Tạp chí Hồng Lĩnh số 235 trân trọng giới thiệu truyện ngắn ngắn “Liếc dao lên trăng” của Nhụy Nguyên
Xe khách thả tôi ở cầu Nghèn, nửa khuya rồi. Hai năm trước gặp bác xe ôm ngồi ở quán trà chừng tảng sáng, bác chở tôi đến ngõ nhà rồi đọc số điện thoại nói lúc nào con về thì gọi, mấy giờ bác cũng dậy đi. Tôi lưu dãy số, giờ gọi thử, bác vẫn nhớ.
Cái bắt tay đầm ấm nhà quê. Chúng tôi qua một cây cầu nhỏ mới xây nối vào cung đường tắt. Đường chính rải nhựa vài năm đã ổ gà lổn nhổn, đất đỏ từ những vũng lớn bắn cả lên quần hai người. Bác nói có lần định ghé vào nhà con; bác chào là mẹ con nhận ra liền, nói lâu rồi nó không về. Lần này tôi chưa về thẳng nhà.
- Bác cho con dừng ở mộ tổ Đặng Đức nha. Bác biết không ạ?
- Ai không biết mộ tổ đó con, khánh thành hai năm trước khách dự đông lắm.
Tôi nhớ lại lời mời của ông trưởng Họ qua điện thoại, bảo tôi về bằng được…
- Dạ, Đặng Đức là tổ họ Đặng bên mẹ con. Ngài lập đền thờ hai cha con Đặng Dung và Đặng Tất. Đặng Dung lần bị giặc đuổi chạy ngang chỗ mộ tổ giờ, nghỉ ở đó lấy sức, máu loang một vũng.
Gió thốc vào mặt, mùi gốc rạ mục ẩm lùa vào từ cánh đồng hai bên. Đèn xe mờ mờ quét lên cung đường loang lổ.
- Ờ. Mộ tổ xưa là cái nấm nhỏ, giờ Họ mới vận động làm bề thế như vậy. Bác đi qua đó không biết mấy trăm lần, ngang nhà con cũng thế, bác quen từng ngõ. Mộ tổ thì vài lần bác dừng quán nước đối diện nhìn qua rồi. Mà, mộ có đúng chỗ đúng người thật không con? Là bác muốn nói chiến tranh loạn lạc, vật đổi sao dời…
Xe đến khúc rẽ, bác giảm ga. Tôi thấy gần tới rồi, câu chuyện này chắc dài lắm nên chưa muốn kể những gì mình biết. Thật ra tôi cũng có nghi hoặc, không biết ngài tổ Đặng Đức có phải là con ruột của Đặng Tất không, tư liệu tôi có chưa thể kiểm chứng; đây chỉ là lời của người dân trong làng trong Họ thôi. Bác dừng ngay chỗ mà người già từng chỉ cho tôi và nói là nơi ngày xưa ngựa ngài Đặng Dung quỵ xuống.
Tôi trả thêm tiền cho bác xe ôm, nói ít ngày nữa cháu lại gọi. Tiếng xe máy cũ nhỏ dần tôi mới quay mặt vào ngôi mộ tổ gần bên đường, chỗ đó là ngã ba. Ánh sáng của ngọn đèn trên cột điện tỏa xuống vàng khè.
Tôi đứng trước mộ tổ khá lâu, rồi mới lạy. Trăng cao vút, ánh vàng loang xuống khoảng đất trước mộ tổ ốp đá trắng xám. Mộ khang trang sạch đẹp, không có nét phô trương như những ngôi tôi từng thấy ở thành phố lăng đua nhau xây từ tiền Việt kiều gửi về.
Hồi khánh thành mộ, Họ gọi điện mời song tôi đang có chuyến công tác không hồi lại được. Người đại diện nói các ông cảm ơn con nhiều, nhờ tôi viết bài về cụ tổ…
Tôi đọc lại tấm bia dưới ánh trăng. Những dòng chữ khắc chạm sâu, ngay ngắn, sắc nét và đẹp. Tôi không thích bia viết bằng máy, theo kiểu a xít ăn mòn, chữ quá đều, nhanh hỏng. Chạm bằng tay nay đã hiếm. May tấm bia này tìm được tay thợ tôi quen hồi còn ở quê đã “gác đục”, gã nghe làm bia mộ tổ thì vội rửa tay nhận lấy.
Dạo đó tôi cũng muốn chứng tỏ chút khả năng của mình với Họ, đã dày công nghiên cứu, cả hỏi han bậc cao niên, tìm tư liệu đối chiếu chính sử, dã sử, cả những bản chép tay cũ sót lại trong làng, có chỗ trùng khớp, chỗ mâu thuẫn.
Tôi cúi đầu trước mộ tổ. Gió thổi qua hàng tre phía sau lào xào như tiếng người xưa vẵng lại. Trăng đứng lặng trên ngọn tre, ánh sáng nhạt hơn. Màu trăng nháng lên viền đá ốp màu xanh dương lành lạnh.
Câu thơ “Cảm hoài” bỗng lơ lửng trong tôi. “Nợ nước chưa xong đầu đã bạc/ Mấy độ mài gươm dưới trăng tà”. Trộ gió mạnh tạt ngang, hàng tre xa xa rung lên, tiếng cành xạt vào nhau tựa dư âm của cơn bão muộn. Rồi yên ắng, thoảng lại tiếng nói cười từ một phiên chợ, từ cuộc chơi hội ở sân hợp tác dịp xuân năm nào. Tôi đứng yên, hồ như nghe tiếng gió quay lại, hay đó là tiếng vó ngựa mờ xa.
Đám mây tan loãng, trăng sáng rỡ, tôi nhìn rõ dấu đục nét chữ trên mặt bia. Lối đất trước mộ, bóng trăng loang thành vệt.
Đêm ấy trăng cũng sáng. Tiếng vó ngựa dồn dập, rồi chùng lại, lững thững. Con ngựa mà chủ của nó đang bị oan đứng bên ngoài trại, buộc hờ vào gốc cây, cổ hằn vết dây cương ghì chặt sau chặng dài. Nó muốn ngửi thấy mùi áo giáp của chủ, mùi mồ hôi của bàn tay đặt lên bờm mỗi lần từ trận chiến về. Đêm này thì mùi người đó biến mất, nó chỉ thấy mùi tanh lẫn trong gió.
Chủ nó - Đặng Tất không trở lại.
Con ngựa giật mình nghe tiếng động lớn trong trại. Nó hí lên bất an. Những bước chân lạ đi ra vội vã, không ai tới dắt nó. Trong khoảnh khắc mơ hồ của loài vật, nó không thể hiểu hai từ oan khuất. Nó chỉ có linh cảm về người từng cưỡi trên lưng nó xông trận, từng vuốt ve an ủi nó trước khói lửa và tiếng trống dồn đã không còn nữa. Lẽ ra số phận nó đi chung với chủ, một may mắn không ngờ. Giữa cơn hỗn loạn, có bàn tay nắm lấy dây cương ra hiệu nó khẽ khàng bước khỏi bóng tối, men theo rìa trại tránh những ánh đuốc bập bùng, rồi thêm đoạn nữa người đó phốc lên lưng nó giục giã dây cương.

Minh họa: LÊ ANH
Đến một bãi vắng, ông ta xuống đứng bên, áp trán vào cổ nó, như muốn nói từ nay mi sẽ không gặp cha ta nữa rồi. Từ nay ta sẽ thay cha ta cùng mi đánh giặc. Con ngựa đứng yên. Nó nhanh thân thuộc mùi mồ hôi của chủ mới: Đặng Dung.
Con ngựa quen dần với dáng người trên lưng mình, với cái gót chân thúc nhẹ như sợ nó đau. Nó quen với những lần xông trận, tiếng giáo mác khua loảng xoảng, tiếng hò reo, tiếng thét… Những con đường rộng dần khi quân giặc rút lui. Con ngựa chưa biết đến thất bại khi cõng chủ mới. Cho đến lần Đặng Dung bị truy bức.
Ông khổ nhọc trên mình ngựa. Ánh trăng vừa lên, neo lại bên lưng chừng núi, sắc lạnh. Vết thương nặng, máu thấm qua áo bào nhỏ xuống bờm ngựa nóng hổi. Con ngựa cũng bị mũi tên găm cạn gần bên hông, chủ nó đã rút ra. Nó khẽ rùng mình rồi chạy như mất hồn. Nó không biết nên chạy về hướng nào cho đúng, chủ nó cũng không còn đủ sức điều hướng. Con ngựa chạy theo hướng mà có một lần xa lắc nào đó chủ cũ về thăm quê.
Ngài Đặng Đức, vị tổ họ Đặng của bà, cậu và mẹ tôi. Trong bài viết về ngài, tôi đã ghi dòng kể của nhiều người, trong đó có mẹ tôi kể lại lời của bà đã khuất. Mẹ nói ngài Đặng Đức ở trên T. Lộc, khi được biết Đặng Dung trong lần bị thương chạy qua xóm Cầu đã dừng lại đó nghỉ, máu người và ngựa rỏ thành vũng lớn, ngài liền về đây ở.
Mãi vẫn bặt tin về Đặng Dung, ngài Đặng Đức đã dựng đền thờ cha Đặng Tất và anh Đặng Dung ở gần bến nước, cây đa. Đặng Dung là con Đặng Tất thì sử viết rồi; còn ngài tổ Đặng Đức với Đặng Tất thì chưa rõ lắm họ hàng ra sao. Mỗi lần soi mặt xuống giếng, tôi lại tự nhủ, có lẽ dân làng tôi quý ngài Đặng Đức, nên tự nhận ngài làm con nuôi của Đặng Tất cũng nên.
Giếng làng gần mộ tổ hồi xưa rộng đến mức người ta trải chiếu quanh chơi bài vào dịp hội hè. Gốc đa già gần giếng rễ buông xuống bến nước. Chiến tranh bom đạn, giếng vỡ đất lấp, gốc đa toang hoác. Ngôi đền thờ cũng bị đạn pháo đánh hư hại. Dân làng liền tháo dỡ đem cất, mãi sau này mới dựng lại; hồi ấy tôi còn ở quê.
Con ngựa cứ chạy để cứu chủ cứu mình. Mỗi bước chân dồn tới là thân thể nó rung lên đau xé, nhưng nó không dừng. Chủ nó cúi thấp rồi có khi như áp người lên lưng ngựa, ghì dây cương trong vô thức. Trăng soi đường đất hẹp. Máu vẫn nhỏ như lối chỉ đường, rồi đất hút dấu vết.
Tôi nhớ hồi nhỏ chơi bên bến nước, trèo lên cây đa, nóng thì cởi áo vắt cành cây rồi ào ra sông. Mỗi dịp hội làng, bến nước người đen kín. Trò chơi đủ loại, đủ lớp người tham gia. Đêm nào có đoàn cải lương về chỗ gần đó cũng đông nghịt nam nữ ghẹo nhau, hát theo đoạn ưa thích trong vỡ diễn. Nhìn qua bên kia là thấy ngôi mộ tổ, cái nấm hàu xanh rêu, xung quanh còn viền đá nứt toác. Hàng trăm năm không ai có ý nghĩ làm lại mộ tổ. Cho đến ngày tôi nhận được điện thoại của người trong Họ nhờ tôi nghiên cứu về ngài. Tôi thấy đây là vinh dự nên gắng hết sức hoàn thành. Mẹ tôi nói nếu bà còn sống, con sẽ được nghe nhiều câu chuyện hay về ba cha con ngài nữa. Có lần nào đó tôi cũng hỏi mẹ về vũng máu nghe nói đông thành tảng đá như cái mẹt lớn, mẹ nói bà kể lại chứ mẹ sao biết. Lứa người già trong làng, bà tôi lớn tuổi nhất, thọ hơn trăm tuổi, lúc đó còn minh mẩn, mà chuyện về ngài thành hiển nhiên nên không ai hỏi thêm, chứ chắc còn điều bí ẩn nữa; như về tảng đá hình thành từ vũng máu, rồi bể ra, có người làng lấy về cất giấu…
Tôi nhìn con đường dẫn về nhà, từ đây còn một quãng đi bộ là tới. Làng yên ả, không còn mái nhà tranh nữa song ngói cũ lên rêu thì còn. Những ngôi nhà xây theo lối xưa, vẫn giữ gian bếp nấu củi. Tôi bước chậm. Gió thổi lên từ phía cánh đồng chiêm gần sông, thoảng mùi bùn non quen thuộc lưu trong ký ức tuổi thơ.
Tôi hình dung về con ngựa đi chậm như muốn dừng hẳn, quỵ xuống. Nó thở gấp, hơi nóng xòa ra loang khoảng không phía trước. Đặng Dung nghiêng sang một bên, bàn tay vẫn bám vào cổ ngựa, lực yếu lắm. Ngựa cố bước xa thêm hiểm nạn. Nhưng rồi con ngựa khuỵu chân đổ thấp về phía trước. Đặng Dung trượt xuống nhẹ nhàng. Ông nhìn bầu trời xam xám. Trăng còn mờ như lúc tôi ngồi bên mộ tổ nhìn qua bến nước xưa.
Con ngựa cố gượng dậy mà chưa được. Nó áp mũi cạ vào chủ khẽ thở. Đặng Dung đặt tay lên đầu ngựa, như an ủi nó hãy yên tâm, ta đã an toàn.
Trăng lướt đi, lên cao chót vót.
Mẹ tôi kể câu chuyện này vừa giống vừa khác dân gian truyền miệng. Đêm đó con ngựa chạy qua làng, nó dừng lại một lúc dưới bóng cây tra. Máu từ người và ngựa nhỏ xuống hòa vào nhau thành một vũng sẫm màu. Lúc dân làng tới thì Đặng Dung đã đi đâu không rõ.
Trăng soi lên vũng máu. Đến mờ sáng vũng máu óng ánh trở thành phiến đá non. Có người đến dỡ lên thì nó rạn nứt nhiều miếng, ông ta cầm lấy một miếng. Người khác nói không nên, nhưng rồi họ cũng lấy về… Ban đầu đá còn mềm, sau đần phiến đá cứng.
Tôi nhớ từng lời mẹ kể năm nào về vũng máu đông dần thành đá sau một đêm.
Tôi chợt nhớ đến hòn đá hình bầu dục cạnh giếng, bên ngoài màu trắng xám mà lúc mài dao vào thì thấy đỏ, lưỡi dao bén ngọt. Lần mài dao cha nhúm ngón tay rưới lên ít nước, lưỡi dao liếc lên đá rỉ màu huyết dụ. Tôi không biết hòn đá đó có từ thời nào.
Nhà đã gần hơn, ánh trăng soi rõ con ngõ quen thuộc vào xóm. Tôi nhớ khoảng thềm giếng rêu loang, mỗi lần múc nước mẹ dặn đứng cẩn thận. Đến đây tôi mới sực nhớ là mình đã nhớ nhầm về hòn đá mài bên giếng, thật ra nó không phải nằm bên thềm giếng nhà tôi. Nhà tôi cũng có hòn đá song không phải hòn đá màu huyết dụ. Hòn đá mà huyết dụ chính xác là ở cạnh cái nhăng nước của bà tôi. Bà ở với gia đình cậu, tôi hay vào đó chơi, mỗi lần vác rựa để chặt ngọn tro là mài lên hòn đá. Tôi không hiểu sao mình lại nhầm lẫn về chỗ đặt hòn đá. Bà tôi mất lâu rồi, hòn đá giờ liệu có còn bên nhăng nước? Đêm nay về nằm trong nhà mẹ, tôi sẽ thao thức đây. Sáng sớm khi gà vừa gáy, tôi sẽ đường tắt mà đến nhà cậu xem hòn đá còn không.
Con ngựa lại chạy. Vết thương của Đặng Dung máu vẫn rỉ âm ấm bên hông. Ngựa dừng lại thở, ông thấy đất trời như chao nhẹ, còn vẵng tiếng cha gọi mình.
Một ông lão thăm lưới, từ dưới bến nước đi lên. Ông thấy một người cưỡi ngựa chậm rì, lưng nghiêng lệch, bóng đứt quãng trên đất. Ông đứng một chặp rồi bước tới, gọi. Người trên lưng ngựa quay đầu, trăng soi rõ khuôn mặt tái nhợt, râu tóc lấm máu…
Ông lão dìu vị tướng lại ngồi dựa bên mô đất. Ông nhìn quanh rồi nói để tui vào làng gọi thêm người ra giúp. Đặng Dung níu lại, lắc đầu, nhìn ông lão, cười gượng, rồi gỡ áo choàng đưa cho ông. Ông lão quỳ xuống.
Ông chưa kịp nói thì Đặng Dung đứng dậy, lên ngựa giật nhẹ cương. Trăng đổ xuống, tan loãng.
Ông lão liền chạy vào làng. Lúc ông quay lại cùng nhiều người nữa, thấy vũng máu thấm sâu xuống đất.
Ngôi mộ tổ hồi xưa tôi thấy không có gì đặc biệt, ngoại trừ cái nấm hàu bầu dục phía trên lớn hơn mộ vùng này. Mẹ tôi nói con chơi thì chơi đừng chạy đừng ngồi lên mộ tổ “cồ tội”. Mẹ kể câu chuyện về ngài mộ tổ lập đền thờ cha và anh từ khi tôi còn nhỏ lắm. Mẹ bảo, tờ mờ sáng hôm ấy người làng ra chỗ vị tướng trao áo bào cho làng, chỉ còn lại khối đá sẫm lớn bằng cái nia, bề mặt ướt sương.
Biết là máu người và máu ngựa tụ thành đá, thiêng, có người lấy một miếng về thờ, người khác nữa cũng lấy... Tôi hỏi mẹ trong làng giờ có miếng đá ấy không. Mẹ cười nói ai mà biết, có thấy hòn đá nớ thế nào mà biết, qua mấy đời, người còn quên mặt huống là đá.
Tôi sẽ không nói gì với mẹ về hòn đá mài bên giếng nhà cậu. Đó là hòn đá bí ẩn đặc biệt với tôi. Mỗi lần mài dao là bột đá hòa vào nước lã đỏ au. Nó làm tôi nhớ lại câu thơ của Đặng Dung: Nợ nước chưa xong đầu đã bạc/ Mấy độ mài gươm dưới trăng tà. Thanh gươm của hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung được mài dưới trăng khuya qua tháng ngày đánh giặc liên miên. Rồi Đặng Tất bị oan do nghi kỵ, chí lớn dang dở. Đặng Dung tiếp bước cha, tận sức đánh giặc. Không rõ ngài và ngựa đã gục xuống chặng đường nào. Chỉ còn tấm áo choàng được các vị cao niên trao lại cho ngài Đặng Đức, tổ họ Đặng.
Ánh trăng thường soi vào tận trong bài vị của hai cha con họ Đặng vẫn đứng hiên ngang trong lịch sử, trong chánh điện thờ. Tôi đi miên man dưới ánh trăng sắp tàn. Con đường quê, tôi vục bàn chân vào cát. Ngày xưa những giọt máu của vị tướng đã thấm vào cát rồi hóa đá. Rồi giờ tôi đi tìm lại hòn đá đó để cúi đầu.
Có một lần mài dao trên hòn đá bên nhăng nước nhà cậu làm tôi nhớ nhất, lúc học cấp hai, được lớp giao cho làm báo tường. Tôi mài dao làm gì đó chợt thấy nước đỏ nên đã chắt vào cái chén dùng làm màu vẽ. Tôi sẽ không nói với cậu về hoài nghi của tôi về hòn đá, cũng không hỏi cậu hòn đá đó ngày xưa nó từ đâu mà có.
Tôi đã giúp họ viết về ngài tổ họ Đặng bằng tất cả những gì có thể kiểm chứng tư liệu. Nhưng hòn đá bên nhăng nước kia, giả như nó là một phần nhỏ của vũng máu xưa xa ấy…
Tôi bước về đến nhà lúc ánh trăng xô mái tranh gian bếp ra phía giếng. Trăng rắc đầy vườn. Gà gáy vang đùng đục. Sương còn dày. Tôi như đứa trẻ từ sa mạc khát bóng quê nhà, đang sắp cất tiếng gọi mẹ ơi thì chợt đứng ngẩn; tôi đã đi đến nhà cậu chứ không phải nhà mình. Nhăng nước nhà cậu, hòn đá vẫn còn đó, tôi mừng rơn. Tôi ngồi im lìm như một tảng đá khác rất lâu. Rồi tôi thấy mình mài con dao lấy từ ba lô, nó cũ và cùn lắm. Tôi mải miết mài, nước ứa màu vàng nhạt dưới trăng, có lẽ không phải ban ngày nên tôi không thấy được màu huyết dụ. Chợt, tôi rụt tay buông dao, những giọt máu pha ánh trăng loang trên mặt đá. Tôi đã vô tình liếc dao vào ngón trỏ. Ồ… Hòn đá này không phải để mài dao.
N.N