Tạp chí Hồng Lĩnh Số 233 + 234 - Tết Bính Ngọ 2026 trân trọng giới thiệu bài viết “Văn chương từ mạch làng” của tác giả Lý Thị Phi (Đọc Truyện ngắn, ký, tản văn của Trần Đắc Túc)
Trong bức tranh văn học đương đại của vùng đất núi Hồng sông La, nhà văn Trần Đắc Túc hiện lên như một biểu tượng của nghị lực và lòng thủy chung son sắt với mạch nguồn quê hương. Dù đã trải qua những năm tháng bạo bệnh nghiệt ngã với di chứng tai biến mạch máu não kéo dài hàng thập kỷ, ông vẫn kiên trì gạn đục khơi trong, chắt chiu từng con chữ để dâng tặng cho đời một tập văn xuôi đầy đặn vào lúc đã ở ngưỡng cửa tuổi tám mươi. Tuyển tập truyện ngắn, ký và tản văn do Nhà xuất bản Văn học ấn hành cuối quý IV năm 2025 là một chỉnh thể nghệ thuật quy mô, bao gồm chín truyện ngắn, mười bảy bài ký, tản văn và ba bài dư luận của bạn bè, đồng nghiệp về sáng tác của ông. Đây không chỉ là sự tổng kết một hành trình sáng tạo bền bỉ mà còn là tiếng lòng của một người con sinh ra từ làng Thổ Sơn, người đã dành cả cuộc đời để soi chiếu những số phận con người dưới ánh sáng của văn hóa và tình yêu quê hương xứ sở. Toàn bộ tập sách là một bản giao hưởng về làng quê, nơi những mảnh vỡ của ký ức được hàn gắn bằng ngôn từ tinh tế, giàu cảm xúc nhưng cũng không kém phần sắc sảo, đậm nét hiện đại về cấu trúc tự sự và tâm thế chủ thể.
Văn chương của Trần Đắc Túc trước hết là một hành trình trở về với bản ngã và nguồn cội, nơi không gian nghệ thuật luôn được bao phủ bởi mùi bùn và hương lúa chín của làng Thổ Sơn. Làng hiện lên trong trang văn của ông không chỉ như một bối cảnh địa lý đơn thuần mà là một thực thể sống động, ám ảnh. Như lời giới thiệu ở đầu sách đã nhận định, làng đã "ngự trị trong tâm hồn Trần Đắc Túc, len lách trong cảm xúc và lý trí của anh" (trích ở Lời đầu sách). Theo lý thuyết tự sự học, không gian văn học không phải là một phạm trù tĩnh tại mà nó được sản sinh và tổ chức lại trong tiến trình lịch sử và tâm lý. Với Trần Đắc Túc, mỗi con đường ríu vào nhau, mỗi khoảnh vườn mướt xanh hay ngôi nhà thấp âm xâm giữa um tùm cây cối đều chứa đựng những tầng nấc ý nghĩa về sự sinh tồn và cốt cách con người. Ở đó, tác giả không chỉ là người quan sát mà là như một kẻ tha hương luôn ngoảnh đầu về làng, khắc khoải với từng âm thanh và hương vị thân thuộc, để rồi từ đó thêu dệt nên một đời sống nhân vật phong phú với những số phận đầy thăng trầm trước nắng mưa thời cuộc.
Mở đầu cho mảng truyện ngắn là tác phẩm Làng Vòng, một lát cắt đầy ám ảnh về triết lý hồi quy của phận người. Nhân vật ông Đảm xuất hiện trong tư thế của một kẻ thất bại ê chề sau những năm tháng hào nhoáng nơi phố thị, trở về làng với dáng vẻ "mặt mũi hốc hác, tiều tụy, râu ria lởm chởm, ông Đảm ôm chặt cái ba lô lộn trước bụng, ngồi ngủ trước bậc lên xuống" (Làng Vòng). Hình ảnh đôi bàn chân to xù, ngón cái xòe ngang luôn ở tư thế "sẵn sàng bật dậy là đi được ngay" (Làng Vòng) là một chi tiết nghệ thuật mang tính điển hình hóa cực cao, phản ánh bản chất lao động lam lũ đã ăn sâu vào cốt tủy của người nông dân.

Truyện ngắn hiện đại thường tập trung vào những thay đổi tâm lý và ứng xử của nhân vật trong những tình huống đời thường nhưng mang tính khái quát bản chất. Qua nhân vật ông Đảm, tác giả đã khéo léo lồng ghép tư duy về sự luân hồi của số phận khi cụ Hân nhận định rằng: "Đất làng Vòng ở cái thế hồi quy, con rùa đi đâu cũng tìm đường trở lại. Thời nào rồi cũng vậy, đố anh trai cày làng Vòng thoát được cảnh theo sau đuôi trâu mà húp nước cáy" (Làng Vòng). Giếng Cả với phiến đá ghép ấm sực hơi nóng mùa hè đã trở thành thánh đường tâm linh nơi ông Đảm tìm về để xoa dịu nỗi đau thể xác và gột rửa những bụi bặm của chốn phù vân, để rồi nhận ra rằng giá trị thực sự của con người nằm ở mảnh đất quê hương và tình nghĩa gia đình.
Nếu truyện ngắn Làng Vòng là sự hoài niệm về nguồn cội thì Chơi dao lại là một thông điệp mạnh mẽ về nhân cách và quỷ thuật dùng người trong đời sống xóm làng. Trần Đắc Túc đã xây dựng tình huống truyện đầy kịch tính khi ông Viện, một xóm trưởng tự đắc, quyết định sử dụng Đinh Vịt – một kẻ ăn cắp vặt, ngổ ngáo – làm trưởng ban bảo vệ thôn với lý lẽ "dĩ độc trị độc" (Chơi dao). Đây là biểu hiện của một tư duy quản lý lưu manh và thói háo danh, để rồi chính con dao ấy đã quay lại phản chủ khi Đinh Vịt lộng hành, bắt bớ trâu bò của dân để đòi tiền chuộc và cuối cùng gây họa lớn. Câu hỏi cửa miệng "Chú hiểu không?" (Chơi dao) cùng hành động dứ dứ chiếc tăm tre của ông Viện là một sự chạm khắc tinh tế về thói hợm hĩnh, tự mãn, độc đoán, gia trưởng của một bộ phận cán bộ cơ sở. Truyện ngắn này không nhằm vào việc miêu tả đối tượng một cách đơn thuần mà là sự sản sinh suy tư cho người đọc về ranh giới mong manh giữa cái thiện và cái ác, giữa sự tỉnh táo và mù quáng trong việc sử dụng và thao túng quyền lực.
Sự đa dạng trong bút pháp của Trần Đắc Túc còn được thể hiện rõ nét qua Đêm làng Đống, một tác phẩm mang đậm hơi thở của hiện thực phê phán đương đại. Tác giả đã sử dụng hình ảnh làng Đống như một con rùa khổng lồ nhưng đang bị những cơn lốc của đồng tiền và lòng tham làm cho biến dạng. Nhân vật lão Cam, người không ngủ của làng, giống như một camera quan sát bí mật, nhìn thấu những hang hốc và mặt tối của làng vào ban đêm, khi những kẻ ban ngày đạo mạo bỗng chốc lộ nguyên hình là bọn ma quỷ vụ lợi, lừa lọc. Văn phong của truyện trở nên quyết liệt, bề bộn khi miêu tả cảnh làng quê đêm đêm nhộn nhạo với những câu chuyện về hộ nghèo, về việc tranh giành từng thẻ hương thờ phụng, hay sự xuống cấp của phẩm giá phụ nữ trước mãi lực của đồng tiền. Trần Đắc Túc đã chạm đến tử huyệt của đời sống nông thôn mới, nơi các giá trị truyền thống đang bị xói mòn bởi lối sống thực dụng.
Trong mảng truyện ngắn về đề tài gia đình và số phận người phụ nữ, truyện Rằm tháng Bảy hiện lên như một bài ca về sự tha thứ và lời răn về quả báo. Bà Mai, người đàn bà đẹp nhất tổng Đoài một thời nhưng bị chồng bắt phải câm lặng suốt hàng chục năm, là một biểu tượng cho nỗi đau câm nín của người phụ nữ trong xã hội cũ. Sự xuất hiện của bà trong đêm rằm với "tóc bà không búi, được buông xoã, trùm vai. Trời, tóc mây!" (Rằm tháng Bảy) đã mang đến sự giải thoát cho cả người chồng đang hấp hối và đứa con đang cuồng nộ bằng tiếng nói "Thôi!" đầy dứt khoát. Chi tiết này không chỉ là sự giải tỏa về mặt kịch tính mà còn mang tính triết lý sâu sắc về sức mạnh của lòng vị tha và sự siêu thoát. Ở đây, tác giả đã thành công trong việc diễn tả những thay đổi tâm lý và ứng xử của nhân vật trong một lát cắt đời sống đầy biến động.
Hai truyện Mưa rừng và Rượu đắng lại khai thác những khía cạnh khác của tâm lý con người trong sự cô độc và phản bội. Trong Mưa rừng, người đàn ông trốn chạy khỏi phố thị để tìm sự an yên giữa rừng thẳm nhưng lại vướng vào một cuộc tình ngang trái với người đàn bà có người chồng dị dạng. Cơn mưa rừng trở thành một nhân chứng cho những khao khát bản năng và sự dằn vặt của lương tri. Trong khi đó, Rượu đắng lại là nỗi đau của một người lái xe khi phát hiện ra sự phản bội của vợ người đồng nghiệp mà anh hằng kính trọng. Vị rượu "đắng gắt tanh tanh" (Rượu đắng) từ bi đông rượu pha mật gấu mà người chồng tội nghiệp trao cho anh chính là biểu tượng cho sự trớ trêu của lòng tin và sự giả dối trong cuộc đời.
Ở phần Ký và tản văn, độc giả sẽ được gặp một cái tôi Trần Đắc Túc đầy chiêm nghiệm và lịch duyệt. Các bài viết như Ngó lên dáng núi, Làng xưa bạn cũ, Nước chè xanh Xứ Nghệ... thực sự là những bản đồ ký ức về văn hóa và con người Hà Tĩnh. Trong Ngó lên dáng núi, tác giả đã nâng tầm núi Hồng Lĩnh lên thành một thực thể văn hóa thiêng liêng. Núi không chỉ là đá và cây, mà núi là nơi hội tụ linh khí của những bậc danh nhân như Bùi Cẩm Hổ, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ. Việc biểu tượng núi Hồng hiện diện trong bộ cửu đỉnh của nhà Nguyễn: "Anh đỉnh khắc cảnh núi Hồng là năm 1836" (Ngó lên dáng núi) được tác giả nhắc lại như một niềm tự hào kiêu hãnh của người dân Hà Tĩnh. Thông qua dáng núi, người viết muốn gửi gắm thông điệp về sự kiên cường và khí phách của con người miền Trung trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên và lịch sử.
Bản sắc văn hóa của người Hà Tĩnh còn được Trần Đắc Túc khắc họa đậm nét qua bài tản văn Nước chè xanh Xứ Nghệ. Việc uống nước chè không chỉ đơn thuần là giải khát mà đã trở thành một nghi thức giao tiếp cộng đồng độc đáo. Tác giả miêu tả sự công phu trong việc chọn chè, vò chè và dùng nước giếng đất để nấu. Những buổi "uống nác tròn bóng" (Nước chè xanh Xứ Nghệ) trưa hè hay luân phiên tối tối giữa các gia đình trong xóm đã tạo nên một không gian văn hóa ấm cúng, nơi mọi chuyện từ thời sự quốc tế đến chuyện mùa màng đều được chia sẻ. Câu hát "Nước chè xanh xứ Nghệ/Càng chát lại càng ngon" đã phản ánh chính tính cách chân chất, mặn mà và đầy nghị lực của người dân nơi đây.
Vẻ đẹp của lao động và tình nghĩa gia đình trong văn Trần Đắc Túc thường được thể hiện qua những hình ảnh bình dị nhưng đầy sức gợi. Bài tản văn Lửa trấu là một minh chứng cho điều đó. Hình ảnh viên "đá dằn" dùng để ủ bếp trấu âm ỉ cháy suốt đêm ngày là biểu tượng cho sự bền bỉ và cách giữ gìn hơi ấm tình thân. Ký ức về người mự (tên Quế) hằng ngày sang xin lửa và những bóng đen chập chờn trên vách bếp trong những buổi sáng sớm đã chạm đến chiều sâu của sự xúc động về một thời gian khổ nhưng đầy ắp tình người. Trong Mẹ làng quê, tác giả đã dành những dòng văn trân trọng nhất để viết về sự hy sinh lặng lẽ của người mẹ chốn thôn dã. Mẹ nuôi con khôn lớn, cho con đi làm dâu thiên hạ, và đến cuối đời chỉ mong được người con "quạt cho tao vài hôm, nghỉ hưu rồi còn việc gì mà phải bận nữa!" (Mẹ làng quê) để trừ hết công lao sinh thành. Đây là một quan niệm nhân sinh đầy bao dung và cao thượng của người mẹ Việt Nam.
Truyện ngắn Tiếng chợ lại là một khúc nhạc của âm thanh ký ức. Tác giả đã dùng thính giác để phục dựng lại không gian của phiên chợ Nghèn hăm bảy Tết, nơi có tiếng "u u, khi gần như một đàn ong khổng lồ lào rào, khi xa rền âm âm như động bể" (Tiếng chợ), tiếng của sự sống đang trào dâng trong những ngày cuối năm. Những hình ảnh mẹ đi chợ về với đôi quang thúng đầy su hào, cải bắp và những chiếc nồi đất vàng sẫm là những ký ức không thể phai mờ trong tâm hồn của những đứa trẻ quê. Qua đó, tác giả nghiệm rằng, dẫu đi xa đến đâu, tiếng chợ quê vẫn là âm thanh ám ảnh và dẫn dụ người ta trở về với nguồn cội.
Dưới góc độ lý thuyết văn chương hiện đại, văn xuôi của Trần Đắc Túc thể hiện rõ tính chủ thể và sự gắn kết giữa ký ức cá nhân với ký ức tập thể. Tác giả không chỉ kể lại chuyện của mình mà là đang viết lại một phần lịch sử tinh thần của làng quê Hà Tĩnh. Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình đã tạo nên một văn phong mượt mà, giàu cảm xúc nhưng từ ngữ dùng lại hết sức chính xác và khoa học. Nhà văn Đức Ban đã nhận xét rất đúng khi cho rằng văn Trần Đắc Túc là "loại văn xuôi có kết cấu rất chặt, dồn nén, loại văn xuôi mà ngôn ngữ rất tinh tế, rất bộn bề nhưng rất rành mạch" (Nhà văn của làng, phần Dư luận). Ông không chạy theo số lượng mà chú trọng vào chiều sâu của sự nghiệm sinh, mỗi trang viết đều là kết quả của một quá trình lao động chữ nghĩa nghiêm túc và cẩn trọng.
Trong phần Dư luận của tuyển tập, những nhận xét của các nhà phê bình và đồng nghiệp đã làm sáng rõ thêm giá trị của tác phẩm. Tác giả Nguyễn Thị Nguyệt đánh giá cao sự mạch lạc trong lối tư duy và cách triển khai cốt truyện, cho rằng văn ông có khả năng chạm đến những góc khuất của tâm hồn con người. Tác giả Quỳnh Sơn nhấn mạnh rằng: "Trần Đắc Túc đã kịp ghi tên mình vào làng văn làng báo với những dấu ấn đặc biệt" (Người khát khao thắp lửa) thông qua tính chân thực và tinh thần trách nhiệm với nghề. Đó là bản sắc của một nhà văn sinh ra từ làng, viết về làng bằng tất cả tình yêu và trách nhiệm của một trí thức nặng lòng với quê hương.
Một đời đam mê và cống hiến, dù là trong lĩnh vực báo chí, truyền hình hay văn chươngc, Trần Đắc Túc đều để lại những dấu ấn sâu sắc. Những giải thưởng cao quý như Huân chương Lao động hạng Ba, Giải thưởng văn học Nguyễn Du, Giải thưởng của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam... là sự ghi nhận xứng đáng cho những nỗ lực không ngừng nghỉ của ông. Nhưng có lẽ phần thưởng lớn nhất đối với nhà văn chính là sự yêu mến và trân trọng của bạn đọc, những người vẫn tìm thấy mình trong những trang văn đẫm chất sống làng Thổ Sơn của ông.
Kết thúc tuyển tập bằng tản văn Có một đời sông thắp lửa, tác giả đã để lại một dư vị ngọt ngào về dòng sông Nghèn quê hương. Dòng sông ấy hằng đêm vẫn thắp lên ánh lửa lân tinh huyền ảo, như ngọn lửa của hy vọng và sự sống mãi trường tồn. "Sông Nghèn vẫn đợi" (Có một đời sông thắp lửa) và nhà văn Trần Đắc Túc vẫn đang tiếp tục thắp lửa trên những trang viết của mình, dù ở ngưỡng tuổi cận tám mươi. Tuyển tập truyện ngắn, ký và tản văn của ông chính là một di sản văn hóa quý giá, một món quà tinh thần đầy ý nghĩa mà ông gửi lại cho quê hương, cho cuộc đời, minh chứng cho sức mạnh diệu kỳ của văn chương trong việc kết nối con người với những giá trị vĩnh cửu của cuộc sống.
Nhìn lại toàn bộ tập sách, ta thấy hiện lên một chân dung nhà văn Trần Đắc Túc điềm tĩnh, sâu sắc và đầy bản lĩnh. Văn phong của ông lúc thì thủ thỉ như lời tâm tình bên bếp lửa, lúc thì mạnh mẽ như dòng thác lũ, nhưng luôn đằm thắm và tinh tế. Việc ông sử dụng thổ ngữ bản địa một cách linh hoạt không chỉ tạo nên sự gần gũi mà còn góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể của địa phương. Mỗi câu chuyện của ông là một lời nhắc nhở sâu sắc về đạo lý sống, về tình yêu thương giữa con người với con người trong một thế giới đầy biến động.
Tuyển tập Truyện ngắn, ký, tản văn của Trần Đắc Túc xứng đáng là một dấu son trong đời sống văn học Hà Tĩnh năm 2025. Với cấu trúc chặt chẽ, nội dung phong phú và bút pháp nghệ thuật điêu luyện, cuốn sách chắc chắn sẽ còn đọng lại lâu bền trong lòng độc giả. Đó là tiếng nói của một người con của làng, một nhà văn của nông dân, người đã dành cả đời để thắp sáng những mạch nguồn văn hóa truyền thống và khẳng định vị thế của văn chương Hà Tĩnh trên bản đồ văn học cả nước. Ở tuổi U80, nhà văn Trần Đắc Túc vẫn đang "lặng lẽ biết mình", lặng lẽ cống hiến, và ngọn lửa từ những trang viết của ông sẽ còn sưởi ấm tâm hồn bao thế hệ độc giả mai sau.
L.T.P