việc nọ thì cả làng xúm lại. Một người ốm nặng, cả làng đến thăm. Nhà có tang cả làng sẻ chia nỗi niềm, cùng ngồi túc trực với tang chủ đến tận khuya. Ai dựng vợ gả chồng cho con cái thì mọi người đến giúp chung vui. Ngày nào cũng nghe râm ran mời nhau uống nước chè xanh. Có nơi quy ước với nhau theo vòng, cứ đến lượt ai thì nhà nấy mời. Nhưng đa phần là hễ có nước ngon thì mời. Nước chè để mời cũng phải chu đáo, bảo đảm được tiêu chuẩn “ba chò”, tức “ba cho”: cho thơm, cho chát, cho xanh, người quê tôi phát âm nặng và nhanh thành ra là “chò thơm, chò chát, chò xanh”. Người sành uống nước chè xanh biết lựa chọn loại chè tươi non, lá nhỏ, dày và giòn, gọi là “gặng chè”. Dân vùng phía núi thì có sẵn chè trong vườn đồi nhà mình. Còn dân vùng ven sông thường phải mua chè ở chợ. Họ thích chè chợ Bộng, chè Sơn Thuỷ, Sơn Thọ, Sơn Tân, chè Trại Trắn. Để đạt tiêu chuẩn “ba chò” thượng hạng thì phải om chứ không phải nấu sôi sùng sục trong nồi vì nó thường hay bị “lịt”, không xanh nước và thơm hương. Nước om chè phải là nước mưa, nước sông suối tự nhiên hay nước giếng khơi vùng đá ong mới ngon. Quây quần với nhau quanh bếp lửa mùa đông, hay trên chõng tre giữa sân những đêm trăng sáng, uống nước chè om “ba chò”, với rổ lạc rang, củ khoai củ sắn của cây nhà lá vườn là một thú quê không phải nơi nào cũng có được.
Lúc thường đã vậy, dịp tết càng thắm tình hơn. Ai từ quê ra đi, dù là đi làm ăn theo năm theo mùa vụ hay đi rồi định cư lập nghiệp ở nơi khác, đến ngày tết lại tìm về. Nếu có ai đó vì hoàn cảnh không về được thì cái tết đó coi như giảm bớt nhiều ý nghĩa. Người đi đã thế, còn người ở quê thì trông đợi. Thấy lác đác có người về ăn tết lại thấp thỏm nghĩ tới người thân của mình. Tết là dịp để sum họp gia đình và gặp gỡ người thân. Tết cũng là dịp để tri ân báo hiếu và tìm về nguồn cội. Trong tâm khảm mỗi người, ngày tết thật là thiêng liêng.
Trước kia, người dân thường chuẩn bị tết từ khá sớm. Nếp thì đã có sẵn tự sản xuất được. Lo nhất là khoản thịt lợn. Ngay từ tháng 10, tháng 11, người ta đã bàn dạt “ăn đụng” với nhau, nghĩa là mấy nhà cùng chung một con lợn thịt. Đụng được lợn rồi thì coi như chuẩn bị tết đã xong, cứ yên tâm cày cấy trỉa vãi, không sợ giá cả thị trường lên xuống thất thường. Cách “ăn đụng” cũng có cái hay. Bởi vì “ăn đụng” không phải trả tiền mặt ngay, cứ lấy thịt về ăn đến mùa trả lúa cũng được. Thành ra dù hoàn cảnh có như thế nào thì ba ngày tết ai cũng được thoải mái cả. Các thức vị của tết quê thường thiên về số lượng. Mỗi nhà vài chục bánh chưng, dăm bảy cân thịt là chuyện bình thường. Mà không phải sắm nhiều để “ăn cho đã”. Cái chính là có sẵn để thết đãi khách khứa bạn bè. Ai đến chơi nhà mình chỉ cần bóc chiếc bánh chưng với đĩa thịt rim, khoanh giò bột, ngồi uống với nhau vài chén rượu nếp quê tự chưng cất nút lá chuối, thế là thoả lòng. Người quê tằn tiện chắt lót quanh năm, nhưng ngày tết thì tự “thả mình” một chút và rất thịnh tình với khách.
Tết là dịp để mọi người đến thăm hỏi nhau, gắn bó thân tình với nhau hơn. Quanh năm ai lo việc nấy nhưng tối tất niên thì thể nào cũng phải chạy qua nhà này nhà kia một tý cho kịp hết năm cũ. Sang mồng một thì đi chúc tết tất cả xóm giềng. Nhà nào chưa đến được trong ngày đầu năm là day dứt lắm. Dù mới gặp nhau hôm qua hôm kia nhưng hôm nay nó khác hơn. “Hai năm rồi ta mới gặp lại nhau nhỉ!”. Người ta đùa vui, nắm tay nhau như thể đã lâu rồi mới gặp lại, chúc nhau những lời chúc tốt lành để rồi ngày mai ngày kia đã lại là năm cũ rồi ai lo việc nấy, chờ đến một cái tết sau. Người quê dù đi đâu ở đâu làm gì thì trong sâu thẳm tâm hồn vẫn luôn nhớ về nguồn cội. Nỗi nhớ niềm thương đó thường khi ít thể hiện ra bằng lời mà bằng những việc làm hành xử cụ thể. Và tất cả không ngoài mục đích cuối cùng là để nuôi dưỡng một hồn quê.
Ôi những nét đẹp văn hóa làng có từ bao đời thật đáng tự hào, trân quý và gìn giữ.
T.Đ.Đ