Thuở nhỏ, tôi thường tha thẩn trong khu vườn nhà rất rộng sau nhà mình, trèo cây tìm trái chín. Vườn nhà tôi rất nhiều cây ăn quả, trồng từ hồi các cụ còn sống. Trên mảnh đất cao ráo, vốn là sườn một ngọn đồi nhỏ hình mu rùa này, nhiều lần tôi cuốc đất tìm giun làm mồi câu cá. Tạp chí Hồng Lĩnh Số 233 + 234 - Tết Bính Ngọ 2026 trân trọng giới thiệu bài viết “Làng” của nhà thơ Lê Thành Nghị
Từ ngã ba Hạ Vàng theo tỉnh lộ đi xuống phía biển chừng mươi cây số là đến làng tôi, làng Kim Chùy, ngôi làng bình dị như bao ngôi làng khác mà bạn đã đi qua. Làng Kim Chùy cách chân núi Hồng Lĩnh, dân quê tôi gọi là Ngàn Hống, chừng ba cây số, cách biển đông cũng bằng chừng ấy độ đường. Nghĩa là lên núi cũng tiện mà xuống biển cũng không khó. Từ nơi này tôi đã cất tiếng khóc chào đời, bước những bước đầu tiên trong cuộc đời, tập đánh vần đầu tiên, lắng nghe những tiếng đập đầu tiên thưở trái tim biết rung động, và có thể là sẽ nơi yên nghỉ cuối cùng… Từ nơi này tôi cũng đã ra đi, đi đến nhiều vùng đất rất xa, rồi lại trở về, nhiều lần về từ những vùng đất rất xa.
Thuở nhỏ, tôi thường tha thẩn trong khu vườn nhà rất rộng sau nhà mình, trèo cây tìm trái chín. Vườn nhà tôi rất nhiều cây ăn quả, trồng từ hồi các cụ còn sống. Trên mảnh đất cao ráo, vốn là sườn một ngọn đồi nhỏ hình mu rùa này, nhiều lần tôi cuốc đất tìm giun làm mồi câu cá. Có lần cuốc đến vùng đất sau gian giữa của ngôi nhà, bà tôi từ trong buồng nhìn thấy, liền nói: Cháu không được đào đến chỗ ấy. Vẻ mặt bà rất nghiêm trọng làm tôi chùn tay, bỏ đấy tìm chỗ đất khác. Sau này mẹ tôi cho biết đó là nơi ba chôn nắm rau của con!. Việc cuốc đất tìm giun cũng giúp tôi phát hiện dưới lớp đất mỏng trong vườn nhà, thỉnh thoảng lại tìm được những viên đá, khi thì hình lưỡi cuốc, lưỡi dao, lưỡi rìu…được đẽo gọt khá đẹp mắt. Có lần đưa vào nhà làm đồ chơi, bà lại ghé tai tôi thì thầm: Không được đưa những thứ ấy vào nhà! Đồ của ma đấy! Thế là tôi lại mang chúng ra vườn, mà không hiểu “đồ của ma” là gì?. Lớn lên vài tuổi nữa, tôi biết thế nào là “nơi chôn rau, cắt rốn”, nên cảm thấy vạt đất nhỏ sau gian giữa của nhà mình thật thiêng liêng. Chính vạt đất nhỏ này thường vang vọng trong tôi, nhất là những đêm xa nhà, tiếng gọi mơ hồ mà mãnh liệt của ký ức, thúc giục tôi tìm về. Và những thứ được bà tôi gọi là “đồ của ma” kia, sau này được thầy giáo dạy sử cho biết đó là những công cụ sản xuất bằng đá của người xưa, tôi mới hiểu nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hàng vạn năm trước, thời kỳ đồ đá…đã có con người tồn tại trên mảnh đất này, mảnh đất làng Kim Chùy!
Từ bao giờ, ai đã đặt tên cho làng tôi, làng Kim Chùy, nghĩa là cái chùy bằng vàng?. Tôi đã nhiều lần hỏi các bô lão trong làng, nhưng không ai còn nhớ. Năm nay tôi cũng đã cao tuổi, gần tám mươi, nghĩa là sau tôi sẽ cũng không ai còn có thể biết. Một cái tên làng rất có ý nghĩa: cái chùy bằng vàng phải chăng là để ghi nhớ chiến công đánh giặc giữ nước, giữ làng của tiền nhân? Cái tên đẹp này chắc chắn sẽ không bao giờ mất trong ký ức của mỗi người dân làng tôi cho dù xã hội phát triển, thay đổi cỡ nào, vì nó không chỉ là tên gọi, mà là văn hóa, là lịch sử, là tâm linh, là niềm tự hào, là gốc rễ, là tình cảm chính chủ chứ không phải là tạm trú, ngụ cư… Không một người con nào tha hương mà không khắc khoải nhớ, nôn nao mỗi khi về đến cổng làng. Tôi tin ai cũng có những tâm trạng này!

Trò chơi trẻ thơ dưới lũy tre làng. Ảnh: Internet
Nhưng nhớ gì nhất? Làng tôi ngày trước vây quanh bằng những lũy tre xanh. Không chỉ đơn giản là cây, tre xanh còn là chiến lũy, tre xanh rợp bóng những trưa hè gió Lào rát bỏng. Từ sau cái đận “bê tông hóa” thì không còn một bụi tre nào. Nhưng đó là một câu chuyện khác! Dưới những rặng tre xanh ngày xưa bà con í ới gọi nhau khi ấm chè xanh đã thơm lừng ra tận ngõ. Như một sự phân công, người trong ngõ xóm biết nhà ai trưa nay có chè xanh, để nhà mình phải chờ đến lượt hôm khác. Những buổi trưa nóng nực mà xôm tụ. Chuyện nở như ngô rang, không dứt trước buổi làm chiều. Sau đó lại ai việc nhà ấy, cứ thế “văn hóa chè xanh” hình như là “đặc sản” của làng tôi, của miền trung…như một nét đẹp mỗi khi tôi nhớ làng!
Tôi xa nhà được vài năm thì mẹ tôi mất. Sau cái choáng váng đầu tiên trong cuộc đời, tôi chưa cảm nhận được hết kích cỡ của cái mất mát, cái đau đó nó to lớn như thế nào, vì lúc ấy tôi còn khá trẻ, còn nhiều ảo tưởng. Chỉ vài mươi năm nữa, trải qua nhiều cung bậc cảm xúc, nếm trải những đau đớn, mất mát khác, tôi mới hiểu cái mất mát, cái đau mất mẹ khác hẳn với mọi cái mất mát, cái đau khác. Nó không có gì thay thế được. Nó trùm lên mọi nỗi mất mát, nỗi đau khác, biến những nỗi mất mát, nỗi đau khác thành những cái vấp nhẹ trên mỗi bước đi. Đến mức, mỗi khi nhớ về làng là cái mất mát kia lại trở lại dày vò tôi, lấy đi của tôi những đêm dài không thể chợp mắt. Chắc phải đến một ngày như người ta nói khi “về với mây trắng” mới có thể chấm hết được tâm trạng chập chờn kia!
Khi tôi lớn lên, làng tôi có đến năm địa điểm tâm linh thiêng liêng, nơi dân làng vẫn đến thắp nhang mỗi dịp lễ tết. Sau những năm Cải cách ruộng đất không còn một nơi nào nguyên vẹn. Nhưng đó cũng lại là một câu chuyện khác. Ngày nhỏ, ngay trước mặt nhà tôi là ngôi đền thờ thành hoàng làng, gọi là Đền Cửa thờ. Ngôi đền nhỏ xinh bên cạnh chiếc cầu bắc qua một lạch nước, có cây đa cổ, tán lá xanh mượt che kín cả một vùng rộng lớn. Trước cửa Đền là cổng tam quan, hai bên có hai võ tướng oai vệ đứng cạnh hai con ngựa, ngày đêm im lặng canh giữ. Trên hai chiếc cột cổng Đền có câu đối cổ. Một lần cha tôi dắt tôi vào Đền thắp hương. Ông đọc và giải thích cho tôi nghe câu đối trên, tôi nhớ đến bây giờ: Phong quang cựu khố đường dung mạ/ Nguyệt lạng bình kiều thủy hữu long (Tạm dịch: Quang cảnh nơi cồn kho cũ, trên đường có ngựa/ Trăng sáng trên cầu bằng, dưới nước có rồng). Cha tôi là một ông giáo trường làng biết chữ Hán, chữ Pháp. Cha tôi mất khi ông mới sáu mươi tuổi. Khi mẹ tôi mất cảm giác của tôi là choáng váng, còn khi cha tôi mất cảm giác của tôi là trơ trọi. Từ đây, trên cõi đời này tôi là một kẻ trơ trọi. Người mà sẵn sàng làm ngựa cho ta cưỡi lúc còn bé tí; người ít khi khen ta trước mặt nhưng rất tự hào mỗi khi ta đạt được điều gì đó trong cuộc đời; người mà khuyên ta tiết kiệm chi tiêu nhưng lại sẵn sàng giúi cho ta món tiền mỗi khi ta đi xa; người mà trước nỗi đau mất vợ, đã ngồi lặng như hòn đá tảng hàng tiếng, rồi tự đứng dậy lo chu toàn mọi việc tang lễ. Sau đó vật xuống khóc hộc lên như một đứa trẻ; người mà một mực “ở vậy nuôi con” hàng chục năm sau khi mất vợ; người mà đau đớn mỗi khi biết con mình gặp điều bất hạnh… Người ấy là cha tôi, gắn với ngôi làng tôi, với mỗi người dân làng tôi, bởi nếp sống văn hóa, uy tín, đức độ, xứng đáng với ông giáo làng chuẩn mực hiền hậu, hay chữ. Nhớ về làng là nhớ đến cha. Người mất đi, tôi trơ trọi như cái cây bời lời, một mình lớn lên trong khu vườn hoang vắng!
Ngày xưa, tôi và lũ bạn trong làng chơi đủ trò nghịch ngợm. Trèo cây trộm quả, nhảy cầu oàm oạp tắm nghịch mỗi buổi trưa hè nóng nực, đánh trận giả suốt những đêm trăng sáng, mùa rét leo lên gác rơm trên chuồng bò nhà cô bé hàng xóm cùng nhau kể chuyện cổ tích đến tận khuya, lên núi Mồng Gà hái sim chín, môi đứa nào đứa nấy tím ngắt, và bất chợt nhận ra cô gái làng Đông có đôi mắt dài như một vệt trăng liềm cuối thu…Rồi một hôm nào khi đã choai choai, đi học trường huyện, nhắn nhe mời cô bạn lớp bên đến nhà chơi qua hai câu lục bát ngẫu hứng viết trên mảnh giấy nhỏ gấp tư, xé từ cuốn vở học trò: Nhà tôi bên nớ chợ Lù/ Có bụi tre rậm rậm, có bụi trù mới lôông…Sau này mới biết đấy là tiếng đập tinh khôi đầu tiên của con tim mà tự mình nghe được, cũng là cái “cột mốc” mơ hồ giã từ tuổi thơ. Một tuổi thơ gắn với biết bao kỷ niệm về làng!
Nếu những rặng tre xanh như lũy, như thành quanh làng che rợp tuổi thơ tôi, thì những con đường, những lối đi qua lại trong ngõ xóm, trong đường làng lại găm vào ký ức tôi như những vết khắc không bao giờ phai nhòa. Đường nhỏ, rát bỏng về mùa gió Lào, lầy lội về mùa mưa, be bét những đống phân trâu, phân bò, ngập ngụa những rác rưởi. Ban ngày còn biết để tránh, ban đêm thường xéo phải những thứ không mấy dễ chịu ấy. Xéo phải thì tìm đến giếng nước để rửa, mãi thành quen, không ai thấy phiền hà gì. Lạ thế!. Dân làng tôi dạo ấy không ai biết đi giày, đi dép. Phần thì không có tiền mua, phần thì đường sá lầy lội, đi dép, đi giày sẽ bê bết bùn. Tôi đi bộ đội xa nhà, rồi được đi du học mãi tận Liên Xô. Tôi nhớ từ Liên Xô về đến Nội Bài, tôi đi giày, phần vì đi giày cho đỡ lạnh, phần để “đi” với bộ “comple ông Bửu” Bộ trưởng Bộ Đại học Việt Nam lúc bấy giờ, phát cho lưu học sinh, mỗi anh một bộ, trước khi lên đường đi du học. Từ Hà Nội về đến thị trấn Nghèn tôi chuyển sang đi dép, phần thì cho mát, phần thì cho phù hợp với “sinh hoạt” bà con trong làng hồi đó. Còn từ Nghèn về làng Kim Chùy khoảng mươi cây số, nếu gặp trời mưa thì buộc phải bỏ dép chân trần lội bùn, vì nếu mang dép, thì không có thứ quai dép nào chịu nổi để vượt qua được “dặm đường máu lửa” lầy lội mười cây số kia! Như vậy là phải mượn đến “ba phương tiện” để về làng. Chẳng bù cho bây giờ, các cháu đưa tôi về làng bằng chiếc xe bốn bánh Nhật Bản vào đến tận thềm nhà. Tất cả đường làng, ngõ xóm đã được “bê tông hóa”, “nhựa hóa”. Trên mỗi đoạn ngõ nhỏ, tối đến những chiếc bóng đèn cao áp bật sáng lung linh. Từ mỗi góc nhỏ của lối xóm, chỗ sáng đèn, được đặt mỗi chiếc thùng đựng rác. Thỉnh thoảng lại có ô tô sơn màu xanh đi gom rác. Một hệ thống ống nước chằng chịt dẫn nước sạch đã qua xử lý từ hồ Khe Hao về đến từng nhà. Nông thôn ngày trước chỉ thua thành thị hai cái: một là điện sáng, hai là nước sạch. Làng tôi cả hai thứ ấy đã có hàng chục năm nay. Bây giờ những người tha hương khắp mọi miền của đất nước, đều muốn quay về làng, để tránh cái ô nhiễm của thị thành! Có người đi làm ăn xa, vài năm sau về làng bán đi mảnh đất ông cha gây dựng qua nhiều đời. Đến khi phát đạt, ôm cả bọc tiền về Làng định chuộc lại. Tiền chồng cao gấp mấy lần giá trị mảnh đất, lại trình bày đủ thứ hoàn cảnh nọ kia, nhưng chủ mới nhất quyết không là không!
Tôi về làng nhiều lần, chứng kiến một sự thay đổi đến kinh ngạc. Ngày còn hợp tác xã, mẹ tôi tuy không phải là “lực điền”, nhưng vì nhà đông con, nên bà phải quanh năm “bán lưng cho trời, bán mặt cho đất”, chân lội bùn, tay vơ, tay cào như con gà mẹ dẫn một lũ con sục sạo khắp ruộng, khắp vườn tìm cái ăn, mà đói vẫn hoàn đói. Mỗi vụ thu hoạch, mỗi công được hai lạng thóc. Một mùa mẹ chỉ được nhận về khoảng 50 kg thóc. Người làng bảo số thóc ấy nếu để ăn “trắt” cũng không đủ, chỉ đủ nuôi nhau tằn tiện trong hơn một tháng. Thời gian còn lại là đi vay, đi đong, đi đào bới củ dại, đi lặn ngòi ngoi hóp mò chút của đồng, đi làm hàng sáo, gặn lấy chút tấm mẳn lẫn trấu, quết nồi cháo cám nuôi đàn con nhỏ. Tôi không sao quên nổi cái khô khốc, nhám đặc, tắc nghẹn, không thể trôi qua vòm họng của bát cháo cám mà mẹ vất vả kiếm về cho chúng tôi. Mẹ tôi mất sớm cũng vì khó nhọc nuôi một đàn con nhỏ, khi mẹ ốm nằm xuống không có nổi một viên thuốc kháng sinh chữa bệnh, không có nổi một thìa cháo cầm hơi! Mẹ chết bệnh, nhưng cũng coi như chết đói!
Bây giờ thì sao? Chú em tôi công tác tại thành phố Hà Tĩnh về nghỉ hưu tại quê nhà, được nhận đâu 5 sào ruộng. Mỗi mùa vợ chồng chú ấy bỏ công ra thực sự chỉ khoảng mươi hôm. Chú thím trích một chút tiền hưu trí thuê cày bừa bằng máy, sạ thóc bằng máy, làm cỏ đã có thuốc trừ cỏ. Hệ thống mương máng ngay cạnh ruộng, “đòi” nước vào khi vạt lúa đang lên xanh, tháo nước ra lúc vạt lúa đã chín vàng. Lúa lên bời bời rồi tự chín. Đến mùa lúa chín chỉ một cú điện thoại là thợ máy gặt đã có mặt. Thóc bán tại ruộng. Có những chiếc “đại xa” về sát mép ruộng nhập hàng. Chủ ruộng chỉ việc đứng trên bờ cầm ô che nắng, sẵn sàng bút giấy xác nhận số lượng và đếm tiền (có người ghi và tính tiền bằng điện thoại di động), rõ là những “địa chủ thời @”, hơn hẳn những địa chủ xắn quần lội ruộng ngày trước!. “Tiền tươi, thóc thật”, bên mua bên bán đều “cười như Liên Xô”!
Từ ngã ba Hạ Vàng về làng, đúng là bây giờ không làng nào còn lũy tre xanh. Làng tôi cũng không ngoại lệ. Ngày xưa viết “thư tình” cho cô bạn lớp bên, rằng “nhà tôi bên nớ chợ Lù, có bụi tre rậm rậm…”. Bây giờ thì mất tiêu luôn cả tầng tầng lớp lớp những lũy tre xanh quanh làng, bói không ra một cây! Bây giờ, nếu giải thích cho học sinh, phải bằng ô tô chở các cháu lên tận miền ngược nào đó, chỉ cho chúng đâu là cây tre vốn là “lũy tre xanh thân mật làng tôi” mà ông nhà văn Thép Mới ngày xửa ngày xưa ca ngợi như vậy. Phải công nhận rằng sức bền dẻo dai của cây tre không chỉ ở trong vật dụng của người dân quê vẫn sử dụng hàng ngày. Sức sống lâu bền ấy còn tồn tại trong ký ức những ai đi xa. Tôi đã đi xa làng trên sáu mươi năm. Đã ở lại nhiều nơi, trong nước có, ngoài nước có, mà sao tôi thấy những nơi kia, vốn có những nơi rất sang trọng, không bao giờ hiện về trong những giấc mơ của mình hàng đêm. Ngược lại càng nhiều tuổi, thường mỗi đêm tôi lại càng có những giấc mơ về làng, với những trò chơi thuở thơ ấu, với lũy tre xanh bạt ngàn, ngả nghiêng như say rượu trong chiều gió Lào, với mẹ cha và những người thân thuộc, bên những vật dụng thân thuộc ngày nhỏ! Mỗi lần mơ như vậy là sáng ra lại rủ con cháu lên xe về làng. Đã bao lần ngỡ ngàng khi đêm mơ một nẻo, về nhìn thấy một nẻo. Làng tôi xám ngắt, nhức nhối một màu bê tông tường gạch. Không còn bóng dáng một cây tre. Tại sao trên những con đường làng, lối xóm kia đột nhiên lại thiếu đi bóng những cây xanh, đặc biệt là lũy tre xanh? Xin khẳng định con người trên trái đất rộng lớn của chúng ta, chưa một nơi nào, chưa một phút giây nào sống thiếu cây xanh. Tôi đã từng chứng kiến những thành phố vô cùng rộng lớn, xinh đẹp, với những tháp chuông nhà thờ cổ kính lâu đời nhất thế giới, với những công trình giao thông ngầm (metoro) hiện đại nhất thế giới (thành phố Matxcova), nhưng đến chỗ nào cũng có cảm giác như đang đi trong rừng nguyên sinh. Nhưng những tán cây lớn nhỏ nhiều tầng lớp kia không đứng vô danh. Chúng được đánh số, ghi vào sổ sách “lý lịch trích ngang” từng cây, được chăm sóc xức thuốc, tỉa cành, như thể qua “thẫm mỹ viện” đều đặn hàng tháng. Chúng làm thành một “lá phổi” khổng lồ, mát rượi, xanh um “thưa hồng rậm lục” về mùa hạ, vàng rực “nhuộm màu quan san” về mùa thu, đỏ thắm khi những bông tuyết đầu mùa nhẹ nhàng bay xuống. Cây với người bên nhau thân thiện, đùm bọc như ngàn đời nay đã từng như vậy!
Vậy mà làng tôi, mới mấy chục năm phát triển đã biến mất những lũy tre xanh, những tán cổ thụ. Hình như gió Lào đặc sản quê nhà đang càng ngày càng trở nên bỏng rát, hung hãn thốc qua những bức tường bê tông san sát, ngột ngạt? Hình như làng tôi đang từng ngày trả giá cho cái tầm nhìn quá ngắn của sự sống?. Chẳng lẽ “quỹ đất” đã eo hẹp đến mức ấy rồi chăng? Chẳng lẽ giá đất lên cao chóng mặt nên nhà nhà chặt hết, phá hết để biến mỗi tấc đất thành hàng hóa chăng? Những câu hỏi nhức nhối chắc chắn không riêng gì làng tôi phải trả lời!
Chắc chắn một ngày không xa, khi trong làng những lớp người mới lớn lên, sẽ nếm trải sâu sắc cay đắng sự thiếu vắng do không còn cây xanh bên cạnh, họ sẽ giật mình nhận ra sự mất mát to lớn không gì bù đắp được, như tôi đã từng trải qua sự mất mát không gì so sánh được khi không còn sự che chở của mẹ trên đời!
Tháng 12 năm 2025
L.T.N