Tạp chí Hồng Lĩnh số 231 trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Để nó bay đi rồi nó lại bay về” của tác giả Nguyễn Thị Hương Liên (Tác phẩm tại Trại sáng tác 2025 khu vực phía Nam Hà Tĩnh)
Trời chuyển dần về sáng. Lão Mộc trở mình với lấy chiếc chăn mỏng đắp ngang bụng vì thấy lành lạnh. Bên ngoài, trời sương giăng bàng bạc, thoảng nghe hơi may về trong gió sớm. Cứ đà này, chỉ dăm mươi ngày nữa là cò vạc bay về. Lão vẫn tự hào quê lão hội tụ đủ các yếu tố cần và đủ để đàn chim trên đường di cư về phương nam tránh rét nghỉ chân. Thì đây, phía trước cánh đồng rộng mênh mông là đầm nước lớn lao xao tôm cá, ở giữa có lùm cây trải ra như đảo nổi là chỗ dừng nghỉ lý tưởng của các loài chim khi cần nạp thêm năng lượng cho chuyến đi dài. Bởi vậy, khi ngọn gió mang hơi lạnh thổi về là cả một vùng quê vốn yên tĩnh của lão bắt đầu chấp chới bóng chim cò chao chát. Lão Mộc mải mê mường tượng cảnh những loài chim đông đúc, chen nhau trong các vòm cây rỉa lông cánh, chí chóe trêu đùa hoặc chuyện trò ỏm tỏi sau khi đã chén đẫy mồi tôm, cua, cá, ốc, mò được trên cánh đồng hoặc dưới đầm. Rồi khi đêm xuống, cả khu đầm yên tĩnh chìm sâu vào giấc ngủ, chỉ thỉnh thoảng nghe tiếng đập cánh của chú chim nào đó trượt chân mất chỗ đậu hoặc tiếng khào khào của những chú cò bợ mớ ngủ. Cái cảnh ấy, với những tạp âm ấy, năm nào cũng tái hiện, thân quen đến nỗi nó như là một phần cuộc sống của lão không thể tách rời, đã ngót nửa đời người gắn bó. Những ý nghĩ về đàn chim di cư sắp trở lại làm lão Mộc thấy lòng mình thư thái hẳn. Lão chìm vào giấc ngủ mật.
Bỗng lão Mộc choàng dậy. Bên ngoài láng máng có tiếng chim tiếng cò nhao nhác. Chẳng lẽ lũ chim di cư đã về rồi ư? Mà về thì vì sao lại kêu táo tác như có động vậy? Đã bao đời nay, khi lũ chúng nó trở về đây, lùm cây, đầm nước luôn đón chào chúng như đón những người thân yêu đi xa trở về, hân hoan và nồng ấm. Vậy hà cớ gì chúng lại kêu, âm thanh nghe loạn lạc đến vậy? Đang mung lung nghĩ, lão nghe bên ngoài bỗng có tiếng lịch bịch như có người ném vật nặng xuống đất. Rồi tiếng chim cò kêu thất thanh, hốt hoảng, gấp gáp. Lão Mộc nhanh chóng trở dậy bước ra sân.
Trời lúc này đã mờ mờ sáng. Lão dụi dụi mắt đến mấy lần mà vẫn không tin nổi. Thằng Mỗ con trai lão cùng lũ bạn nó, mỗi thằng xách một túm chim trời, vứt đánh bịch xuống góc vườn, cười nói như chợ vỡ. Lão Mộc ngạc nhiên hỏi:
- Chim ở đâu vậy ?
- Chim trời về sớm - Thằng Mỗ cộc lốc. Nó nói thêm- ngày đầu tiên, coi như tạm ổn. Mẹ kiếp! ngồi chờ chim suốt đêm, chỉ trông chim ỉa trên đầu mà mỏi mê chê chán. Đầu mùa, chim mới về ít. Ít thì ăn ít. Chúng mày, thằng nhổ lông, thằng nhóm lửa, mỗi đứa một việc! Làm ngay đi!
Lão Mộc gầm lên:
- Ai ăn thịt bây mà bây ăn thịt hấn? Bọn bây không nghe lệnh cấm à?
Thằng con trai lão cười lớn:
- Sao hôm nay bố lại hỏi thế? Mọi lần bố vẫn ăn mà.
Rồi nó quay sang quát:
- Nhanh tay lên chúng mày!
Lão Mộc cáu:
- Bọn bây có biết làm thế chẳng khác nào tự mình chặn bớt đi một con đường sống của mình không?
Thằng con lão nổi cáu:
- Gì mà bớt đi một con đường sống? Chỉ mấy con cò con vạc, mình không ăn thì người khác cũng ăn. Nó bay về đây nộp mạng cho mình thì mình ăn. Chuyện nhỏ như con thỏ! Có gì mà bố cứ làm ầm ĩ, rách việc!
Lão Mộc im lặng. Đúng là ngày xưa đói khổ, lại không có hiểu biết, nên cái gì cũng ăn, con gì cũng ăn. Nhưng nay khác rồi. Đến như lão còn hiểu ra được rằng con người muốn tồn tại bền vững thì phải sống hòa thuận với muôn vật muôn loài dưới mái nhà chung là trái đất. Vậy mà bọn trẻ, không phải chúng không hiểu mà bất chấp, làm liều. Nói với bọn trẻ đang hăng máu lúc này chẳng khác gì nước đổ lá môn.Thôi để hôm khác lựa lời nói với chúng nó vậy. Lão nhìn túm chim bọn trẻ ném ở góc vườn chờ vặt lông. Con nào con nấy đều bị xâu mắt bằng chính cái lông cánh của nó. Xâu thế để chúng không còn nhìn thấy mà mổ vào mắt người khi vặt lông. Bỗng lão Mộc khựng lại. Trước mắt lão là một con cò nhỏ đứng bên cạnh một con cò lớn có lẽ là cò mẹ. Chắc nó quá nhỏ nên lũ trai làng không thèm xâu mắt. Cò con cứ dụi mãi cái mỏ bé xíu vào cánh, vào cổ cò mẹ, cặp mắt ngơ ngác như muốn hỏi điều gì đang xẩy ra. Cò mẹ giơ cái cánh bị trói trượt, vuốt qua vuốt lại trên đầu cò con như muốn vỗ về để nó đỡ sợ. Bỗng lão như nghe tiếng cò con hỏi:
- Mẹ ơi con đói lắm. Sao chúng ta lại ở đây? Mà mắt mẹ bị làm sao thế kia? Con sợ lắm.
Chỉ thấy cò mẹ yên lặng. Hai mắt nó rịn ra hai giọt nước đỏ hồng như máu.
Lão Mộc chợt lóe lên ý nghĩ: ta phải cứu lấy con chim con kia. Để nó bay đi rồi nó lại bay về!
*
Thằng Mỗ thuê máy về san đất ven đầm thành bãi để làm quán. Chỉ trong khoảng tuần lễ, bãi rậm rì lau lách đã được san ủi, là bằng, sẵn sàng cho công việc xây dựng. Cơ man là gỗ được kéo về. Nó bảo với lão Mộc:
- Thời buổi này, người ta thích của lạ, không ai chơi kiểu lạc mốt như thời bố già nữa đâu. Lạ và sang chảnh mới là thể hiện đẳng cấp của dân chơi sành điệu.
Lão Mộc có vẻ cáu:
- Cẩn thận không thừa đâu con ạ. Không khéo lại “ của thiên trả địa” đấy.
Thằng Mỗ cười lớn:
- Chuyện nhỏ như con thỏ. Bắt vài con chim, chặt vài cây gỗ dựng quán để làm kế sinh nhai có gì mà thiên với địa. Con sẽ kiếm công ăn việc làm cho cả làng, cả xã này, họ sẽ giàu lên nhờ con. Rồi bố xem!
.jpg)
Minh họa: QUỲNH VÂN
Thằng Mỗ hoa chân múa tay hùng hồn như đang diễn thuyết trước đông người. Nó bảo nó sẽ dựng quán toàn bằng gỗ, kiểu nhà sàn. Chặt tre, luồng về ghép bàn ghế cho ra vẻ nhà quê. Nó biết khối kẻ ở thành phố bây giờ sính chữ QUÊ. Rau quê. Gạo quê. Cá quê. Thịt quê. Đỗ lạc quê. Và cả gái quê. Ngày nghỉ, họ tìm về các miền quê để nghỉ ngơi, hưởng thụ cũng là một cách chứng tỏ sự sang chảnh của mình. Quê nhưng lại phải cao cấp. Nó bảo nó sẽ thuê các em xinh đẹp phục vụ quán cho thực khách thư giãn. Nó sẽ thuê đầu bếp xịn về nấu nướng. Và cuối cùng nó sẽ đặt tên là QUÁN CHIM QUÊ TO DẦN.
Thằng Mỗ hỏi lão Mộc:
- Bố có biết “chim quê to dần” là như thế nào không?
Lão Mộc đỏ mặt tía tai:
- Anh tưởng tôi không biết chắc?
Thằng Mỗ cười tủm:
- Không phải như bố nghĩ đâu. “Chim quê to dần” là khách vào quán, sẽ được thưởng thức món chim nhà quê ăn tuần tự từ con nhỏ đến con to, từ chim sẻ, chim én, đến cò, vạc, vân vân. Tóm lại, ăn lúc nào chán thì thôi.
- Thế mày lấy đâu ra nhiều chim thế?
Thằng Mỗ tinh tướng:
- Ôi dào! Thiếu gì! Bố không thấy mỗi khi gió heo may thổi thì không biết cơ man nào là chim bay về phương Nam tránh rét đều dừng nghỉ ở vùng ta sao? Có năm, cả đàn chim én dày như một đám mây lớn sà xuống kín đen cả cánh đồng làng. Lũ chim đi tránh rét vốn đã dự trữ cho mình một lớp mỡ nên rất béo. Chim ấy mà phi hành mỡ rồi rán giòn lên thì phải biết. Không ăn cũng phí của trời. Để phòng trái vụ khan hiếm, chính vụ ta thu mua rồi cấp đông để dành. Bố có thấy cả chục cái tủ đá loại lớn dùng để dự trữ cho mùa hè không? Dư sức phục vụ thượng đế các kiểu.
Lão Mộc im lặng. Lão không đồng tình với thằng Mỗ nhưng không đủ lý lẽ để can ngăn nó.
Thế là đầm trở thành bãi và biến thành công trình xây dựng rộn rịp ngày đêm. Cả một bãi gỗ cao chất ngất, toàn cây ba bốn người ôm không xuể. Tre luồng cũng theo đó chảy về để ngan ngát cả một bãi rộng. Cưa xẻ đục đẽo ồn ào mấy tháng trời, cuối cùng quán cũng làm xong. Đó là một tổ hợp nhà quán đỏ au, thơm nức mùi gỗ mới với tấm biển to đẹp QUÁN CHIM QUÊ TO DẦN cách cả cây số vẫn nhìn thấy.
Ngày khai trương, ồn ào, tấp nập thực khách. Mùi chim quay, chim rán, mùi bia rượu lấn át cả mùi đầm ao vốn tanh tưởi bao đời. Dàn gái trẻ phục vụ đã được thằng Mỗ lựa chọn, cho đi học nghề ở thành phố, xinh tươi, chuyên nghiệp, phục vụ tận tình. Người ta đến để ăn, đến để mừng thằng Mỗ và cũng có người đến để thỏa chí tò mò ham của lạ. Quán nườm nượp khách ngày đêm.
*
Làng của lão, một làng thuần nông bao đời sống yên ổn, hiền lành và có phần cam chịu. Thu nhập chính của làng là các sản phẩm làm ra từ đất đai, từ công sức cuốc bẫm cày sâu. Họ không có những suy nghĩ táo bạo hay đột phá để làm khác đi những quy tắc có tự bao đời. Bởi vậy, quán của thằng Mỗ mọc lên giống một sự lạ, khiến nhiều người tò mò. Nhất là khi thằng Mỗ phát lệnh thu mua các loài chim trời thì thật sự giống một cuộc cách mạng đổi đời. Người ta bỏ bê cả công việc thường ngày, bỏ bê đồng ruộng, để đi bắt chim. Không có việc gì không phải bỏ vốn mà lại có tiền nhanh như đi bắt chim trời. Khắp nơi, trên cánh đồng, trên các lùm cây, trên các bãi ven sông, đâu đâu cũng thấy bẫy. Bẫy đơn dùng để bắt chim to như những con diệc mốc thích đậu lẻ bầy để kiếm con cá lớn. Bẫy kép để tránh những con sẩy chân. Bẫy lưới mỗi khi đã sập xuống thì cả bầy chim sẻ đen đặc cũng khó lòng mà thoát. Bẫy nhạ thường gắn với cò mồi bằng gỗ để dụ những chú cò ham vui. Lại có bẫy dùng máy thu tiếng chim rồi phát, lừa những con chim ngờ nghệch. Thôi thì muôn hình vạn trạng, mỗi loại bẫy phù hợp với tập tính của các loại chim, sao cho có hiệu quả nhất. Làng đi bắt chim mà như hội hè, ồn ào, đông đúc. Đi qua đêm, sáng ra đã có tiền bỏ túi.
Mùa heo may năm ấy vắng lặng tiếng chim trong các lùm cây ngoài đầm nước, trên các bãi ven sông.
*
Nắng trút xuống như đổ lửa. Bầu trời suốt ngày cứ ùng ục như sắp mưa mà không mưa nổi. Cây lúa nghẽn đòng khó nhọc mùa sinh nở. Đã thế, từng đàn cào cào, châu chấu kéo về rợp trời. Chúng bám đu còng cả cây lúa, ăn cho lá đến trơ xương. Chưa hết, trên mặt ruộng, những cái kén ốc bươu vàng, đỏ quạch, bám dày li lít. Chỉ có người già ra đồng vợt cào cào, bắt ốc bươu. Người trẻ còn mải mê đánh bẫy bắt chim. Đồng ruộng bỏ bê không còn được chăm bón như trước nên còi cọc, giờ thêm nạn thiên tai coi như xóa sổ. Giàu đâu không thấy, chỉ thấy cái đói, cái nghèo giăng mắc khắp nơi. Tiền bắt chim rồi cũng theo nhau bay đâu mất.
Trước quán thằng Mỗ, từng đoàn người đứng ngồi lô nhô chờ để bán chim. Chim bán theo chục. Có đến năm sáu người thu mua nhưng vẫn không kịp. Tiếng nói chuyện ồn ào, tiếng người tranh nhau bán trước, tiếng ngáp dài vì cả đêm không ngủ, tất cả tạo thành một tạp âm kéo dài gần hết buổi sáng. Trong khi đó, ở trong quán, tiếng mỡ bắt đầu sôi reo, mùi chim nướng, chim quay, thơm lựng. Những cái bụng lép kẹp ngọ nguậy làm tỉnh hẳn cơn buồn ngủ. Đám người bắt chim tràn vào quán. Số tiền bán chim cồm cộm ở trong túi thôi thúc. Là đàn ông mà. Hơn nữa phơi sương phơi gió cả đêm, có tí rượu mới tươi con người, mới xua tan âm khí, có sức mà chiến đấu tiếp. Tiệc chim rượu kéo dài quá trưa, không say không về. Tiền hết mai lại có.
Ở một góc, đám phụ nữ vặt lông chim thuê kháo chuyện ầm ĩ. Chuyện người chồng làng bên, sau khi bán chim xong, uống rượu say mèm, vừa đi vừa hát bài hát của người say, đến nỗi lăn tòm xuống cống.Vợ con nghe tin, đánh xe bò ra, vớt bố lên, lấm lem bùn đất mà vẫn ngủ. Về nhà, thả bố lên nền giếng, múc nước dội. Đến khi sạch sẽ, hóa ra là ông hàng xóm. Hay ở xóm dưới, có ông cụ đã ngoại thất tuần, đêm hôm con cháu đi bẫy chim hết. Nửa đêm, có cô gái vào nhà xin ngủ nhờ, ông cụ táy máy của lạ rồi ngủ thẳng cẳng. Sáng ra, mấy bì thóc để ở góc nhà cùng cô gái biến mất. Rồi nhà nọ, chồng đi bẫy chim từ tối trước, nửa buổi sáng hôm sau mới về, say lử lả, xông vào đấm đá vợ, bị nó bắt trói vào chân giường, lạy như tế sao.
Những người đàn bà vặt lông chim thuê kể chuyện và cười vô tư - những câu chuyện có thật ở quê lão từ khi xuất hiện quán chim. Làn gió quẩn thổi đám lông chim bay lả tả trắng xóa quyện tiếng cười hồn nhiên của họ, mờ mịt trong ánh nắng lúc non trưa.
Riêng lão Mộc không cười được.
Lão Mộc dạo này sinh chứng khó ngủ, đêm cứ trằn trọc mãi mới chợp mắt nhưng rồi lại tỉnh lại ngay sau đó. Quá nửa đời người sống với mảnh đất này, lão thuộc từng gốc cây, ngọn cỏ, thuộc cả hơi thở của những luống cày gắn với từng mùa vụ. Tuổi thiếu niên, lão đã cầm cày thuần thục. Lớn lên một chút, đã là thợ cày có tiếng cày thuê khắp đồng cạn đồng sâu. Lão nhớ lời bố lão: thợ cày như người gieo duyên lành cho đất. Lật luống cày là đánh thức mùa màng đang ngủ yên trong lòng đất để hạt giống sinh sôi. Đất là cái kén nuôi muôn loài muôn vật, là chốn đi về, là nơi chứa đựng tất thảy những gì nó có, những gì nương nhờ trên đó. Bởi vậy, vạn vật phải có bổn phận làm đầy cho đất, giống như nước làm đầy dòng sông, sông làm đầy biển cả, tuyệt đối không được bao giờ làm tổn thương đất. Rồi cả việc xao nhãng đồng áng, chạy theo mối lợi chim trời trước mắt, chẳng khác nào ghẻ lạnh với đất đai. Đấy, cứ xem trận họa châu chấu và ốc bươu vàng thì biết. Trận đại họa qua rồi nhưng đất đai cứ buồn hiu vì vắng hơi người. Loạn lạc sinh ra bởi lòng người bất ổn, tham lam, và chớ quên rằng “họa vô đơn chí”.
Lão Mộc đi đến một quyết định. Vào một đêm thanh vắng, lão dốc lòng tâm sự với thằng con trai, bảo nó dừng lại. Thằng Mỗ nghe xong cười lớn:
- Dừng là dừng thế nào? Tôi không làm thì thằng khác cũng sẽ làm. Tôi có lấy của ai đâu mà bố lo. Của trời, của đất, thằng nào lấy được thì cứ lấy. Vớ vẩn.
Rồi nó đứng dậy. Trước khi phủi đít bước đi, còn nói với lại:
- Để yên cho tôi nhờ !
Lão Mộc nhìn thằng con đi xa dần, vẻ thất vọng lộ rõ trên gương mặt.
Phải công bằng mà nói, cái quán của thằng Mỗ như gãi đúng chỗ ngứa của dân chơi. Lượng khách đến quán ngày càng lớn. Để phục vụ các thượng đế, thằng Mỗ quyết định mở rộng quán.
Hồ tiếp tục bị lấp. Lần này thằng Mỗ cho mở rộng qui mô cả trên cạn và dưới nước. Một hệ thống nhà nổi hoành tráng được dựng lên, trải dài đến cồn cây giữa đầm. Cả góc đầm giống như một thành phố thu nhỏ, đèn xanh đèn đỏ nhấp nháy ngày đêm. Xe cộ không lúc nào ngớt. Đám con gái mắt xanh mỏ đỏ cũng theo đó kéo về đông đúc.
Lão Mộc thêm phần lo lắng. Lão biết, trái vụ chim, quán không thể nào đáp ứng được nhu cầu của thực khách. Thằng Mỗ cho nhập hàng trôi nổi về, có những khi lão nhìn thấy những thùng hàng làm sẵn giống vịt con, nhợt nhạt, trắng ởn, bốc mùi hôi thối nhưng khi đem tẩm ướp chiên rán lên thành chim sẻ, chim én, thành đặc sản.
Thằng Mỗ trúng mánh lớn. Từ quán chim, nó gặp gỡ bắt mối làm ăn với đủ hạng người.
Đầm nước bị lấp phân nửa. Rác thải, lông chim, trăm thứ cặn bã được dông thẳng xuống hồ. Ngày nắng, nó bốc mùi hôi thối. Ngày mưa không còn dòng chảy, tràn lênh láng, tràn ra cả cánh đồng. Lúa má, hoa màu chết từng đám.
*
Trời mưa như trút. Mưa từ sáng đến đêm không ngớt. Mưa như chưa bao giờ được mưa vậy - lão Mộc lẩm bẩm một mình. Lão soi đèn nhìn ra sân, lạ chửa, nước ở đâu mà nhiều thế không biết. Ở vùng này chưa bao giờ có lụt lội chứ đừng nói lũ. Lão tỏ ra lo lắng.
Gần sáng, bỗng nghe tiếng ầm ầm như núi chuyển. Rồi lại có tiếng nước như thác sôi réo. Chết cha, nước đã tràn vào nhà. Khắp thôn xóm, tiếng người gọi nhau nhao nhác trong tiếng nước chảy xiết, gầm réo. Lão Mộc vội vàng trèo lên nóc nhà bụng nghĩ đến thằng con trai ngoài quán không biết có làm sao không. Lão lật mấy viên ngói ở nóc thò đầu ra ngoài. Trời vẫn trút nước ầm ầm như giận dữ, khắp bốn phía bằng lăng màu trắng xóa. Nước ngập tận các nóc nhà. Cả làng vừa nãy í ới gọi nhau giờ lặng tờ. Chỉ nghe tiếng nước hả hê gào rú. Dân làng lão đã trôi hết rồi sao? Đang hoang mang tự hỏi, bỗng lão thấy căn nhà của lão chuyển động, lúc đầu nhè nhẹ, nhè nhẹ rồi sau đó lao vun vút, vun vút. Lão nhắm nghiền mắt sợ hãi. Đám gỗ lạt, cây cối từ trên thượng nguồn đổ về, theo dòng chảy đâm thúc vào ngôi nhà đang trôi với tốc độ chóng mặt của lão làm nó giật mạnh chao đảo. Lão cố bám chắc vào kèo gỗ để khỏi bị nước rứt ra cuốn trôi, cầu mong một sự may mắn nào đó trong cơn đại họa. Cả người lão ướt sũng, rét run cầm cập. Lão thấy dân làng ngụp lặn trong bùn đất, ngắc ngoải. Và kia, thằng con trai lão đang chới với giữa dòng nước đục ngầu giận dữ. Lão nghe như có tiếng gọi: bố ơi, cứu con với! Mọi tức giận về thằng Mỗ tan biến. Lão Mộc đưa tay định cứu con nhưng không kịp, thằng Mỗ bị một đám đất đá, cây cối chảy như thác, cuốn mất. Lão chưa hết bàng hoàng thì bỗng, ngôi nhà lắc mạnh, trôi vào xoáy nước như họng một con quái vật đen ngòm và mất hút trong nháy mắt. Lão Mộc tuột tay khỏi chỗ bám, va vào vật cản đau điếng.
Cú va chạm làm lão tỉnh ngủ hẳn, vùng dậy khỏi giường, đầu nặng như đá đeo. Thì ra lão nằm mơ, cơn mơ thật kinh khủng.
Kể từ đêm nằm gặp ác mộng ấy, lão Mộc như người mất hồn. Lão thường thơ thẩn khắp đồng, khắp bãi. Có khi lão ngồi hàng giờ bên góc đầm nước còn sót lại. Có khi người ta thấy lão trò chuyện với những cây lúa, cây màu, nước mắt nước mũi giàn giụa. Biết đến bao giờ lũ chim cò lại bay về, bước chân kiếm mồi của chúng sẽ lại làm ấm chân cây lúa.
Có tin thằng Mỗ bị lừa và vỡ nợ, bỏ trốn biệt tăm tích.
Lão Mộc lo cho thằng Mỗ đến gầy rộc. Trong những đêm trường thao thức, lão nghĩ về những chuyện thằng Mỗ đã làm, rằng ở đời có vay phải có trả.
Lão cầu mong cho thằng con trai lão đang trôi dạt ở phương trời nào được bình an. Cầu mong nó thành người tử tế và sớm ngộ ra phàm ở đời, không có việc gì là chuyện nhỏ.
Quán chim bị dẹp, nhưng làng xóm vẫn xác xơ như vừa qua cơn bão lớn, biết bao giờ hồi sức.
Lòng trĩu nặng, lão ngước nhìn lên bầu trời. Một cánh cò trắng chao nghiêng, lượn mấy vòng rồi đậu xuống bụi tre trước ngõ.
Chân trời, làn sương mỏng bàng bạc vắt qua báo hiệu thời tiết chuyển mùa.
N.T.H.L