11-05-2018 - 07:32

Truyện ngắn: Gian nhà nhỏ và nước mắt của rừng

Tạp chí Hồng Lĩnh số 141 giới thiệu truyện ngắn "Gian nhà nhỏ và nước mắt của rừng" của tác giả Trần Hậu Thịnh.

Tôi và Khang, hai đứa cùng tuổi, cùng sinh ra trong một dãy nhà cấp bốn ở vùng ngoại ô thành phố. Hai gia đình chung nhau bằng một bức tường mười nham nhở. Khu chung cư chỉ có năm căn hộ, mỗi căn hộ quyền sở hữu một gian nhà có nóc. Bề rộng năm, bề dài sáu, vẻn vẹn ba nươi mét vuông không hơn không kém. Ngày tháng bình lặng êm trôi, những đứa trẻ trong khu ổ chuột lại nối nhau lúc nhúc ra đời làm cho cuộc sống khu quần cư càng ồn ả và chật chội. Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, mỗi gia đình tự cơi nới thêm những mái choái cổ ghé lợp bằng tôn lượn sóng hoặc ngói broximăng lòi tòi lụp xụp nối dài ra phía sau. Khu vực ấy hiển nhiên trở thành nơi tập kết cơ man mọi thứ của nả kiếm chác được do những ông bố, bà mẹ thu vén đưa về. Rồi từ lúc nào những cái kho chứa tạp phí lù đã trở thành hậu cứ của những cặp thằn lằn, dế trũi, chuột cống hoặc là nơi lánh nạn của lũ dán cánh khi trời động mưa. Phía trước mà mọi người quen gọi “mặt tiền” là cái sân rộng thênh thang toàn đất cát bạc, luốc đuốc có vài bụi cỏ gấu xơ xác cố ngoi lên tìm ánh sáng mặt trời. Theo tập quán, tới chiều khi trời nhập nhoạng bóng hoàng hôn, gã Cẩn, nhà riêng gần đấy dắt chó sang đây đái. Sân chung không ai phản đối, dần dần trở thành địa chỉ quen thuộc của con chó. Cứ được chủ dắt đến đây, nó kiễng cái chân sau lên tướt xoè xoè rồi ngửng mặt nhìn chủ như muốn thay lời cảm ơn “Ôi! Sướng quá”. Nơi đây cũng là sân chơi dành cho lũ trẻ với đủ trò nghịch ngợm. Lũ con gái thì chơi trò đi ô, đánh thẻ. Đám con trai tụi tôi, mình trần trùng trục chơi gù, đá bóng hoặc đánh khăng. Tôi và thằng Khang là hai thủ lĩnh đàn anh lớn tuổi nhất trong hội nên mỗi lúc giao tranh hai đứa phải về hai phe để đầu quân. Tính thằng Khang hùng hổ, táo tợn nên mỗi khi chia phe thì lớp đàn em bao giờ cũng muốn đứng về bên Khang để tránh được những miếng đòn do ẩu đả. Rồi cuộc chơi nào cũng có sự kết thúc bằng thắng bại hoặc những cuộc cải vả om sòm. Trời nhá nhem là đứa nào đứa nấy quần áo vò quả bưởi chạy tới chỗ giếng khơi, múc nước dội ào ào. Sống vậy mà chẳng có đứa nào ốm đau gì cả. Còn phía trên bực thềm lở lói bao giờ cũng đặt sẵn cái khay tráng men ấm trà, kèm mấy cái ly thuỷ tinh lem lúa sắp lớp đủ loại vân tay, nhưng hình như chẳng mấy khi có nước ngon, rót ra là bạc phếch như nước mắt thầy bói. Cạnh ấm trà bao giờ cũng kèm gói thuốc lào Vĩnh Bảo cùng mấy cây đóm mỏng tanh, lúc được bố tôi, lúc được ông Khánh bố Khang xước ra từ ống nứa già ngâm dưới ao bèo đưa lên. Cái bàn này luôn tuỳ nghi di tản. Có nghĩa là lúc đặt ở bậc thềm nhà này, lúc lại chuyển đến trước cửa nhà khác. Vì là điếu đóm tập thể nên khách lạ đi ngang về trái đều có thể dừng chân hạ đít, réo vài hơi thả khói phì phèo cho thơm đời. Những lúc đóm bị dính nước không cháy, họ lại chùi ngang quẹt dọc lên bức tường làm cho lối cửa ra vào loang lỗ với những dấu chấm, dấu phẩy và gạch ngang chi chít. Nhưng mặc kệ chẳng ai than phiền trách cứ gì. Tuy đuề huề hỗn tạp nhưng mọi người đều tìm thấy hạnh phúc riêng trong ích kỷ của mình. Những chiều chủ nhật, xung quanh cái bàn trà là nơi sinh hoạt và giao lưu văn hoá của người lớn, bởi đến đây ai cũng được hả hê trải lòng khoái lạc. Những phát ngôn ngang tàng, những tràng cười nổ nả, những câu chém gió đã phần nào làm quên đi bao toan tính thường nhật. Phải khẳng định rằng về quan niệm tự do thì hiếm địa chỉ nào sánh được nơi bàn trà này. Chỉ một tội là ghế chẳng ra ghế, bàn chẳng ra bàn, chẳng qua mỗi người tự giác nhặt nhạnh một thứ đưa về góp nhặt nên. Dần dà cái bàn lại được kết nạp thêm các đại gia gần đó thỉnh thoảng đến chung vui chuyện phiếm, hoặc mấy bà vợ sếp buồn mồm đến “bán dưa lê, mua dưa chuột”.
Rồi một chiều chủ nhật, bàn trà lại rôm rả như bao chiều vốn dĩ. Cẩn lủi thủi dắt con Béc đi đến nơi góc sân, vô tình thấy bên bàn trà rôm rả liền dắt “anh bạn vàng” tới chầu bên cạnh. Nói về hành vi bất hảo của Cẩn thì gã có thâm niên tám năm phá rừng, triệt hạ gần bảy chục ha rừng già ở xứ Kim Sơn. Xét tội trạng toà tuyên án gả phải vào tù chín năm. Nhưng nhờ gã có thành tích năng nổ và tháo vát - mỗi năm cung cấp hàng trăm phản gọ, bàn lim, cầu thang, lộc bình lát hoa cho các sếp lớn nhỏ. Có lẽ nhờ có thành tích biết quan tâm đến cuộc đời vất vả khó nhọc của quý sếp nên chỉ sáu tháng tù treo là Cẩn được trả về nhà trở thành công dân bình thường. Sau khi thoát khỏi tù gã tiếp tục về điều hành lớp thảo khấu rừng xanh và chuyên nghề trang trí nội thất, cung cấp hàng mĩ nghệ đồ gỗ cho các đại gia dưới phố. 
Thấy gã Cẩn đĩnh đạc đi tới, bố tôi xách thêm một ghế nhựa, rồi chồng ốp thêm một cái nữa như sợ chiếc ghế sẽ không đỡ nỗi cái thân hình cùng hai cái mông của gã. Khép người vào sát vách tường, bố tôi rót nước rồi tò mò hỏi: Không biết chú mày ở đâu về đây và làm gì mà nom béo tốt thế. Mông ra mông, ngực ra ngực chẳng bớt cho tụi tui. 

Minh họa: QUỐC HÙNG

Gã Cẩn nhìn mọi người rồi uể oải ngồi xuống và dõng dạc: Đã về làm cư dân ở đây em xin nói thật với các bác, hồi trước em chuyên nghề đốn hạ rừng xanh, bây giờ chuyển sang nghề kinh doanh đồ gỗ. Em thấy các bác ở đây hiền lành, sống vui vẻ, các cháu khoẻ mạnh, sống nghèo mà đứa nào cũng trơn lông mượt da, nên có ý định sang năm đưa vợ con về nhập hộ khẩu luôn đấy ạ.
Thằng Khang đi ngang qua thấy con Béc vẻ xấc xược ngồi chống hai chân trước nhìn mọi người đang tán doóc, nó liền ra chiêu đùa cợt: Chỗ này là sân chơi của tụi tao. Từ nay hễ ra đó mà tè tao cho mày đi theo củ riềng nghe chưa.
Thấy bị uy hiếp, nhanh như cắt, con Béc nhảy chồm lên táp gọn một miếng vào mặt hắn. Thằng Khang không kịp ứng xử. Mọi người hốt hoảng, đứng phắt dậy. Cái bàn trà đổ tung nhoe nhoét. Lúc bình thường thằng Khang chẳng chịu nhường nhịn một ai, nhưng lúc này nhìn đối thủ với hai hàm răng sắc bóng nhọn hoắt và cặp mắt vẫn long lên sòng sọc, Khang sợ xanh mang ôm mặt nằm sấp xuống bậc thềm. Khu tập thể náo loạn cả lên. Gã Cẩn vẻ mặt ái ngại dắt chó về bỏ cũi khoá, rồi tất bật chạy sang và kéo Khang vào trong nhà, chốt cửa để tránh vạ vương thông qua tai mắt mồm mép của thiên hạ. Miệng gã lẩm bẩm nhưng tôi vẫn đủ nghe qua cảnh cửa để hờ “nó (nói con chó) chuyên ở rừng thay tôi cảnh giới kẻ ăn cắp gỗ nên dữ vậy đấy”.
Có tin cho hay con chó này gã mua từ một đội cận vệ nào đó. Sau này nhờ huấn luyện thêm nó trở thành một vệ sỹ trung thành và điêu luyện. Có con chó, Cẩn như có trợ thủ đắc lực, trung thành, nên càng ngày càng hống hách, chỉ đạo bọn đàn em nơi rừng xanh núi thẳm để phụng sự mình. Chẳng qua nhờ sớm đón nhận thông tin từ các sếp khi cung cấp nội thất đồ gỗ mà gã biết: Nơi đây. Mảnh đất này vài năm sau sẽ là một khu đô thị sầm uất, nơi ăn chơi đàng điếm của cánh nhà giàu với những khu chế xuất, khách sạn và siêu thị sẽ mọc lên, nên gã dặm nhà vào trước để tính chuyện hưởng thụ lâu dài, hoặc kiếm quả hời trong thương trường chụp giật khi đất đai nhảy giá. Ở đời thằng khôn họ có tầm nhìn xa trông rộng hơn đám dân đen mọt mú là chỗ đó. Mà gã Cẩn chắc gì đã là thằng khôn, bởi thằng khôn thì tội gì cứ làm nô lệ cho một con chó. Đã hết thời thì sao không cho nó lên dàn giao thớt, rồi lướt khướt mời láng giềng một bữa theo kiểu “nhập gia tuỳ tục” vậy có vui không. Nhưng không khôn thì gã cũng là thằng có gan. Bởi có gan mới làm được giàu. Chính nhờ đồng tiền mà gã trở thành kẻ tinh quái hơn người bình thường. Chẳng phải thế phương ngôn có câu “khôn như tiên không tiền cũng dại. Dại như chó không ló (lúa) cũng khôn” đó sao. Rồi các ngài cứ mở mắt thật to, to thêm tí nữa, đừng híp mắt trong căn nhà lộng lẫy của mình mà nhìn đời. Ba trận mưa cóc là nhà cửa dân đen ngập tận nóc. Lòng tốt mọi người đang xuôi dần về nằm tuốt tận cùng của đốt xương sống, nhưng để thể hiện trách nhiệm vì cộng đồng và tấm lòng hữu hảo, họ lại đội nón mang tơi hô hào cứu trợ. Làm quan tội lớn nhất là lừa dân. Rồi họ cũng gạt nước mắt, thay trời hành đạo cố đứng trước bão tố mưa giông cứu kẻ khốn cùng đang vùng vẫy giữa dòng nước bạc. Kẻ hoạn nạn trước tai ương nhìn gói mì to như cái phao cứu sinh. Nhưng xếp càng lớn lại nhìn đôi lộc bình càng bé nhỏ.
Tối hôm đó chờ mọi người yên tĩnh, gã Cẩn đánh xe con tới dừng trước của nhà ông Khánh rồi lặng lẽ dìu Khang lên bênh viện để kiểm tra vết thương. Hôm sau và mấy hôm liền sau đó không thấy mặt mũi thằng Khang đâu. Sự việc thằng Khang bị chó cắn không hề ảnh hưởng sứt gì đến tụi trẻ bọn tôi. Chiều hôm ấy cái sân lại tiếp tục ồn ào với những trò chơi,chỉ có điều là không thấy gã Cẩn dắt chó đi đái như mọi chầu.
Lại đá bóng. Thiếu Khang, cuộc đấu hôm nay lại có phần ôn hoà thân ái hơn. Hiềm một nỗi cái bàn trà không thấy đâu, để mỗi khi khát nước còn chạy tới hớp vài ngụm cho cái cuống họng đỡ khô rát. Đúng một tuần thằng Khang từ bệnh viện trở về. Hôm nay trông nó béo trắng ra nhưng ở môi trên lại gắn thêm một vết sẹo gần một phân. Từ hôm nay có đứa gọi hắn là Khang sứt, liền bị nó cho một bạt tai lăn chõng khèo xuống thềm gạch. Từ đó chẳng đứa nào dám chọc ghẹo.
Rồi một hôm mọi người chưng hửng khi nhận được thông báo: “Tất cả những gia đình ở khu tập thể phải di dời để nhường đất xây dựng một khu chế xuất công nghiệp, do chủ nước ngoài đầu tư. Ai đi trước thực hiện nghiêm túc chỉ thị của uỷ ban thành phố được hỗ trợ và đền bù thoả đáng. Ai cố tình chống đối sẽ bị cưỡng chế”. Thông báo  chẳng có gì giật gân bởi tin này đã phong phanh từ lâu nên chẳng ai bị đứng tim. Nhưng từ hôm nay mỗi một ông bố, bà mẹ đều hình thành tư tưởng ra đi tìm nơi lập nghiệp. Mọi sinh hoạt vốn nhếch nhác càng đuề huề nhếch nhác hơn. Cuộc sống trở nên tạm bợ. Sau khi nhận được khoản tiền đền bù rẻ mạt, ba hộ cuối dãy lần lượt chia tay cuộc sống nơi đây. Còn hai hộ nhà tôi và nhà bác Khánh còn phải bám trụ bởi ngân khố trống rỗng. Mà chuyển đi đâu lúc này, ngoài khoản tiền mua đất còn phải tiền làm nhà chứ có phải con chim, con cáy đâu mà đào hang hay ở đậu.
Từ đây ba căn nhà cấp bốn cuối dãy trở thành khu nhà hoang vô chủ, toang hoác buồn đến lạnh người. Mọi loài loài vật như chuột cống, dán nâu, thằn lằn một thời yên ổn phú cường nay không còn nơi tạm trú lại lúc nhúc kéo nhau di chuyển sang hai mái choái cuối hồi của hai gia đình để sinh sống. Về đêm lũ chuột đuổi nhau chạy sàn sạt trên sàn nhà. Hình như tầng lớp định cư nơi đây đang cố giành vị thế của kẻ bản địa, đánh đuổi những cư dân tị nạn bất hợp pháp ra chỗ khác để được yên ổn. Mà cũng có thể những kẻ thất cơ lỡ vận kia đang trấn áp lớp cư dân mấy đời ở đây trướt mặt, để làm bá chủ chốn “hoàng cung” bản xứ.
Không ngủ được, bao đêm bố tôi lại lặng lẽ đi xuống đặt bẫy và phun thuốc nhưng rồi loài nào cũng có bản năng sinh tồn, tự hiến kế cho mình để tồn tại. Trước hết là lũ chuột lần đầu thấy đồng loại mắc bẫy kêu oai oái là lần sau chúng lẩn tránh mất tiêu. Những con khôn thành tinh trốn vào ngồi trong các ngóc ngách, thận trọng phân tích từng động tác khi bố tôi căng bẫy và bóc lạc hoặc rải cá khô rang nhử đàn em dại khờ. Thơm ngon thật nhưng lòng tốt đột xuất của con người là điều cần nghiên cứu. Còn lũ dán cứ chờ cho hơi thuốc phai nhạt rồi mới bò ra lục lạo những vết dầu còn lem lúa nơi nồi thau, soong chậu. 
Vì bị phân tán nên cái sân gần hai tháng nay không có tụi trẻ chạy nhảy. Nhiều hôm buồn tình gã Cẩn lại dắt chó sang sân, đi đái xong lại tụt tạt vào ba gian nhà trống, cả người và chó lại tha hồ khám phá cái cơ ngơi hoang tàn mà một thời gắn liền với bao kỷ niệm buồn vui của bao kiếp người khổ ải. Thằng Khang những lúc thấy con chó lởn vởn qua là nó tức tối vô cùng. Nó muốn giết bằng được con chó này, nhưng nghe đâu chủ là một tay máu lạnh lông ngực nhiều hơn lông chân, một thời là hùm thiêng nơi đầu sông chóp núi nên cũng chờn. Rồi một đêm nó sang nhà tôi xin thuốc diệt chuột về tẩm vào hai miếng lạc sườn và lặng lẽ đi sang chốn nhà hoang đặt bã, nhưng con chó gã Cẩn quá khôn, nó khịt mũi mấy cái rồi bỏ đi. Con Béc không chết, nhưng sáng hôm sau lại thấy lũ chuột nằm phơi bụng từng dãy. Ruồi nhặng sinh sôi kéo nhau về bay vù vù như ong vỡ tổ.
Kể từ khi ba hộ di dời đến nay đã gần một năm mà nơi đây vẫn không thấy động tĩnh gì. Trước mắt hai gia đình có đất trồng rau, thả bầu. Vì chất mùn chưa bị khai thác nên rau thả xuống vài tuần là tốt xanh mươn mướt, ong bướm lả lơi suốt ngày. Rau ăn không hết mẹ tôi nhổ về, bó sẵn đặt ở bậc thềm, không cần rao vặt hay quảng cáo mà khách đến mua nườm nượp bởi họ biết đây là rau sạch, đắt tý chẳng sao.
Thời gian thon thót trôi đi, tuổi mười tám tràn vào cuộc đời tôi. Năm học cuối cấp lại đến, tôi và thằng Khang giã từ các trò ngáo ộp của tuổi thơ, dành lại sân chơi cho lớp đàn em. Tuy học hành chểnh mảng, tháng ba mươi ngày thì bỏ mất mười lăm buổi nhưng cuối cùng cả hai đều đậu tốt nghiệp cấp ba và mỹ mãn với tấm bằng tú tài. Hai đứa có ý định không thi đại học nhưng vì sự động viên của hai gia đình và bè bạn, chúng tôi quyết định khăn gói thầy đồ ra đi cho bỏ cuộc đời. Chuyến kinh lý xa nhà đầu tiên này tôi chỉ muốn giao du cho biết Hà Nội thế nào. Đặt chân xuống xứ Thành Đô việc đầu tiên là phải giải cơn khát. Hai thằng tôi sà xuống bên cái bàn trà của một người trung niên trạc tuổi bố tôi đặt ở cạnh chân cột điện bên đường Giải Phóng. Vẫn cái bàn trà và cái điếu cày tương tự như cái bàn trà ở nhà, chỉ khác người Hà Nội họ nhã nhặn hơn. Đường phố ồn ào nhưng họ tuyệt đối không ồn ào, không có chuyện tục tếu gây cười, toàn những chuyện thâm cung bí sử được họ lôi ra rất rành mạch. Hình như giữa cái xã hội văn minh họ càng lại phải thận trọng giữ mồm giữ mép. Trước mắt tôi thiên hạ ở đâu cũng thế đều có kẻ giàu sang và cũng có đứa thấp hèn. Những khuôn mặt giả dối, kèm theo những nụ cười miễn cưỡng đều hiện rõ tâm tư mỗi con người. Điều khác biệt hơn nữa là cái gì cũng giá cắt cổ. Ngồi một lúc hai thằng làm hết sáu ly nước trà mà cổ vẫn khát boong. Đưa tờ giấy bạc hai mươi ngàn ra trả, thấy còn hai ngàn, thằng Khang xin thêm một cốc nước lọc rồi cả hai bắt xe ôm đến địa điểm thi.
Kết quả mùa thi cũng đến trên mạng. Tôi được bốn điểm, thằng Khang được hai rưỡi. Coi như trượt, nhưng trượt cũng chẳng sao. Điều đáng buồn hơn cả bốn ông bố, bà mẹ vẫn thờ ơ trước thái độ dửng dưng của con cái. Cùng tuổi nhưng tôi sống nội tâm hơn thằng Khang nên trước thái độ ấy của bố mẹ, trong lòng bắt đầu chằng chíu những lo âu và phát sinh những phân bì nạnh tị: lứa bạn bè khối đứa không đậu, hoặc không thi đại học nhưng gia đình họ có tiền để cho con đi xuất khẩu lao động, hoặc chí cũng có người thân, họ thuộc làm trong tỉnh, trong huyện để kết nối xin xỏ một việc gì đó nhẹ nhàng hơn – không giàu cũng đủ ăn và xoá được mặc cảm là thằng lêu lổng. Và cũng có những đứa được bố mẹ cho đi học “đại học giả”, “cao đẳng giả” rồi “tiến sỹ giả” để sau này lấy “bằng thật” hợp thức vào làm cán bộ Nhà nước. Còn tôi nhìn vào đâu cũng thấy tối tăm mù mịt. Đời bất hạnh nhất là không nhìn thấy tương lai.
Vào ra chạm mặt thường xuyên trong gian nhà chật chội, tù túng nhiều lúc bố mẹ tôi cũng càm ràm: “kệ cha chúng mày. Ai đào lỗ cho lươn chui bao giờ”. Tôi càng lo lắng hơn khi thỉnh thoảng có vài người lạ đi qua cứ mắt la mày lém rồi chỏ miệng thối vào: “Sao hai gia đình này không di dời nhỉ, chắc còn chống báng để đợi tăng tiền đền bù đấy”. Ngại ngùng nhất là mỗi khi có vài cô em nhỏ nhà ở bên kia đường, chúm chím môi son tóc tết đuôi gà lại leo lẻo – một anh, hai anh. “Hôm nay anh không làm gì sao. Không đi đâu hả…”. Từ lúc nào khuôn mặt của tôi nổi đầy mụn trứng cá, những suy nghĩ mơ hồ về tương lai lại hình thành trong cái đầu vốn lười suy nghĩ nay bắt đầu động cựa: Rồi đây nếu mình lấy vợ thì ăn ở vào đâu, lúc ấy cả gia đình là năm khẩu nhưng chỉ độc bố là có lương. Con em út tuy mới mười bốn tuổi, tương lai không biết có ai rước không? Thời buổi tham phú phụ bần dạm vợ họ cũng nhìn vào cơ ngơi gia thế, hoặc nhìn vào địa vị đàng vợ để có cơ hội thăng thân rồi nhởn nhơ hốt bạc trong nhà hạ trắng trơn. Chứ có trái tim vàng nào lại dại khờ lao vào cái gia cảnh bần hàn chật chội này. Tương lai là một bà cô ở cữ, ngoa ngoắt đanh đá sẽ lưu đày tại đây. Càng suy nghĩ lòng tôi càng hoang mang. Cũng may trong dịp này nhiều mưa ít nắng rau dưa được giá, có việc để mà làm giúp mẹ, có lý do để mà khuây khoả góp nhặt niềm vui.
Một hôm tôi đang hì hục đào đất trồng rau thì nghe bố thằng Khang gọi vào: “Con về, Khang đang cần gặp”. Tôi vất cuốc chạy vào nhà. Thằng Khang hớn hở: “Ỏ Vincom vincóp gì đó đang cần tuyển người làm bảo vệ, ta lên dò hỏi thế nào”.
Đi thì đi! Tôi dứt lời hai đứa vào nhà thay quần áo rồi lên đường, để tìm một tương lai đang lóe lên ở cuối chân trời. Tới Vincom, ông trưởng phòng nhân sự nhìn tôi nói “Tướng em dài lưng tốn vải. Mà đã vào đây là phải chấp nhận những tình huống rủi ro bất thường và ứng biến. Chứ thằng kẻ cắp không bao giờ chờ nghe lời thuyết trình và lý giải”. Rồi ông nhìn sang thằng Khang: “Nhìn chung chú đạt tiêu chuẩn, thân hình cân đối, vai vóc to khoẻ…”.
Thằng Khang chưa kịp mừng thì ông nhìn sang khuôn mặt hắn và lắc đầu: “Kể ra chú mày không có vết sẹo này thì đạt tiêu chuẩn. Vết sẹo không phải bẩm sinh đúng không. Nhưng ở đây khi đối tác đặt chân đến gặp khuôn mặt có sẹo như chú họ cũng ngại”. Ông bắt đầu thở dài: thôi chúc hai em sẽ gặp may mắn trên “đường đời”. Với tôi từ hôm nay hai chữ “đường đời” sao nặng nề và chán ngán đến vậy.
Về tới nhà, đứng soi gương lại thấy vết sẹo, thằng Khang tháo bỏ quần áo trên người rồi hậm hứng xách cái xà beng nhổ đinh chạy sang nhà gã Cẩn với ý định trả thù con chó nhưng cửa đóng im ỉm. Cái cụi sắt đặt cạnh tường cũng trống rỗng. Toà nhà lạnh ngắt như vắng hình thân chủ. Thằng Khang hậm hực quay lại.
Chiều tối thấy Cẩn đánh chiếc xe Mercedes-Benz đi về. Thấy tôi vác cuốc đi mổ đất gã dừng xe mở cửa và nhẹ nhàng hỏi: Chú mày có thấy thằng con lão Khánh nó ở đâu không?
Tôi thả cuốc xuống: Nó đang ở trong nhà.
- Gọi dùm nó ra đây anh gặp.
- Nghe tiếng gã Cẩn chẳng cần tôi gọi thằng Khang mặc quần đùi hậm hực chạy ra. Nó giật nhanh cái cuốc trên tay tôi và vênh cằm: Ông cần gì? Tôi đang cần gặp ông đây. 
Cẩn chậm rãi: Chú đừng nóng. Dứt lời Cẩn tháo vắt cái áo lót lên vai để lộ những đường chạm trỗ vằn vện trên bộ ngực đầy lông lá. Giá như gặp đối thủ bình thường trong trường hợp này thì thằng Khang chắc chắn sẽ cho một táng vào mặt. Nhưng bây giờ gặp đối thủ có vẻ trần đời hắn cũng chờn, liền đặt cuốc xuống đất. 
Gã Cẩn bước xuống: Anh tuy là dân mới, nhưng xin chú em đừng hoạnh. Đời có giá hết.
Thằng Khang vẫn giữ nét bình tĩnh: Tôi không hoạnh ai cả. Nhưng tôi muốn thịt con chó nhà ông – Vừa nói Khang vừa đưa tay xoa đi vuốt lại vết sẹo cạnh bờ môi như nhắc với Cẩn món nợ cũ hồi nào.
Gã Cẩn nhẹ nhàng: Thôi! Ở đây to tiếng với nhau không tiện, ta là những thằng đàn ông. Mời hai chú em sang nhà anh nào. Dứt lời Cẩn đánh xe đi chầm chậm. Tôi và Khang lẽo đẽo theo sau.
Bước chân vào toà nhà ngập đầy tiện nghi. Vừa ngối xuống ghế Cẩn hỏi: Hai chú cần gì. Ở đây gì gì cũng có. Quay mặt về phía Khang gã nói tiếp “Lúc gần trưa chú vác xà beng sang nhà anh làm gì vậy, anh đang ở Kim Sơn nhưng ở nhà động tĩnh gì cũng biết”. Bất giác tôi chợt nghĩ ra: Nhà gã có gắn Camera chống trộm.
Gã rót ra hai cốc nước bầm tím và mớm lời: Hai chú mày trượt đại học rồi hả. Bây giờ đi với anh, chứ thanh niên ru rú trong nhà làm gì. Hãy tranh thủ khi đời còn sức vóc. Hãy tận dụng ngay mớ cửa nả còn sót lại trên cõi đời này khi thực sự chưa cạn kiệt. Sống ở đâu chẳng cần tiền.
Nhận lời. Sáng hôm sau hai chúng tôi lên xe bán tải tới trung tâm thành phố, rồi tiếp tục tâng bo lên một cái xe ba cầu trùm kín bạt, lại tiếp tục hành trình về hướng Tây. Chiếc xe như con thú hoang dại gầm gừ tha hai đứa vượt qua đoạn đường rừng ngoằn nghèo có hàng trăm cây số. Tôi bắt đầu hoài nghi lo lắng nói thầm với Khang: Kiểu này mà nó đưa đi bán nội tạng cho người Tàu thì nguy.
Khang gắt gỏng: Bộ hài cốt mày được bao nhiêu mà tính toán cho gầy người. Cái xác hai thằng ta to hay ngôi nhà của gã Cẩn to.
Vượt qua bao rừng sâu suối thẳm, thì xe dừng ngay ở một bãi đất trống, có cái chòi tranh nơi đỉnh dốc. Trời gai lạnh, sương la đà dưới gót chân. Dần về hoàng hôn trời càng ảm đạm. Bất giác tôi thấy rùng rợn: Kiểu này không đưa thân cho Tàu thì cũng đưa thân cho cọp. 
Mấy người vừa chui vào chòi, tự dưng con Béc từ đâu chạy bộ tới. Nhìn chúng tôi nó ngút ngoắt cái đuôi vẻ thân ái như người nhà “ha ha chúng ta là cư dân thành phố, lên đây vài ngày xem cảnh rừng vàng suối bạc ra sao mai ta lại về gặp nhau nơi phố phường hai anh ha”.
Tôi chưa biết chuyện gì xẩy ra thì Cẩn rút ra một tập phong bì đã dán sẵn keo, bề ngoài có ghi số lượng, độ dày, độ nặng của nó: Cái mười triệu; Cái hai; Cái năm và cái ít nhất cũng một triệu.
Đưa tập phong bì cho tôi gã dặn dò vẻ thận trọng: Tối nay chú và con chó ở lại đây, nhớ thường xuyên bắt máy khi tớ gọi. Tập phong bì này sẽ thứ tự ra đi theo sự chỉ đạo của anh. Còn anh và Khang đi sâu vào trong này để chỉ đạo cái đám quân hồi vô lệnh. 
Thấy tôi tỏ vẻ lo lắng gã dặn thêm: Chú mày yên chí, không ai động được một sợi lông của chú đâu. Chú hãy thể hiện bản lĩnh thằng đàn ông đi chứ. Trước mắt có con béc này sẽ là cận vệ trung thành của chú trong đêm nay.
Vỗ vai tôi, gã và Khang  tiếp tục lên xe đi tiếp. Đêm. Núi rừng xám xịt, Tôi run lên vì lo sợ. Thật may có con chó nên tôi có phần bớt lo lắng. Ngày bình thường ở nhà thấy nó nhếch chân đi đái ngoài sân tôi căm ghét vô cùng, thường ném đá để hù doạ thế mà đến đây nó thực sự gần gũi, mùi lông, mùi bẹn, mùi nước miếng, kể cả hơi thở của nó của nó tôi vẫn thấy thật đáng yêu. Và biết đâu cũng có thể nó đang cảnh giới, sợ tôi sén mất vài cái phong bì của chủ nên đề cao cảnh giác. Nó là loài chó, chứ có phải loài người đâu mà không trung thành với chủ.
Tôi và con chó nằm trong màn giả chiến nhưng cả đêm tôi không tài nào chợp mắt. Về khuya tiếng cưa xăng ríp lên, tiếng cây đổ sầm sầm, tiếng suối chảy róc rách. Một vài con chim lạ hoảng hốt cất lên trong đêm đen mù mịt. Sáng hôm sau thì tôi biết chức trách nhiệm vụ của mình – đó là vai trò một thủ quỹ nhưng chi tiền không có bảng lương, ký duyệt: Lúc thì một cán bộ hải quan đeo ve đậm, lúc thì người đội mũ xanh gắn sao, lúc lại là người mặc áo vàng, lúc thì người xách cặp, lúc thì xe biển xanh, lúc xe biển trắng… tới gặp. Lúc đầu tôi ngạc nhiên tại sao họ biết mình ở đây. Sau đó tôi hiểu khi kết nối điện thoại với Cẩn. Rồi theo chỉ đạo từ xa tôi đưa đúng từng phong bì đã ghi sẵn số tiền ở ngoài cho từng đối tượng để họ quay đầu về xuôi. 
Hai ngày sau Cẩn đi xe từ trong rừng sâu ra một mình. Gặp tôi gã hỏi ngay: Chỗ chú còn mấy phong bì nhỉ.
Tôi trả lời: Hôm trước bác đưa hai mươi, chi hết mười lăm còn năm cái.
Cẩn vui sướng gật đầu: Chú cũng như con chó này đều là những đứa trung thành. Từ nay về sau chú sẽ là cận vệ của tôi. Chú yên tâm hai năm là làm được nhà lầu. 
Kể ra công việc khá nhẹ nhàng, tôi có ý định ở lại qua tết Nguyên Đán để kiếm ít tiền về giúp gia đình. Thì sang ngày thứ tư tự nhiên rét run cầm cập có lẽ do cơ thể không thích nghi với cảnh rừng thiêng nước độc. Cẩn gửi xe đưa tôi về cho một phong bì năm triệu. Chích thuốc hết một, còn bốn triệu, đời thế cũng sung sướng chán.
Một tuần sau, chiều chiều mọi người lại ngạc nhiên khi thấy mấy cái ô tô bịt mui kín mít chở gỗ về tập kết vào ba gian nhà hoang. 
Để trấn an tư tưởng mọi người, thằng Khang lại gọi điện cho tôi: Này ai hỏi cứ bảo đó là gỗ thằng Khang sứt và Cẩn hói.
Từ nay ông Khánh cũng tỏ vẻ ra mặt, khệnh khạng hơn vì có con làm “sếp”. Ông không thèm đoái hoài ngoài vườn rau. Thậm chí còn chê rau ở đây lắm cứt ruồi. Thỉnh thoảng lại cầm sổ đi sang khu nhà hoang kiểm tra số lượng gỗ, rồi đo ngang đo dọc, sau đó phủi tay đi về nhà xách chai rượu ngâm thuốc dốc uống một mình tất nhiên nhỡ gặp bố tôi ông cũng miễn cưỡng mời nhưng dè sẻn, chứ không “lên bờ xuống ruộng” như mọi chầu. Thế mới biết đồng tiền nó dạy khôn cho con người nhanh như thế nào. Chập tối bên gia đình ông lại có mấy người đàn ông mặt đen như lưng gián, môi thâm tím như tiết luộc tới bàn bạc rồi họ lặng lẽ ra đi khỏi nhà. Tôi đoán đó là lớp thảo khấu nơi cửa rừng vừa áp tải gỗ về tới gạ gẫm nhờ ông Khánh ân chuẩn chút tiền để đưa cho vợ con.
Điều làm tôi đáng để ý hơn cả, là mỗi khi có xe gỗ đút đít vào hiên là thấy vài người tới gõ cửa, lúc thì một công an phường kèm theo vài đệ tử. Khi thì một nhà báo tới bấm máy lia lịa, lúc thì một cán bộ sở ngành gì gì đó tới thăm dom ghi ghi chép chép. Thế là cuộc đời này lại phải chia năm sớt bảy cho nhau trong cảnh hoang tàn đổ nát của rừng, để mai đây có những bàn lim phản gọ mới tinh xuất hiện trong tiếng khóc than ngoi ngóp của những phận đời éo le giữa dòng nước bạc. Loa đài lại ra rả “lá lành đùm lá rách” và tất cả vì đồng bào yêu thương ruột thịt. Và tự dưng câu chuyện dân gian “Con mèo tha cái đầu cá, con voi chui qua lỗ kim” lại tái hiện về trong tôi.
Một hôm đang giữa mùa mưa lũ, đường phố nước chảy băng băng. Bao trùm lên tất cả là một bầu trời màu tro xám xịt. Vợ chồng ông Khánh ăn nằm không yên, mắt luôn dõi về phương Tây mịt mù trong gió bão. Đang lo lắng thì thấy thằng con trai hớt hải vuốt mặt chạy về nhà. Hắn hốt hoảng: Ông! Ông Cẩn bị nước cuốn trôi mất tiêu rồi. Con thấy cái xe mắc kẹt một mình bên khe suối.
Buổi tối hôm đó trời tạnh dần, bố con ông bàn bạc thế nào rồi sướt mướt chạy sang nhà tôi. Ông nói “nhờ hai bố con anh dùm một tay bốc số gỗ này tẩu tán đi nơi khác”. Hì hục suốt đêm, mồ hôi đổ lộn nước mưa thì số gỗ được bốc và chở hết hẳn.
Bố con ông đang hí hửng vì tự dưng trong tay có gần ba trăm triệu, khoản tiền ấy mơ cả đời cũng không thấy. Đang vui mừng thì Cẩn đột ngột xuất hiện khuôn mặt hình hài của Cẩn vẫn béo tốt như xưa. Biết thằng Khang cũng dạng đầu cua tai nheo, trong khi mình là thằng dân ngụ cư. Cẩn chỉ vào mặt hắn: Tao thử độ trung thành của mày thôi. Chứ đời thằng như tao mà bị lũ cuốn thì thiên hạ này sót ai. Thực ra mày chỉ là đứa ăn cháo đái bát. Mày không bao giờ bằng một con chó.
Cuộc đời cứ trôi dần theo năm tháng rồi ai ai cũng phải diệu kế mưu sinh. Bố con thằng Khang sau khi gom được số tiền ra mua đất làm nhà riêng. Còn gia đình tôi vẫn ở vậy. Thật may khi khu khách sạn mười lăm tầng mọc lên, theo đo đạc của địa chính thì nhà tôi không phải di dời, từ đó mẹ tôi trang bị một cái bàn mới khang trang hơn bán nước trà và đồ ăn vặt, mỗi ngày thu được vài trăm, cuộc sống qua đi những tháng ngày chật vật. Cô lễ tân thắt đáy lưng ong mắt bồ câu, môi chúm chím hương son không biết có phải vì bên ấy ồn ã hay sao thường hay lẻn sang nhà tôi hú hí bên mẹ và hỏi tôi những câu chẳng đâu vào đâu, nhưng trái tim tôi cứ rộn ràng luyến nhớ khi nhiều hôm liền không thấy em xuất hiện. Còn gã Cẩn chẳng thấy đâu, có người bảo gã về với con vợ cả ở dưới chân đồi Hói Lạc cách trung tâm xã Kim Sơn ba km để sống và ngẫm lại cuộc đời. Ngôi nhà nhỏ của gia đình tôi vẫn còn đó. Mỗi lúc nhìn sang ngôi biệt thự, con vợ bé của Cẩn, tôi lại bảo đó là sản phẩm từ “nước mắt của rừng”.
Bố tôi đằng hắng: Rừng làm gì có nước mắt./.


                T.H.T

. . . . .
Loading the player...