Kỷ niệm 260 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2025). Tạp chí Hồng Lĩnh số 231 trân trọng giới thiệu bài viết “Thơ Nguyễn Du sáng tác trong chuyến đi sứ biểu hiện một bản lĩnh văn hóa Việt Nam” của Phạm Tuấn Vũ
Nguyễn Du đi sứ Trung Hoa năm 1813. Đường đi về thật xa, phương tiện đi lại thì thô sơ. Thơ ông cho biết có lúc phải đi vòng để tránh giặc giã. Rồi thì nước lụt ngăn trở. Đi và về gần trọn năm 1813. Có tài liệu còn ghi là chớm sang cả đầu năm 1814. Trong chuyến đi này Nguyễn Du sáng tác 132 bài thơ chữ Hán. Tập thơ mang tên Bắc hành tạp lục. Nó vừa như một nhật ký du hành vừa như một nhật ký tư tưởng của nhà thơ. Một năm trời đi về, chắc hẳn đôi mắt của ngài chánh sứ đã thưởng lãm bao kỳ quan tự nhiên và kỳ quan nhân tạo. Vậy mà thơ ông không cho thấy sự kinh ngạc trước thắng cảnh Trung Hoa. Trái lại những bài thơ đó biểu hiện sự quan tâm đến số phận con người ở những trạng huống khác nhau. Xưa nay thơ được xem là tiếng nói nhuần nhị nhất của tư tưởng tình cảm. Việc thu nhận ngoại cảnh, suy tư xúc cảm về người và việc cho thấy nhà thơ thực sự bộc lộ một bản lĩnh văn hóa của một trí thức – nghệ sĩ Việt Nam.

Tượng Đại thi hào Nguyễn Du - Ảnh: Đậu Hà
Đã có thời mà chữ viết dùng trong sinh hoạt quốc gia của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là chữ Hán. Người các nước này gọi việc đi sứ Trung Hoa là hoa quan thượng quốc (chiêm ngưỡng văn minh của nước bề trên). Không rõ ban đầu đây là cách gọi của chính họ hay của người Trung Hoa?
Đất nước Trung Hoa vô cùng rộng lớn. Người Hán là tộc người chiếm đa số, có nền văn hóa lâu đời và vĩ đại. Tên nước thật giàu ý nghĩa. Trung là phần giữa trái đất. Hoa là văn minh(1). Tự hào về cương vực và dòng giống của mình bao nhiêu, người nước này lại khinh thị bấy nhiêu các quốc gia và các chủng tộc xung quanh. Họ gọi các lân bang là phiên bang (nước làm phên dậu) là thuộc quốc (nước phụ thuộc). Họ gọi các tộc người phía đông là di, các tộc người phía tây là nhung, các tộc người phía nam là man, các tộc người phía bắc là địch. Hán ngữ là ngôn ngữ biểu ý(2). Bốn chữ này đều chỉ những loại người thấp kém.
Liệu những điều tưởng như là mặc định này có ít nhiều ảnh hưởng đến tâm thế của sứ thần Việt Nam?
Chữ Hán và sự hiểu biết qua sử sách về đất nước và con người Trung Hoa thật đắc dụng cho Nguyễn Du trong chuyến đi sứ. Những tên đất, tên người, những di tích lịch sử đoàn sứ bộ đi qua đã làm sống lại những con người của thời đã qua, từ hàng trăm năm đến mấy ngàn năm với những sự kiện lịch sử và nhiều số phận con người xuất chúng. Sơ ngộ (lần đầu gặp) mà như tái kiến (gặp lại). Mỗi cá nhân mang một phần lịch sử như nhà thơ Nga Éptusenkô đã viết.
Những người Trung Hoa mà Nguyễn Du nhắc đến trong Bắc hành tạp lục phần lớn là những nhân vật lịch sử. Chúng tôi sơ bộ đếm được xấp xỉ bốn mươi người. Họ là những nhà ái quốc lừng danh, những trung thần nghĩa sĩ và cả những gian thần gian hùng, những tướng lĩnh và những mỹ nhân... thuộc những thời gian và không gian xa nhau. Nhà thơ còn “đối thoại” với nhiều người. Sợi dây duy nhất tập hợp họ chính là bước chân của đoàn sứ bộ, mỗi bước di chuyển trong không gian là một bước thâm nhập vào lịch sử.
Người Trung Hoa được Nguyễn Du nói đến đầu tiên là Mã Viện. Viên tướng đời Đông Hán này đã từng đem quân sang đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trên đường về nước, đến biên giới, y đã cho dựng cột đồng và nguyền: đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt (cột đồng gãy, Giao Chỉ diệt vong). Miếu thờ y có ở nhiều nơi trên đất Trung Hoa. Trong một lần tiếp sứ thần nước Nam, một hoàng đế Trung Hoa đã đưa sự tích cột đồng Mã Viện để làm nhục. Vế xuất đối(3) của hoàng đế Trung Hoa là: Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (cột đồng đến nay đã bám rêu xanh). Sứ thần khẳng khái đưa ra vế đối đối(4): Đằng giang tự cổ huyết do hồng (Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ). Sự đời vẫn vậy: đòn đưa ra càng mạnh và càng hiểm thì khi bật lại chính kẻ ra đòn là kẻ lĩnh đòn, càng đau. Hoàng đế Trung Hoa nhìn Mã Viện ở tư cách một người đi mở mang bờ cõi, thì ở phía đối diện sứ thần nước Nam thấy Mã Viện là một tên xâm lược. Hoàng đế Trung Hoa nhắc đến công tích của một người thì sứ thần làm sống dậy lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của cả một dân tộc.
Nguyễn Du không bị dồn vào tình thế gay cấn và buộc phải biểu lộ chủ kiến xuất phát từ cảm hứng chính trị như vị đại diện cho nước Nam kia. Với tâm thế điềm tĩnh, nhà thơ nhìn nhận hắn từ nhiều góc độ. Bài thơ Giáp Thành Phục Ba miếu chỉ tám câu mà nói được mấy điều bất như ý của con người này. Ngoài sáu mươi tuổi Mã Viện còn xin nhà vua cho ra trận. Để chứng tỏ mình còn khỏe, y mặc áo giáp nhảy lên mình ngựa. Hành động ấy được vua khen nhưng khiến anh em ở quê nhà thương xót, và dưới cái nhìn của nhà thơ, hành động đó có vẻ tuồng. Đi xâm lược nước Nam, dựng cột đồng chỉ lòe đàn bà đất Việt. Châu ngọc vớ được từ đất ấy đem về lại để lụy cho con cháu. Lẽ ra huân công được ghi ở gác Vân Đài của triều đình mà mình hết lòng phụng sự, vậy mà không được, lại bắt nước Nam cúng tế. Bằng cái nhìn cận cảnh và đa chiều Nguyễn Du đã “giải thiêng” nhân vật này.
Trong bài thơ Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du tự xếp mình cùng hội cùng thuyền với những người đàn bà tài sắc, tất cả cùng phải chịu những nỗi oan lạ lùng: Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Bởi vậy bi kịch của những người đàn bà đẹp tác động thật mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm của thi sĩ. Trong tập thơ này nữ giới xuất hiện không nhiều nhưng thật giàu sức ám ảnh. Đi qua quê cũ của Dương quý phi, Nguyễn Du cảm thương cho một sắc nước hương trời từng được đấng quân vương nguyện cùng làm chim liền cánh, cây liền cành (Trường hận ca của Lý Bạch).
Dương quý phi(5) tên thời con gái là Dương Ngọc Hoàn. Nàng không phải được tuyển vào cung từ khi là thiếu nữ. Nàng là thiếp (vợ lẽ) của một người con vua. Ngay lần đầu tiên trông thấy, đấng chí tôn đã nhận ngay ra đây là vưu vật của tạo hóa. Nàng được đưa về cung, được xếp vào hàng phi(6), càng lộ vẻ quốc sắc thiên hương(7). Nhà vua đã có tam cung lục viện với hàng ngàn người đẹp từ khắp nơi tuyển về. Nhưng tất cả không sánh được với nàng. Vua si mê nàng, chiều chuộng bằng tất cả những điều có thể nghĩ ra, có thể thực hiện được, chẳng hạn cho lấy vàng đúc thành hình hoa trải lối nàng đi, khen rằng mỗi bước nàng đi lại nở một bông hoa (!). Nhân khi vua lơ là việc nước, có kẻ cất quân đánh nhằm tranh đoạt ngôi báu. Vua tôi phải bỏ kinh đô chạy đến nơi xa xôi hiểm trở xưa là đất Thục(8). Người ta cho rằng gây ra cơ sự chính là ... Dương quý phi. Quan quân không chịu đi tiếp, đòi vua phải cho giết người đàn bà này. Trong tình thế đó vua đành thuận theo, dù lòng đau như cắt!
Với Nguyễn Du, Dương quý phi là người dị tộc. Đối với một người tự xếp mình vào hội phong vận kỳ oan, cách bức do thời gian và không gian nào có ý nghĩa gì. Thi nhân chiêu tuyết cho mỹ nhân:
Tự thị cử triều không lập trượng,
Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.
Dương phi cố lý
(Vì cả triều đình như phỗng đứng, nên nghìn năm sau người ta đổ oan cho sắc đẹp khuynh thành - Quê cũ Dương phi). Bi kịch của những người đàn bà sắc nước hương trời càng có tác động mạnh, giống như tấm áo càng tinh khôi thì vết lấm càng rõ. Ở Trung Hoa thơ viết về mỹ nhân này và về tình sử Dương quý phi – Đường Minh hoàng nhiều. Không biết có ai nghĩ như thi nhân đến từ phương Nam?
Nguyễn Du đến từ một nền văn hóa khác có nhiều giá trị đặc thù nên các nhân vật và sự kiện lịch sử Trung Hoa hiện lên dưới cái nhìn thấm nhuần tinh thần phản biện. Người Trung Hoa có câu cách ngôn cái quan định luận (đậy nắp quan tài rồi mới phán xét người ta được). Những con người và sự kiện được nói tới trong tập thơ này đều có khoảng cách thời gian lớn, sự đánh giá của người nước này với các giá trị đó đều đã ổn định. Vậy mà trong thơ của thi nhân nước Nam các giá trị đó lại có những ý nghĩa mới nhiều khi rất bất ngờ và tất nhiên sâu sắc hơn.
Trong tập thơ này Khuất Nguyên là tấm gương trung quân ái quốc thuộc thời xa xưa nhất (và cũng là một trong những tấm gương trung quân ái quốc đẹp nhất của đất nước rộng lớn có lịch sử mấy ngàn năm). Tập thơ có năm bài nhắc đến Khuất Nguyên. Những điều tâm huyết của Khuất Nguyên nhằm hộ quốc yên dân không được vua Sở đoái hoài, trái lại nhà vua bị bọn gian thần lung lạc. Nhà ái quốc vĩ đại thời cổ ấy đã phản ứng quyết liệt: gieo mình xuống sông Mịch La, hy vọng cái chết của mình sẽ làm nhà vua hồi tâm chuyển ý. Không biết triết lý sát thân thành nhân có phải bắt đầu từ đây không? Vị danh sĩ đời sau là Tống Ngọc thương cho hồn phách kẻ cô trung sắp tiêu tán nên làm bài từ gọi hồn về. Mọi việc xem ra đã thấu tình đạt lý. Nguyễn Du viết Phản chiều hồn đưa ra một ý tưởng độc sáng:
Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan,
Đại địa xứ xứ giai Mịch La
(Đời sau này này, ai ai cũng gian nịnh như Thượng Quan Ngân Thượng, trên mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La). Theo Nguyễn Du, cái xấu cái ác ngày càng nẩy nở. Nếu có điều kỳ diệu khiến hồn phách trở lại thì cũng không có chỗ nương náu. Nhãn quan văn hóa của người Việt Nam mang tên Nguyễn Du khi dõi vào cõi siêu hình thì cuối cùng cũng trở về cuốc sống nơi mặt đất đang đầy khổ đau.
Tinh thần phản biện ở Nguyễn Du có lúc làm thay đổi cả chuẩn mực nhân sinh Trung Hoa. Từ rất xa xưa người nước này đã có phạm trù hiền nhân (người hiền) để chỉ những người có tài đức siêu việt. Đời Tấn có người tên là Lưu Linh thích uống rượu, không quan tâm đến thế sự. Người đời đánh giá cao cách hành xử đó, tôn là người hiền. Nguyễn Du đánh giá khác, khác đến mức đối lập:
Lưu Linh chi tử bất thành tài.
(Gã họ Lưu chẳng ra trò trống gì – Lưu Linh mộ)
Nhà thơ không tán đồng cách nhìn đời bằng con mắt của người say vì nó xuyên tạc mọi sự, và:
Hà sự thanh tinh khan thế sự,
Phù bình nhiễu nhiễu cánh kham ai.
(Sao bằng cứ để tỉnh mà xem, việc đời như những cánh bèo nổi trôi dạt rất đáng thương). Xưa nay văn hóa Việt Nam không đề cao lối sống độc thân kỳ thân (giữ cho riêng mình trong sạch) vô trách nhiệm với xung quanh. Sống như thế khác gì ông phỗng trên hòn non bộ?
Quan niệm tỉnh táo để nhìn cuộc đời không chỉ như một tuyên ngôn mà thể hiện ở các bức tranh đời sống trong tập thơ. Ngay sau bài thơ này là bài Sở kiến hành (Những điều trông thấy). Bài thơ dài hơn bốn mươi câu như một thiên phóng sự về cảnh cùng quẫn của một người mẹ và ba đứa con. Bốn mẹ con và ông già mù ở châu Thái Bình là những người cùng thời với nhà thơ. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ viết về họ: Đây là những người cùng khổ. Thật đau lòng khi người ta thấy mình đã thuộc về cõi chết ngay từ khi còn sống! Người mẹ đã hình dung đến cảnh mấy mẹ con chết đói nơi ngòi rãnh, máu thịt nuôi sài lang, vậy mà lũ trẻ cứ vô tư đùa nghịch. Trông lên chỉ thấy mặt trời vàng úa vô tình. Nhà thơ đặt câu hỏi đầy phẫn uất:
Thùy nhân tả hữu đồ,
Trí dĩ phụng quân vương?
(Ai vẽ được bức tranh này dâng lên nhà vua?)
Sự phản ứng thật quyết liệt, truy vấn đến tận cửu trùng!
Chúng ta còn nhớ Truyện Kiều sử dụng cốt truyện Trung Hoa, vậy mà nhân vật Từ Hải còn khiến một vị vua nhà Nguyễn nóng mặt. Đấng cửu trùng được nói đến trong Sở kiến hành đương nhiên là ở Trung Hoa, nhưng ai biết được việc này không làm vua nhà Nguyễn bị chạm nọc vì chính thể đương thời chuyên chế bậc nhất trong lịch sử ngót ngàn năm của phong kiến Việt Nam.
Từ xa xưa người Việt Nam cho rằng các tộc người trên dải đất chữ S này có chung một nguồn gốc cao quý. Hàng ngàn năm chung lưng đấu cật chống chọi với thiên tai và với địch họa bồi đắp tình nghĩa đồng bào, làm nên một giá trị cao quý trong văn hóa Việt Nam: truyền thống thương người như thể thương thân, và khi thấm nhuần văn hóa Việt Nam tình cảm ấy còn tự nhiên mở rộng ra thành tình thương yêu đồng loại.
Từ trong bản chất, văn hóa Việt Nam thấm nhuần đức hiếu sinh. Có những tác phẩm văn học Việt Nam thời trung đại viết về giao tranh giữa các phe phái trong nước với tinh thần bất cộng đái thiên(9), tất có người thắng kẻ thua nhưng chúng ta không thấy ở đâu kể “làm cỏ cả thành”. Trong khi đương thời sử sách Trung Hoa viết về việc này nhiều và tự nhiên đến nỗi không tạo nên ấn tượng quá đặc biệt. Đức hiếu sinh còn thấm nhuẩn trong chính sách đối với tù binh và hàng binh ngoại quốc, tiêu biểu là thời khởi nghĩa Lam Sơn.
Một nhà thơ đời Đường đã viết: Nhất phiến công thành vạn cốt khô. Câu thơ của Nguyễn Du Dãi thây trăm họ làm công một người (Chiêu hồn thập loại chúng sinh) có thể dùng làm lời dịch câu thơ trên (và ngược lại) đủ tiêu chuẩn tín, đạt, nhã. Trong bài thơ Chu lang mộ, Nguyễn Du cũng gọi Chu Du(10) là anh hùng nhưng mỉa mai:
Thiêu tận Tào gia bách vạn binh,
Trượng phu sai túc úy bình sinh!
(Thiêu sạch trăm vạn binh của họ Tào, kẻ trượng phu kể cũng đã thỏa chí bình sinh). Không biết khi viết những dòng này nhà thơ có liên tưởng đến sự trả thù của Nguyễn Ánh đối với nhà Tây Sơn. Tột đỉnh man rợ. Tột đỉnh hèn mạt!
Đọc Truyện Kiều Mộng Liên Đường chủ nhân cho rằng tác giả của nó – Nguyễn Du, có “con mắt trông thấy cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”. Những lời này cũng thật thích hợp để nói về thi hào khi viết Bắc hành tạp lục. Thơ Nguyễn Du sáng tác khi đi sứ ít thể hiện con người tác giả ở tư cách con người công vụ. Nhà thơ được đặt trong nhiều mối quan hệ đời sống, từ đó bộc lộ những giá trị văn hóa có hệ thống, ở tầm cao khiến chúng ta tự hào.
P.T.V
_____________
(1) Khác chữ hoa chỉ một bộ phận của cây.
Trong không ít tình thế, tinh thần tự tôn dân tộc này trở nên lố bịch. Chẳng hạn thời cận đại, khi thất bại trước người phương Tây, phải nhượng đất làm tô giới và chịu nhiều điều nhục nhã khác, người Trung Hoa vẫn cố vớt vát thể diện. Họ gọi người phương Tây là hồng mao (lũ lông đỏ). Phát là tóc người. Mao là lông động vật.
Phim Tể tướng lưng gù có cảnh giữa buổi chầu một viên quan Trung Hoa vạch áo sứ thần phương Tây để ... đếm xương sườn, sau đó đắc ý nói: ít hơn xương sườn của người Trung Hoa chúng ta!
Văn hào Lỗ Tấn thể hiện sinh động và sâu sắc quốc dân tính này bằng nhân vật A.Q (trong A.Q chính truyện). Bảo tàng văn học Trung Quốc không ít lần được sắp xếp lại, tùy theo thời tiết chính trị. Riêng vị trí danh dự của Lỗ Tấn không một cá nhân hay phe phái nào dám đụng đến.
(2) Hình dạng chữ mô phỏng thực thể mà nó biểu hiện.
(3) (4) Người xưa cho rằng xuất đối dị, đối đối nan (đưa ra vế để người khác đối dễ, đối lại khó).
(5) Nghĩa là nàng phi họ Dương. Quý là từ tôn xưng.
(6) Những người đàn bà của vua được chia thành:
- Hậu (thường không phải chỉ một người)
- Phi: gồm nguyên phi và thứ phi (nhiều người)
- Tần: hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người
(7) Nàng được người Trung Hoa tôn là một trong bốn người đẹp nhất (tứ đại mỹ nhân) của lịch sử nước này.
(8) Thơ Lý Bạch: Đường vào Ba, Thục khó như đường lên trời.
(9) Không đội chung trời.
(10) Một viên tướng lừng danh thời Tam Quốc.