30-04-2026 - 22:06

Ký ức tháng Tư

Tạp chí Hồng Lĩnh số 236 tháng 4/2026 trân trọng giới thiệu bài viết “Ký ức tháng Tư” của tác giả Trần Đăng Đàn

Có những ngày tháng trong năm thoảng nhẹ và đi qua rất nhanh. Nhưng trong tôi, tháng Tư thì lại khác, nó cứ chầm chậm, lặng lẽ len vào lòng, hồi hộp đón từng ngày, khơi dậy trong tôi những điều đã cũ mà chưa bao giờ phai. Nó là tháng của kỷ niệm lịch sử, của những ký ức chung, tháng để tôi và chúng ta nhớ lại để tri ân những người đã mang theo tuổi xuân đi qua chiến tranh, có nhiều người đã nằm lại, để tháng Tư trở thành một lời nhắc nhở về sự hy sinh cho ngày toàn thắng, cho nắng đẹp trời xanh, cho hoa thơm trái ngọt, cho cuộc sống hòa bình độc lập, ấm no hạnh phúc hôm nay.

Tôi đã bao lần quên mừng sinh nhật, nhưng chưa bao giờ quên ngày nhập ngũ 10/4, nhớ phút tiễn đưa, mẹ gắng gượng móm mém cười “ con đi …chân cứng đá mềm…” rồi buông tay òa khóc. 

Năm 1968 có lệnh tổng động viên, tôi cùng 19 anh em trong xã nhập ngũ cùng một ngày. Huấn luyện xong thì hầu hết được bổ sung vào Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, chiến đấu ở Đường 9, Nam Lào, Khe Sanh, Quảng Trị. Hồi đó mặt trận B5 vô cùng khốc liệt. Lính 304 được mệnh danh là lính của Sư đoàn thép “ăn cơm Bắc đánh giặc Nam” rất vất vả. Xã tôi có nhiều người hy sinh như Đoàn Tử Năng, Phạm Quang Đức, Trần Xuân Linh, Lê Thúc Bình, Trần Đình Khâm, Lê Xuân Trường, toàn là trẻ măng vừa rời ghế nhà trường. Hết chiến tranh, còn lại mấy đứa chúng tôi mỗi người một ngả, thỉnh thoảng gặp nhau ôn lại chuyện thời của lính.

Nhớ lần đầu tiên hành quân vào đến làng Ho -“Trạm giao liên Cửa rừng” khi  trời chưa sáng, đơn vị chúng tôi tập kết trên một bãi đá cuội ven suối. Chiều hôm trước trời mưa to, nước suối dâng lên chảy xiết. Lệnh truyền xuống: “Chuẩn bị cởi quần vượt suối”. Lúc đầu tôi tưởng là đùa nhưng sau  thấy ai cũng cởi cả quần dài quần lót nên tôi mới biết đó là một  lệnh nghiêm túc. Chúng tôi bắt đầu lội xuống suối thì lệnh truyền tiếp: “Bám vào hàng cọc tiêu mà đi”. Cọc tiêu là những đồng chí trong trạm giao liên được cử ra, đứng giăng thành hàng ngang, cứ một nam một nữ quàng chặt tay với nhau để bộ đội vịn vào mà vượt suối không bị ngã. Chúng tôi một tay chống gậy, tay kia vịn vào hàng cọc rào sống đó lội qua suối, lên bờ mặc quần vào rồi vẫn chưa hết ngượng. May mà trời còn tối nên không ai thấy gì. Chúng tôi ngồi đợi trời sáng để vào “trạm khách”. Sau này còn nhiều lần “cuổng trời” như thế nữa. Có hôm hành quân, lính ta nghịch truyền lệnh giả: “Cởi quần vượt suối”. Thế là cả hàng quân phía sau cứ tồng ngồng thế đi lên dốc mà không hề gặp một con suối nào!

Từ Trạm Ho, chúng tôi được bổ sung gạo, đạn dược, thuốc men và bắt đầu hành quân ban ngày. Cứ sáng sớm ăn cơm xong, được phát thêm một nắm cơm vắt rồi lên đường, đến chiều lại dừng nghỉ ở một trạm khách khác. Chúng tôi đi trong mưa rừng. Mưa không xối xả mà nó cứ dầm dề triền miên làm cho đường lầy và rất trơn. Nếu không có chiếc gậy Trường Sơn thì khó lòng lội suối trèo dốc được. Sau này tôi mới biết là chính bọn Mỹ đã tạo ra những vùng mây mưa trên dọc dãy Trường Sơn để gây khó khăn cho chúng ta, chứ dạo ấy đang là giữa mùa khô, nắng như đổ lửa ở Quảng Bình, Quảng Trị.

 Quân Giải phóng tiến công căn cứ lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Ai đã từng ra Bắc vào Nam trên con đường giao liên Trường Sơn những năm chống Mỹ mới hiểu hết được sự gian khổ hy sinh của những con người đã thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Thương nhất là các chị em. Ngoài những vất vả như chúng tôi, họ còn phải chịu đựng những nỗi khổ khác mà chỉ có họ mới hiểu hết với nhau được. Quần áo giặt phơi hàng chục ngày không chịu khô, còn ướt sũng cũng phải mặc. Ghẻ ruồi, hắc lào, lở loét là chuyện không mấy người tránh khỏi. Sên vắt chui vào cả những chỗ kín đáo nhất mà hút máu. Rồi sốt rét ác tính. Có người rụng hết tóc phải luôn dùng một tấm vải dù buộc che kín đầu. Có người thậm chí mất cả chu kỳ bình thường riêng của người con gái. Không biết trong các cuộc chiến tranh vệ quốc trên thế giới này, có nơi nào mà nữ bộ đội, dân công, TNXP chiếm tỷ lệ cao như ở Việt Nam mình? Tôi cứ nghĩ, nếu sau này xây tượng đài hay phong tặng danh hiệu này nọ thì họ mới chính là những người ngàn lần đáng tôn vinh rồi sau đó mới đến lượt nam giới chúng tôi. Trong những năm chống Mỹ cứu nước, họ đã làm ấm lên những con đường giao liên Trường Sơn. Mỗi lúc hành quân hay đến  một trạm khách, chỉ mới nghe tiếng con gái thôi là cánh lính chúng tôi đã hăng hái lên, quên cả mệt mỏi đói rét.

Những cái tên Dốc Khỉ, dốc Ba Thang, dốc Ba Nắm Cơm…bây giờ nghĩ lại mới rợn ngợp, chứ hồi ấy thì cảm thấy bình thường. Có những chỗ dốc dựng đứng, người đi sau “đội đít” người đi trước, người ở dưới phải dùng gậy đẩy ba lô hộ cho người ở trên. Bám được bậc đất đá rồi thì quay lại dùng gậy kéo đồng đội phía dưới lên. Leo đến đỉnh dốc mới thở phào, thấy trước mặt là một màu trắng như bông phẳng lỳ, trông giống như những dòng sông len lỏi giữa đại ngàn. Lúc đầu cứ tưởng là sông thật, sau mới biết đó là “sông mây”. Sông mây Trường Sơn gợi cảm giác yên bình, lãng mạn và nhuốm màu huyền thoại. Ngồi ngắm sông mây, ăn cơm nắm uống nước bình toong xong, hút liền mấy điếu thuốc lào rồi bắt đầu xuống dốc. Lúc trèo lên đã vất vả, xuống dốc càng khó khăn hơn vì nó trơn. Nếu không cẩn thận là trượt ngã liền.

Đường hành quân từ trạm giao liên này đến trạm giao liên khác thường phải qua những cầu treo, cầu khỉ, cầu độc mộc. Nhiều khi phải cởi truồng lội suối hàng cây số. Có lúc lại leo thang dây. Càng đi càng thấy sự thông minh sáng tạo cực kỳ của bộ đội Trường Sơn. Nhớ hôm vượt dốc “Ba nắm cơm”, leo hơn hai tiếng đồng hồ mới tới lưng chừng dốc, lính ta mệt quá đòi dừng nghỉ, anh giao liên dẫn đường bảo: “Phía trên kia có một đơn vị TNXP đang mở đường”. Thế là tất cả reo lên, bươn dốc không còn thấy mệt mỏi nữa.

Trong số bạn cựu chiến binh trở về sau chiến tranh, thương nhất là thương binh Lê Trọng Hồ có biệt danh là “Hồ điếc”. Tôi với Hồ điếc cùng nhập ngũ một ngày, cùng một đơn vị chiến đấu nên quý nhau. Gọi nó là “Hồ điếc” vì nó bị bom Mỹ dập nhiều lần, lại là xạ thủ B41 nên hai lỗ tai của nó thủng hết màng nhĩ, thương tật 61% vĩnh viễn, nói theo cách nói dân quê tôi là đã bị  “điếc câm điếc cảy”. Hồ điếc thỉnh thoảng đến chơi nhà tôi. Mỗi lần đến thì ai cũng biết bởi cái kiểu nói oang oang không cho ai chen vào, hỏi đó rồi tự trả lời đó: “Ăn chưa? Rồi hả? Ừ! Thế còn phu nhân? Đi làm hả? Ừ!... Ta vừa đến chỗ bạn Khuyên và bạn Hà. Ăn rồi, uống rồi! Ừ! Ta nói là phải xuống bạn Đàn. Ừ! Mà cái máy trợ thính ta cho thằng Lệ rồi. Thấy nó điếc lác hủ hở thế là cho luôn. Khi nào ra Hà Nội xin Lê Mã Lương cái khác, thằng ấy cùng đơn vị ta lo gì. Ta có lời thề thuộc lòng từ hồi lính sư đoàn “trong tình thương yêu giai cấp hết lòng thương yêu đồng đội lúc thường cũng như lúc chiến đấu”. Thôi ta về đây nhé. Ừ! Bà Bình đang chờ. Ừ! Ăn rồi, uống rồi. Khi khác nhé. Bắt tay cái nào! Ừ! À này! Bạn Toàn sắp gả con gái. Bữa nào ta đến mừng rể cho bạn Toàn hý! Ừ!”. Hồ điếc vừa nói vừa đạp xe đi.

Nhiều người bảo rằng Hồ điếc bị tâm thần. Tôi thì không.. Bởi tôi biết tính tình của nó. Mỗi lần đến chơi, nó nói liên thiên hết chuyện này chuyện nọ. Rồi cuối cùng thể nào cũng quay về chuyện đơn vị cũ. Nó nhớ hết thảy tên tuổi, quê quán, cấp bậc, chức vụ của từng người trong đại đội. Nó biết rõ bạn Lượng vừa vào Bình Dương ở với con. Bạn Việt Nghi Xuân bây giờ giàu rồi. Còn bạn Chung thì đã chết cách đây mấy năm…

Nhớ năm 1971, sau chiến dịch Đường Chín Nam Lào, cùng nhập ngũ với tôi lúc ấy chỉ còn lại tôi với Trần Mạnh Hồng, Lê Văn Nghiêm, Phan Xuân Đỉnh và Hồ điếc. Hồng bị thương được chuyển về tuyến sau điều trị. Khi ra viện, Hồng tranh thủ thăm nhà được 7 ngày, gặp cô Bình là công nhân xưởng đan dè cót của huyện. Thế là hai người yêu nhau và cưới nhau luôn. Ba ngày sau thì Hồng trở vào đơn vị lúc bấy giờ cũng đã rút ra hậu cứ ở Rào Trù cách phà Long Đại (Quảng Bình) chừng ba cây số. Được một tháng cô Bình theo xe của binh trạm 7 vào thăm chồng. Chúng tôi làm cho đôi vợ chồng  trẻ một cái lán nhỏ ở riêng gọi là phòng hạnh phúc. Không biết Hồ điếc lần đâu ra được một chai rượu. Thế là cả mấy đứa rủ nhau đến uống để gọi là chúc mừng. Rượu vào ngà ngà, Hồng hôn vợ một cái rồi bảo: “Em lấy anh thật khổ. Lặn lội vào đây biết rồi có được gì hay không. Đời lính chiến chẳng lường trước được. Nếu rồi anh đi chiến dịch lỡ có xảy ra điều gì không hay thì lại làm khổ em thôi”. Hồ điếc cướp lời: “Khỏi lo! Để đó tau. Rồi tau nuôi vợ con cho mày”. Được một tuần thì đơn vị có lệnh di chuyển gấp. Bình trở về quê trong nỗi nhớ thương bịn rịn. Không ngờ đó cũng là những ngày cuối cùng Hồng và  Bình được sống bên nhau. Hồng cùng đơn vị vào chiến dịch và hy sinh ngày 27 tháng 4 năm 1972 tại Cam Lộ.

Sau này Hồ điếc cũng trở về với hai cái tai điếc đặc, lấy cô Bình như đã hứa với Hồng. Họ có với nhau 3 đứa con nay cũng đã thành gia thất. Có khi tôi trêu Hồ điếc, bắt kể đầu đuôi chuyện đi tán Bình, Hồ điếc chỉ cười mà gạt đi: “Ừ! Chuyện dài lắm, để lần khác nói hý. Ừ!”.

T.Đ.Đ

. . . . .
Loading the player...