Tạp chí Hồng Lĩnh số 128 phát hành vào đầu tháng 4/2017 giới thiệu truyện ngắn "Pháo công" của tác giả Từ Nguyên Tĩnh.
Tôi nói tôi làm thợ pháo, chứ không phải là quân khí đâu. Nhiều người cũng cứ gật gù cho ra vẻ biết, thật ra có phân biệt được đâu. Thợ, thì ai cũng biết rồi, nhưng là sửa chữa pháo kia. Anh ta phải sửa chữa được vũ khí. Tôi đã được làm thợ pháo ở Hàm Rồng đấy. Lý do cũng không bình thường một tí nào. Người ta mà cử anh làm thợ sửa pháo có nghĩa anh lên “xê bộ” mà nằm cùng cán bộ đại đội. Ở các đơn vị khác thì “xê bộ” to lắm. Đại trưởng, chính trị viên trưởng và kèm các cấp phó, còn cán sự chính trị, còn y tá, quân khí và thợ pháo. ó nơi lại còn gọi làpháo công. Nói đến pháo công, thì tôi không làm sao giải thích được ý nghĩa của nó cho mình và người khác nghe, có dịp tào lao về cái lai lịch chiến tranh của mình. Đi bộ đội mà không “tiến bộ” là người nhà khổ lắm. Vì vậy nhoi lên được một tí chức vụ là mát mặt lắm. Có bao người cùng nhập ngũ mà vẫn là binh sĩ, mình là cán bộ. Tiêu chuẩn cũng khác người, anh lính thì tháng ba lạng đường còn mình nửa cân. Đó là chưa nói đến khi thành sĩ quan còn nhiều chế độ kèm theo. Trong chiến tranh, cả nước là lính, mà anh là sĩ quan có nghĩa được trang bị áo “bốn túi”, giày đinh, lại có cả súng lục, về quê oách lắm. Leo đến cái chức vụ ngồi xe con về làng, đường xá chặt chội, anh lái xe nổi còi bim bim là cả làng kéo ra, để xem con nhà cò Mốc, cỡi cái xe com măng ca về vinh quy bái tổ.
Tôi được phân công là “pháo công” kể người mà có danh dự thì nên từ chối. Nhưng người ta lại khoác áo “tư tưởng”, kèn cựa địa vị thì sao? Tôi được cử làm Pháo Công sau cái ngày 3 tháng 9 năm 1967, khó quên ấy.Chuyện là thế này…
Tôi kể ra không phải là khoe khoang, hay công thần vì có gì đáng nói mà bảo công thần. Vào bộ đội thì được phân ngay là pháo thủ số 5, quay khóa nòng. Đôi tay của tôi thật không xứng với bộ mặt một tí nào. Bộ mặt làm cho người ta tưởng là khỏe mạnh, nhưng đôi tay lại yếu ớt. Không làm sao mà quay trơn tru, động tác quay vù vù như mấy tay cùng nhập ngũ.Thua mấy tay đi cùng đợt, dân lò gạch quay ngon ơ.Cái chết nữa là tôi không chịu yên phận, đừng dính dáng gì đến viết lách, ấm ớ con mẹ tề. Những bài báo tường đã mau chóng đưa tôi lên một địa vị, thực chất là cái danh hão. Một mẩu tin, một bài báo…nói chung thì đỏ mắt mà chờ đợi. Tôi khát khao phấn đấu thật sự. Nhưng điều kiện thuận lợi cho mình thì đâu có. Bây giờ mà lên cái đồi “C4” ở tay phải của bạn là nơi tôi ở, khẩu đội 6 lúc mới nhập ngũ.Tôi đã viết những dòng bích báo, mà vì nó mà được điệu lên Trung Đoàn đi viết gương chiến đấu vào cuối năm 1965. Kể là liều. Không học hành, không nghề ngỗng cái mả mẹ chi cả, mà giấy giới thiệu lại ghi: Phái viên của ban chính trị, đi khắp các trận địa để tìm hiểu viết gương chiến đấu. Tôi ngượng lắm. Không hề biết chút gì gọi là “lấy tài liệu”.Tại sao tôi không từ chối? Tôi cũng không biết được. Do háo danh hay sợ nếu từ chối thì mình sẽ là cái anh không chấp hành mệnh lệnh.Tôi đã khoác lên mình cái danh”nhà báo” khi mười bảy mười tám tuổi. Và có lẽ, do được đánh giá “có trình độ” mà sau tết 1965 tôi được điều sang khẩu đội 4 để xây dựng khẩu đội này. Bây giờ thì Nguyễn Đắc Trung không còn nữa, anh đã ngã xuống trận đánh 3/9/1967, nhưng nghĩ và nhớ lại tôi cũng không cắt nghĩa ra làm sao. Anh nhập ngũ năm 1963, thay Nguyễn Văn Điền làm khẩu đội trưởng, sau trận anh Điền bị thương 11 mảnh đạn, ruột lồi lấy cái bát úp lại mà băng bó rồi cáng đi viện. Chiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng giáo viên cấp 1, đi lính trước tôi mấy tháng, làm trinh sát đã làm thơ để ca ngợi:
Anh là Khẩu trưởng Nguyễn Văn Điền
Tên anh đẹp lắm tựa trăng lên
Tôi muốn viết vào trang nhật ký
Với những chữ vàng nét đầu tiên…
Sau này anh Điền có về qua trận địa trước lúc ra quân, tôi có gặp lại, thấy chân anh cà nhắc, mặt anh hơi rỗ hoa, cũng không đẹp gì. Mấy năm sau tôi được cử đi viết sử cho Trung đoàn, có về qua nhà anh ở Yên Phong tỉnh Hà Bắc, được chiêu đãi một bữa cơm rượu thịnh soan. Tôi thương anh lắm. Không được phong anh hùng, bởi nhà anh có uẩn khúc gì đó, người ta nói tránh đi là không chấp hành chính sách.
Lại nói sau khi đi viết gương chiến đấu, in một tập đen ngòm, nhờ máy rônêô của tỉnh đội, đóng ở Vân Nhưng. Chả hiểu do cái mơ mòng của tuổ trẻ mà lấy ngay cái bút danh là Vân Anh, cái tên nhí nhảnh của cô gái “văn thư” tỉnh đội. Mà hầu như những bài thơ đầu đời in được, mang cái bút danh ấy cũng lạc đi trong cái bể vô vọng của ước mơ cầm bút. Sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ “viết gương chiến đấu” tôi được người ta điều về Khẩu đội 4, của anh Nguyễn Văn Điền để xây dựng khẩu đội này thành “khẩu đội thép”. Nhưng tôi máy móc, mà Nguyễn Đắc Trung sau thay anh Điền lại “tự do” kéo về cơ mạn nào là gái đẹp của Hàm Rồng, lại chưa đoàn viên thanh niên nên mới “tiểu tư sản”. Nói cho công bằng, anh là người có một phong độ lạ lắm. Cái áo mới phát, tẩy ngay đi cho nó trắng phau. Ăn mặc như thể người mẫu, chiến tranh bom đạn, hôi hám và khét lẹt mùi dầu mỡ mà cứ thơm rinh lên. Trong khi đó tụi này là đoàn viên, “trí thức, nhà báo” dù nghiệp dư đi nữa, anh cứ thử in được một mẩu tin, bài thơ, đoạn văn trên báo xem nào. Có mà mơ. Tôi không phát hiện ra sự yêu thương, bao dung hay coi thường trong mắt anh Trung nữa. Những ngày đánh nhau ác liệt cơ động lên cao điểm 134 ( mái nhà Hàm Rồng), xuống Đình Hương và về Ba Cây Thông, trong ba ngày 21. 22. 23 tháng 9 năm 1966 bẻ gẫy chiến dịch đánh lớn “ lá rụng nhiều tầng” của Mỹ bắn phá Hàm Rồng. Nguyễn Đắc Trung được kết nạp vào đoàn, tôi cũng sĩ diện là người giói thiệu anh mà lại. Tôi được chuyển sang khẩu đội 5, và nếu ở khẩu đội 4, tôi sẽ hy sinh như Nguyễn Đắc Trung hoặc bị thương nặng mà rời quân đội từ năm 1967 mất rồi. Ở khẩu đội 5, tôi đã làm được điều phi thường. Lúc máy bay đánh mờ mịt, Điện trố mắt không nhìn thấy máy bay, tôi là số 3, cái anh đứng quay cự ly, cũng dễ dàng bị bom bỏ ở ngoài phạt mất lưng như chơi. Bom bỏ vào khẩu 4, khẩu 5 chỉ bị ném thia lia mảnh thôi. Được, tay pháo thủ số năm bị một mảnh vào ngực, ngồi ôm ngực. Pháo hóc, không sao mở được khóa nòng. Lúc vào trận mà pháo tịt ngòi, nguy cơ bị ăn bom như chơi. Tôi mới nhảy sang, bảo số năm quay khóa nòng và dùng xà beng đánh vào cái răng để khóa nòng không bị đóng kín nơi buồng đạn của pháo. Nghe cái vỏ đạn kêu đến xoảng một cái mà mừng quá. Khẩu 5 lại bắn được. Trước sự hy sinh của đồng đội mà tôi còn viết được câu khẩu hiệu đầy ý chí cảm tử:“Thà gục trên mâm pháo, quyết không để cầu gục”. Tôi không ngờ câu khẩu hiệu ấy lại giá trị như thế nào với Hàm Rồng trong mất mát đau thương. Nhưng có phải vì nó, chữa được pháo hóc mà Pháo công Nguyễn Xuân Đảng hy sinh, tôi được điều lên thay anh hay không. Có người nói, người ta sẽ bồi dưỡng cậu, thế này thế kia. Nhưng có người lại bảo:- Chỗ đó có cái dớp hy sinh của y tá, quân khí, thợ pháo đấy?
*
Nói là làm “thợ pháo” nhưng cũng là chân sai vặt mà thôi. Ví dụ có một phái đoàn nước ngoài nào đó đến thăm trận địa, người ta cần có cái khẩu hiệu để đón. Nhưng không ai biết chữ nước ngoài cả, anh ngoại vụ cần một người để “vẽ” khẩu hiệu, thế là sai tôi. Tôi vẽ lại y nguyên chữ của nước họ. Không it lần được cái ông “ngoại vụ” khen, cha này có năng khiếu kẽ vẽ. Chính trị viên phó, cùng ở hầm với tôi ban cho câu nói “xoa đầu”:- Nhà báo đấy! Ở đây để rèn luyện thử thách, có điều kiện “phát triển” thôi!

Minh họa: NGUYỄN HÀ
Tôi nghe lời khen, không hiểu sự thật hay dối trá, không biết bao lần. Lần đầu tiên lúc tôi mười tám tuổi, cái tuổi hồn nhiên, tự ti, xấu hổ và cả tin khi viết những bài gọi là “gương chiến đấu”, đem phát cho các đơn vị. Chắc người hiểu biết và có trách nhiệm không ai để cho nó xuât hiện. Các lần sau, thời gian và tuổi quân cứ già đi, mà cái chức phận “pháo công” nó cứ như cái vòng kim cô của Phật Quan Âm gắn trên đầu. Ví như ở trung đoàn có tổ chức lớp dạy văn hóa, cho những người chưa có đủ trình độ đi học sĩ quan, họ điều lên. Cái anh dạy toán, lý, do mấy anh lính sinh viên “tổng động viên “ chưa tốt nghiệp đại học dạy. Sử, địa có sinh viên sử địa dạy. Họ chọn tôi dạy văn, vì tưởng văn hóa tôi rất cao, mới là tác giả những bản tin, bài thơ lủng củng. Vì thơ viết theo kiểu lủng củng mà mỗi lần bị giới thiệu “nhà thơ” này nọ đọc nó hủy diệt luôn cái giọng không mấy hoành tráng của mình đi. Nhưng được đi đó đi đây là vui rồi. Đi họp thông tín viên báo Quân khu, Quân chủng, hoặc hội nghị sáng tác của Ty văn hóa, do những bài thơ nằm thì mười họa xuất hiện. Cái váng hư danh như được củng cố thêm. Bụp một phát lại giải tán và về đơn vị làm thợ pháo. Tuổi quân cứ thế mà trôi đi. Lúc có máy bay vào bắn phá, khẩu đôi nào thiếu pháo thủ tôi vào đóng vai thế, còn nói chung thì tự do. Hằng ngày, cũng dạy tập thể dục cùng mọi người, lúc họ tập luyện hay trực ban thì mình lang thang xem tình trạng vũ khí có hỏng hóc gì, nặng nhẹ xử lý tại chỗ hoặc điện lện trạm quân giới người ta xuống sửa chữa. Ơn trời pháo của Liên Xô hay sau này thay pháo Trung Quốc cũng bền. Nếu gặp bom đánh đáo vào thì mọi thứ nát bét, còn không ốm đau như người cảm cúm, tôi chữa cũng được. Nặng thì gọi lên trên, họ mà xuống thì mình chầu rìa, chịu sai vặt. Những khẩu pháo mà bị phá công sự kéo đi coi như phải đại tu, sửa lại hoặc thải ra thành mớ sắt vụn. Không ai ý thức gì về chuyện để những khẩu pháo méo mó, bị thương ấy làm bảo tàng, mà nó biến đi mau chóng theo thời gian. Ngay như tôi làm cái anh “pháo công” có trình độ viết lách, hội họp cộng tác viên, viêt báo cáo đề nghị tặng danh hiệu anh hùng cho đơn vị, viết sử , viết kịch nhưng cũng không ai nghĩ sẽ đề bạt cho anh một chức vụ gì gọi là. Thậm chí cái anh cán bộ ở nơi khác về trình độ rất I tờ, nhưng cũng cứ là người phục vụ chịu sự sai vặt. Sau này mới nghĩ, con người của mình có sức chịu đựng đến vĩ đại. Nếu chiến tranh kéo dài hai ba mười năm nữa, mình vẫn là cái anh “pháo công:”. Ý nghĩa thực của nó là gì. May mắn là mấy cán bộ đại đội, văn hóa cũng nhì nhằng, chẳng mấy ai lên mặt với loại đầu thừa đuôi thẹo tụi này. Không hiểu chiến thuật rỉ tai ra đời từ bao giờ, mà họ nói với nhau: - Tay ấy có trình độ đấy, vướng cái gì mà mãn đời là cái “ông chiến sĩ” thôi! Nhưng đời cũng có sự màu nhiệm, đó là trong hoàn cảnh bị sa hãm anh phải làm gì? Đó là đọc sách chơi và có cái khát khao vô vọng là viết lách. Nếu cái chuyện này mà viết ra vài ba chục năm trước, biết đâu có người quy cho anh thế này thế nọ. Nhưng nó phải ra đời vào lúc này. Cái thế hệ hồi đó đã lên bàn thờ cả rồi. Nếu còn sống mà đọc được cũng là vui chơi. Tôi nói, tôi làm “pháo công” không vô tích sự đâu.
Thời kỳ giặc Mỹ ném bom hạn chế, ta xốc lại cho lính không chủ quan xả hơi mà thường kiểm tra quân số về đêm trước khi đi ngủ. Mấy tay y tá, quân khi, thợ pháo, không chức trách gì nhưng được điều động, đi men theo quả đồi để xem có tay lính nào vồ mấy em ở Phân Lân, Tàu Thuyền, Nhà máy điện, TNXP không? Tôi cũng cầm cái đèn pin đi men theo sườn đồi, đơn vị đóng quân trên đồi mà lại. Chúng tôi như thiên lôi, chỉ đâu đánh đấy, trai chưa vợ nên lại càng hiếu kỳ, mong tóm được cái đám ếch ôm nhau sau mưa, tay y tá có vẻ biết đời nói thế. Để mắt nhìn xem có đôi nào tâm sự ở xó xỉnh, khóm cây sim, mua hoặc, nhà đổ, hố bom không. Cũng thật khốn khổ cho sự máy móc này mà nhiều tên bị hỏng cả con đường thăng tiến, hay nói to tát lên là sự nghiệp. Ví dụ như người ta sắp kết nạp anh vào đảng mà bị bắt, quan hệ không rõ ràng là đi đời rồi. Anh nào mà bị bắt quả tang đang “ thớt trên đè thớt dưới” thì được khoác cái từ thật bi ổi là “ hủ hóa” coi như là thứ bỏ đi. Anh không là tội phạm như kẻ phản quốc, anh không như ôn dịch, nhưng anh là cái loại tha hóa, đạo đức kém lắm. Tôi đã vớ được tên hủ hóa đó. Hắn đang mây mưa với một cô gái, to khủng, công nhân xí nghiệp, kết nghĩa với đơn vị. Tôi là kẻ không ra gì mới vớ phải cái cảnh đó. Đèn pin của tôi lia gặp, lúc hắn đang cao trào, lăn mấy vòng xuống triền đồi. May gặp gốc cây phi lao bị bom cắt cụt ngọn, mắc lại, cứ đà ấy lăn xuống vực thì xương thịt nát ra cũng nên. Tôi há miệng ra vì ngạc nhiên, đang định hô hoán: - Bắt quả tang “hủ hóa” rồi, các đồng chí ơi! Nhưng bị cứng hàm lại không hô được. Tôi kịp nhận ra, cái kẻ vần vũ người con gái đó, lâu này tôi rất mến phục. Anh ta từng trải, khuyên tôi về những trắc ẩn của con người. Đánh nhau cũng vào loại dũng mãnh, nếu không nói là liều. Từ một kẻ thắng thế tôi thành kẻ xấu hổ vì đã làm cái chuyện ngớ ngẩn, tọc mạch không ra gì. Có lẽ nhờ đọc sách mà tôi biết được các nhà văn miêu tả sự thật trần truồng của họ. Tôi thấy mình thật cao thượng khi tắt vội đèn pin và bỏ đi như một kẻ lịch sự, như một kẻ thắng thế vừa định làm một việc sỉ nhục con người nhưng lại tha thứ. Tôi im lặng như chưa hề nhìn thấy một cái gì cả. Nhưng thật chẳng may cho tôi một tí nào. Tin ông chỉ huy đi họp trên cụm về, có quan hệ bất chính loang ra đơn vị. Họp hành để kiểm điểm. Vì nó thuộc vào đạo đức nên mới trầm trọng. Mà người chỉ huy này lại có vợ, con. Lâu nay tiếng nói của anh ta trong các cuộc hội nghị của trung đoàn rất trọng lượng. Vì dư luận của quần chúng mà ảnh hưởng đến đạo đức cách mạng, nó còn quan trọng hơn là giảm sức chiến đấu. Án dư luận còn lớn hơn cả sự thật. Hỏi ra ai biết sự thật bắt được quả tang, không ai nói ra. Tôi cứ tin là mình nhìn thấy chứ có ai khác đâu? Còn có một kẻ khác, nó đang ôm ấp một “đứa em kết nghĩa”, ở lò vôi cạnh đó. Nhờ ánh đèn pin của tôi mà hắn nhận ra kẻ đồng sự như hắn, là người mà hắn kèn cựa, muốn giành giật vị trí cao nhất ở đơn vị này. Cái kẻ núp bóng nơi lò vôi làm chuyện bậy ấy thắng thế. Người chỉ huy số 1 ở đơn vị ra đi. Kẻ hoạt đầu kia nghiễm nhiên lên chỉ huy cao nhất. Hắn vẫn quan hệ “anh em kết nghĩa” để ngụy trang cho quan hệ bât chính của mình. Một lần liên hoan, có cả “cô em kế hắn nghĩa” với “xê bộ”, hắn quá phấn hứng mà để lộ ra chuyện này. Tôi bị men rượu mà không kìm được chỉ vào mặt nó:
- Mày là thằng đểu, tiểu nhân hại người!
Chỉ thiếu chút nữa, cầm cái chai rượu đập vào mặt nó, nếu không có y tá can ngăn. Nhưng như thế là chuyện phấn đấu của tôi coi như đổ vỡ hoàn toàn. Mọi thứ nhỏ nhặt nhất cũng bị soi mói, đưa ra để bình phẩm. Tôi không cần thứ ban lơn của kẻ bẩn thỉu như cái gã hại người đó.
Cũng lạ, chiến tranh bom đạn, y tá ,quân khí, thợ pháo lần lượt hy sinh mà tôi không bị mũi tên hòn đạn nào chạm tới. Nhưng tôi cũng cứ lỳ ra. Thậm chí tôi được điều lên sư đoàn viết sử, ở nhà xét phong quân hàm, cán bộ cũng quên cả tên mình. Có nghĩa, anh đơn vị tưởng trên sẽ ưu tiên, trên thì không ngó đến vì cho là nó ở đơn vị điều lên. Sự bàng quang hay nhu nhược của người lính, tôi cũng không biết nữa. Kết cục mười năm mà làm cái anh pháo công, lại dính vào thơ phú phù phiếm. Nhưng thôi, không nói chuyện gian khổ mà ai cũng phải khắc phục sau chiến tranh. Vài năm đầu loay hoay kiếm sống. Năm mười năm sau, đời sông khơ khớ, nghĩ đến chuyện đi tìm đồng đội. Trở về nơi đơn vị chiến đấu. Vì tôi đã gặp lại đồng đội cũ những người mà không ít vinh quang hoặc có khi cũng cứ là diễn đàn như là nhân chứng. Nhưng thôi, chỉ nên kể lại hai con người mà do hoàn cảnh chiến tranh, sự thèm khát nhục dục cũng là lẽ thường. Do sách báo, mở cửa mà các quán karaoke, nạn mãi dâm phình ra, hay do nhận thức mà người ta cười nói hỉ hả dễ tha thứ cho nhau thế. Có lẽ cả hai, lòng vị tha kèm với nhận thức. Tôi đã gặp lại nhiều bạn lính cũ. Nhưng hai người dính vào cái vụ “hủ hóa” đó gắn với đời “pháo công “ của tôi nhất. Xin tóm tắt lại cho gọn. Cái tay hú hí với cô em kết nghĩa sau này có dịp bỏ vợ tảo hôn lấy luôn. Họ đều rất vui, gặp tôi và nóí thật lòng. Nói thật với nhà văn, lúc đó đã nhận ra anh có “triệu chứng văn thơ “ rồi đó. Này nhà văn, nếu ông mà tiến bộ, đi nơi khác biết đâu đã hy sinh rồi. Chả lẽ tôi lại cám ơn sự kìm hãm của những kẻ hoạt đầu, cơ hội hay sao. Vì không tiến bộ mà tôi sống được. Còn người mà suýt nữa lăn xuống vực sâu, mất xác do quá say mê tình dục. Thấy tôi bẽn lẽn tránh mặt, anh đã chủ động gặp.
- Cậu này, mày ở với tôi mấy năm mà đã quên chuyện “hủ hóa” rồi sao?
- Anh thông cảm cho em…chuyện ấy!
- Cái cậu này, bọn tớ phải xin lỗi cậu mới phải, mười năm ở một mỏm đồi bằng giam lỏng cậu, còn đâu là tuổi trẻ.
- Thôi, anh khỏi phải cấn cá chuyện đó…Có điều em không hiểu được: - Pháo công là gì?
- Ừ nhỉ! Mình cũng không hiểu nó là cái gì…Nhưng mà lẽ ra cũng có một ông thầy cúng, như ngày xưa trước khi bắn, người ta làm lễ cho thần linh để khai hỏa, pháo công có lẽ là thế nhỉ?
Tôi mới biết, anh lấy vợ tảo hôn, lúc anh đi xa, người vợ ở quê tự cải thiện sinh một đứa con. Và tự động ly hôn vắng mặt. Anh cũng chịu tiếng là “hủ hóa” để ra đi. Nhưng mà bắt đầu cho một sự nghiệp mới. Anh cười nói khẽ, cũng chẳng biết là họa hay phúc nữa Pháo công ạ!
Đầu Đông 17/11/2012.
T.N.T