01-07-2020 - 07:32

Tác giả Lê Văn Tùng

Văn nghệ Hà Tĩnh trân trọng giới thiệu tác giả Lê văn Tùng, hội viên chuyên nhành Văn nghệ dân gian, Hội LHVHNT Hà Tĩnh

 

 

Ngày tháng năm sinh: 9 - 8 - 1940

Quê quán: Thạch Tân, Thạch Hà, Hà Tĩnh

Nơi thường trú hiện nay: Phường Bắc Hà, Tp. Hà Tĩnh.

Nơi công tác: Nguyên là Ủy viên Thường trực HĐND tỉnh Hà Tĩnh, đã nghỉ hưu

 Hội viên Hội LHVHNT Hà Tĩnh, chuyên ngành: VNDG. Năm kết nạp: 2016

  Địa chỉ liên lạc hiện nay:  Số nhà 119, đường Lý Tự Trọng, phường Bắc Hà, Tp. Hà Tĩnh. ĐT:  098 3294 645. Email: levantunght@gmail.com

Tác phẩm chính đã công bố, xuất bản:

- Về nguồn (Nxb Dân Trí, 2012)

- Làng cổ Hương Nao (Nxb Hội Nhà Văn, 2013)

- Địa chí huyện Thạch Hà (viết chung, Nxb Chính trị Quốc gia, 2015)

- Địa chí huyện Hương Sơn (viết chung, Nxb Lao Động, 2015)

- Thời gian (thơ, Nxb Đại học Vinh, 2017)

Giải thưởng: Tặng thưởng Giải thưởng Nguyễn Du năm lần thứ VI (2015)

 

Tác phẩm tự chọn

 

                               VÍ GIẶM HƯƠNG NAO

                       (Trích đoạn tác phẩm “Làng cổ Hương Nao”)     

 

          I. Làng cổ Hương Nao:

          Làng Hương Nao xưa thuộc xã Đại Nài, tổng Thượng Nhị, phủ Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Thạch Tân, Thạch hà). Đại Nài xưa là một xã lớn, đất rộng, người đông, có sông, có núi.... "Đại địa sơn xuyên chung tú khí / Nài giang phong thủy ái kỳ quan". Đôi câu đối ấy trước cổng đình Nủi đã phần nào nói lên điều đó.

          Làng cổ Hương Nao xưa là một địa chỉ ví giặm, đã từng nổi tiếng một thời. Vốn cũ ấy nay đã mất mát đi nhiều, nhưng những gì còn góp nhặt được, tuy ít ỏi vẫn cho ta nhiều điều thú vị. Song trước khi đi sâu vào dân ca ví giặm cũng cần tìm hiểu vì sao một vùng nông thôn nghèo như làng Hương Nao xưa lại trở thành một làng ca hát, làng ví giặm. Bước đầu có thể tìm thấy ba lý do chính sau đây:

          Một là do địa hình đa dạng, phong thủy hữu tình: Từ rất xa xưa không biết tự bao giờ, người Hương Nao đã tự phác họa phong cảnh của làng mình một cách mộc mạc, gần gũi và nên thơ:

          Ai về Nao xã với ta,

          Có giếng tắm mát có cây đa ngồi kề,

          Đất hà rộng rãi vui thê (?)

          Giửa đội đồng cao ráo,

          Có cơn (cây) sanh, cơn gạo,

          Cho chí nhận cơn thông,

          Nom lên giửa đội đồng,

          Có hồ sen Đình Hát,

          Có khe nước ngọt,

          Nước chảy quanh sau làng,

          Có sông cả đại giang,

          Nước thủy triều lên xuống,

          Trông lên đồng Mỏ Phượng,

          Thấy ló (lúa) tốt tứ mùa,

          Trông lên đồng Thờ

          Thấy sơn lâm thổ mộc,

          Đất đã nên đất,

          Đất phú quý lương gia

          Khuyên ai về Nao xã với ta thì về.

          Một làng nhỏ mà có đến sáu chiếc cầu : Cầu Đoài, cầu Hiêu, cầu Quan, cầu Bại, cầu Kênh, cầu Bàu. Bởi vậy đi đâu cũng có thể bắt gặp cái cảnh “Nao nao dòng nước uốn quanh” rồi "Dưới cầu nước chảy trong veo"... rất dễ sinh tình.

          Cái thời "Sông cả đại giang" dần dần cũng bị bồi lấp, nhưng còn lại hai con khe quanh co uốn khúc, tạo nên những nét phong thủy rất hữu tình. Đó là Khe Mưng và Khe Mương.

          Gọi là Khe Mưng vì hai bên bờ là những rặng cây mưng (lộc vừng) chạy dài xanh biếc. Có những cây cổ thụ hai tay người ôm không xuể. Vào khoảng cuối xuân đầu hạ, hoa mưng nở tím đỏ cả một vùng rộng lớn chạy dài hàng cây số đã trở thành những nét ấn tượng đẹp đẽ, gợi nhớ về một làng quê:

          `        Nhớ gì như nhớ Hương Nao,

                   Nhớ hoa mưng tỏa giải đào đung đưa.

                                      (câu hát địa phương)

          Khe Mương: Khe Mương bắt đầu lấy nguồn nước từ bàu Chợ Mới (Thạch Hương), chảy theo hướng đông bắc, quanh cánh đồng Bẹt rồi vòng qua phía sau, ôm lấy ngôi đền Hương Nao, chảy vòng vèo về cầu Quan, đến bến Vực Gồm thì nhập vào khe Mưng. Bến Vực Gồm xưa trên bộ dưới thuyền, hàng hóa ngược xuôi tấp nập:

                   Vực Gồm bến rộng vui thay,

                   Ai người nhân ngãi đến bến này ta chơi

                                      (Câu hát địa phương)

          Bến Vực Gồm nay đã bị vùi lấp san phẳng. Khe Mương cũng chỉ còn lại dấu tích từng đoạn. Tuy nhiên cồn đất chỗ khách ngồi đợi đò qua khe Mương giửa cánh đồng mênh mông gọi là cồn Đò O thì vẫn còn đó, còn trong thực tế và còn cả trong ký ức sâu thẳm của mỗi người dân:

                   Khe Mương thăm thẳm khôn dò,

                   Đò O đưa bạn hẹn hò lứa đôi.

                   O ơi O mất lâu rồi,

                   Đò không còn nữa cát bồi cồn không.

                                      (câu hát địa phương)

          Những bến sông trên bộ dưới thuyền, “những chiếc cầu vẫn nối hai quê", những dòng khe nước lửng lờ trôi, những cây đa giếng nước...... đều là những nơi hò hẹn hữu tình, những địa chỉ, những không gian giao lưu ví giặm.

          Hai là do phong phú đa nghề:

          Người Hương Nao chủ yếu làm nghề nông, nông nghiệp là nghề sinh sống đời nối đời của người Hương nao. Bởi vậy cơ nghiệp chính vẫn là "trâu ruộng", mà trâu ruộng ngày xưa cũng không dễ gì có được, cho nên đa số người dân trong làng phải hình thành những phường hội để đi làm thuê làm mướn như phường cấy, phường cày, phường gặt, phường chè, phường gỗ, rồi đan lát, nuôi tằm kéo sợi ươm tơ..... Lao động thì không chỉ ban ngày, những lúc thời vụ dồn dập họ còn làm việc cả ban đêm như gặt lúa đêm trăng, tát nước đêm trăng..... Trong lao động mệt nhọc ấy họ lấy ca hát làm niềm vui và cũng chính trong những không gian ấy mà ví giặm Hương Nao ngày càng nẩy sinh và phát triển.

          Lao động quần quật quanh năm mà vẫn cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, làm ruộng mà xong mùa thu hoạch là hết thóc hết gạo.

                   Rồi mùa ngoắc hái treo niêu,

                   Cha con sắm sửa bạt xiêu lên ngàn

                                      (hát ví địa phương)

          "Lên ngàn" tức là lên rừng để kiếm sống, có thể đốt than, kiếm củi, đi tìm củ nâu, bứt lá tơi, lá nón, phát rẫy trồng chè..... Những nghề cực nhọc ấy được dân làng gọi là "chui rú, lỏn rần (rừng)", "than lim củi bộ". Nhưng không còn cách nào khác họ vẫn cần mẫn làm và nhắc nhở, bảo ban nhau bằng những lời lẽ thật cảm động:

                   Hai ta chồng củi vợ rào,

                   Nắng ngày mô chặt buộc, mưa ngày nào bán ăn.

          Nghĩa là những ngày nắng ráo phải hết sức tranh thủ vào rừng "chặt buộc", đề không những giải quyết cái ăn hàng ngày, mà củi rào cũng phải ráng làm để cất trử thì ngày mưa gió mới có cái mà trang trải cho cuộc sống được.

          Hoặc:          Mỗi ngày là một chuyến rừng,

                             Đã đi gánh củi thì đừng gánh than.

          Bươn chải qua núi cao đèo giốc để kiếm miếng cơm manh áo thật đổ mồ hôi sôi nước mắt, gánh nặng đường xa, trông cho ra đến cửa rừng để nghỉ chân mà thở dài nhẹ nhõm:

                   Động Cán Mai thì dốc

                   Động Trộ Đó thì dài,

                   Ra đến động Hai Vai,

                   Hưởng được chút gió ngoài,

                   Thậm chừng chi là khỏe,

                   Chi thậm chừng là khỏe.

          Trong bất kỳ trường hợp nào, dù lao động nặng nhọc và vất vả đến mấy, người Hương  Nao vẫn cứ tự tin, lạc quan và ca hát. Trong đó có những câu ca điệu ví tức cảnh, nẩy sinh trong lao động mà vẫn sống mãi với thời gian.

          Ba là do có nhiều sự giao lưu và lễ hội:

          Làng Hương nao nằm vào vị trí trung chuyển giửa miền xuôi và miền ngược nên nhận được sự kết nối giao lưu khá rộn ràng. Phường cấy, phường gặt các làng khác đến với Hương Nao, cấy, gặt, giao lưu rồi lại cùng với các phường của Hương Nao đi sang làm ở các làng khác.

          Dân miền biển đưa hải sản lên bán ở miền ngược rồi mua nông lâm sản về xuôi "Cau về hạ bạn, lên ngàn ruốc re", hầu hết đều nghỉ lại Hương Nao. Từ sự giao lưu nghề nghiệp, giao lưu hàng hóa đến giao lưu tình cảm rồi các cuộc ví hát thâu đêm cũng từ đó mà nẩy sinh. Nhiều nhất là các phường thợ xây Đình Hòe (nay là Thạch Đỉnh). Thời ấy người Đình Hòe làm thợ xây rất giỏi. Hầu hết đền chùa đàn miếu..., trong đó có những công trình văn hóa nghệ thuật đặc sắc còn lưu giữ đến hôm nay đều do những tay thợ Đình Hòe làm. Các phường thợ xây Đình Hòe có khi nghỉ lại Hương Nao hàng tháng, trong đó có những tay ví hát rất hay. Có thể nói những cuộc ví hát để lại nhiều ấn tượng nhất vẫn là những cuộc giao lưu  giửa trai Đình Hòe với gái Hương Nao. Dù cách nay đã hàng trăm năm những câu ca điệu ví ấy vẫn sống mãu với người Hương Nao.

          Ở làng Hương Nao có hai lễ hội đáng chú ý nhất đó là lễ "Xuống mùa" và "lễ Kỳ phúc lục ngoạt".

           Lễ Kỳ phúc lục ngoạt hàng năm được tổ chức vào ngày 14, 15 tháng sáu âm lịch. Ngày 14, các làng long trọng rước kiệu thần về hội đồng tại Đình Nủi (Đình của xã).  Bởi vậy dân làng quen gọi ngày lễ này là ngày "làng rước hội đồng".  Lễ tế của xã long trọng suốt đêm 14.  Ngày 15 làng rước kiệu thần về làm lễ kỳ phúc tại đền làng.  Lễ tế, lễ rước đều hết sức lộng lẫy trang trọng, hàng hoá bày bán la liệt.  Đây cũng là ngày hội vui nhất của cả làng. Trai gái trong làng náo nức chờ đến ngày này để được mặc bộ quần áo đẹp nhất của mình, để được hò hát, được gặp gỡ, giao lưu với bè bạn, dù chỉ trao gữi cho nhau bằng ánh mắt thầm kín cảm thông.

Gái trai đầy nụ đơm hoa,

   Yêu nhau tiếng hát lời ca hội đồng.

           Ngày lễ Kỳ phúc của làng Hương Nao, dân các làng bên cũng đến xem đông lắm.  Rất nhiều trò chơi được tổ chức như: cờ tướng, cờ người, chơi đu, cầu kiều, vượt cù (bóng rổ), thả diều sáo…. Đặc biệt diều sáo rất nhiều, thả suốt cả ngày lẫn đêm, sáo diều đủ các loại âm sắc, nghe rất vui tai.  Diều ai bay cao nhất, sáo hay nhất sẽ nhận được phần thưởng của làng.

Có những thanh niên mãi mê theo diều sáo, quên cả lời hẹn hò với bạn đã bị bạn gái gữi lời trách móc bằng một câu ví thiết tha và tế nhị :

Trông chàng, chàng nỏ xuống cho,

   Diều bay cao diều liệng, sáo vo vo thêm cực lòng.

Giao lưu bằng ca hát:  Hát ví, hát dặm, hò khoan... vốn là một nét đẹp truyền thống của làng, những ngày hội này lại càng nở rộ. Từng nhóm, bên nam, bên nữ, hát đối đáp, hát mừng, hát thăm dò, hát giao duyên… thâu đêm không dứt. Nhiều đôi trai gái gặp nhau từ lễ hội này mà sau nên đôi vợ chồng hạnh phúc.

 

II. Ví giặm Hương Nao:

Ví dặm H­ương Nao khá phong phú và đậm đà màu sắc địa phương, có loại được sáng tạo tại chỗ, có loại du nhập ngoài vào rồi cải biên bổ sung thêm cho hợp tình hợp cảnh. Tác giả của những "tác phẩm" này th­ường là những người lao động không học hành nhưng thông minh, ngẫu hứng "xuất khẩu thành thơ". Đến nay ngư­ời H­ương Nao vẫn nhắc đến tài sáng tạo,ứng đối nhanh của các vị nh­ư Ông Kế, Ông Cương, Cố Vựng, Bà Hương Vịnh, O Tửu Chuyển, Cố Vượng… Tuy nhiên cũng có những câu những bài của các vị có học, họ làm để ngâm vịnh, để chúc mừng, để gỡ bí cho các phe đối đáp hoặc để nói hộ những tấm lòng muốn trao gửi cho nhau. Các làn điệu dân ca thịnh hành ở Hương Nao có nhiều, nhưng phổ biến nhất là hát ví, hát giặm.

- Hát ví, hát giặm: Đây là hai loại dùng hai thể văn khác nhau, cách trình diễn cũng khác nhau. Tuy nhiên trong mỗi cuộc hát hai loại này th­ường được kết hợp với nhau, các nghệ nhân x­ưa trong một buổi trình diễn của mình cũng thường gắn kết nhuần nhuyễn cả hai loại nên người ta thường gắn hai loại này lại với nhau thành: ví giặm.

          Không gian, thời gian của ví giặm Hương Nao là rất rộng mở. Quanh năm lúc nào cũng có tiếng hát ví hát giặm. Ban ngày, ban đêm, lúc nông nhàn rảnh rổi hay giửa lúc nông vụ tấn thì, lúc đan lát, quay sợi hay gánh củi trèo non.... Mọi nơi, mọi lúc, mọi môi trường đều có thể là không gian ví giặm Hương Nao.

          Hát ví: Đây là lối hát hoa tình, giao duyên nam nữ rất thịnh hành ở Hương Nao vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Lời hát ví thường là câu lục bát, lục bát biến thể hoặc song thất lục bát, đ­ược cất lên với nhạc điệu khoan thai, trong trẻo, nghe  rất man mác, thân thiết, ân tình, nhất là trong những đêm trăng, đêm hội. Ca từ của hát ví mang đậm  màu sắc địa ph­ương nhưng cũng không kém phần chải chuốt, mư­ợt mà, mang đậm chất ca dao.

          Hát ví H­ương Nao có thể diễn ra trong những trường hợp khác nhau. Loại hình lao động nào cũng có thể hát ví đ­ược, nhưng âm điệu có chút khác nhau như ví đò đưa, ví ph­ường cấy, ví phường gặt, ví trèo non, ví phường chè, ví hò khoan… Hát giao duyên thì sôi nổi nhất là ngày hội "Kỳ phúc lục ngoạt", hoặc những đêm trăng thanh gió mát, trai làng khác kéo đến hát với gái H­ương Nao.

          Thời x­ưa trai gái vùng kẻ bể gồm các xã Đình Hoè, Đan Trản… thường có nhiều cuộc hát ví với Hương Nao. Họ đ­ưa hải sản cá, ruốc biển, tôm, cua,… lên bán, hoặc lên làm thợ nề rồi nghĩ lại. Từ giao lư­u hàng hoá dẫn đến giao lưu tình cảm và nhiều cuộc hát ví đậm đà tha thiết cũng từ đó nẩy sinh.

Các cuộc hát giao duyên th­ường có màn dạo đầu bằng hát chào, hát hỏi. Quyết liệt và kéo dài nhất là phần thứ hai:  Hát đố , hát đối. Hết chặng này hai bên đã tỏ ra thân thiết, chuyển sang phần thứ ba là hát xe kết, tỏ tình, cuối phần này họ có thể mời khách vào nhà ăn trầu uống nước và cuối cùng là phần hát tiễn:

- Anh về nước mắt dòng dòng,

Thấu thiên, thấu địa, thấu lòng em chưa.

          - Ra về chín nhớ mười thương,

   Bước chân lên ngựa cầm cương dùng dằng.

 

Hoặc:                              - Ra về mỗi bước một dừng,

                                Em nhớ người trai bạn mắt rưng rưng hai hàng.

                                      - Ra về mỗi bước một khơi,

                                 Anh  nhớ người thôn nữ nước mắt rơi khôn cầm.

          Đó là một cuộc hát mỹ mãn. Tuy nhiên cũng có những cuộc hát bỏ dở nhưng lại rất ấn tượng.  Đó là một lần khi các chàng trai Đình Hoè đứng ngoài đường sau phần dạo đầu vừa chuyển sang phần hát đố, bị một cô gái Hương Nao từ trong nhà hỏi vọng ra một câu có vẻ rất chữ nghĩa:

        Nghe chàng học sách Kinh Thi,

Con cá nằm dưới bụi cỏ hỏi trự (chữ) chi rứa chàng.

(Đó là chữ "Tô", trên có bộ thảo, dưới chữ  ngư­ là cá)

Các chàng trai Đình Hoè biết ngay các cô gái Hương Nao trong nhà có "cố vấn cao cấp", lĩnh vực hóc búa này sẽ không chọi nổi, bèn đánh một quả liều rồi im lặng rút lui, bỏ cuộc:

       Anh đây học sách kinh Tàu,

Con cá nằm dưới bụi cỏ, chấm nước rau cũng bùi.

Các cuộc ví hát đối đáp giao duyên, tình tứ có nhiều, nhưng có lẽ ấn tượng nhất, để lại trong trí nhớ của ng­ười dân Hương Nao nhiều nhất vẫn là các cuộc ví hát giao l­ưu giữa trai gái Hương Nao với trai gái  Đình Hoè, Đan Trản (nay là Thạch Khê, Thạch Hải). Chỉ cần một thoáng gặp nhau, vừa nhìn thấy nhau là họ đã có thể hỏi chuyện nhau bằng những câu ví tha thiết ân tình. Một lần cô gái Hương Nao, trên đường đi gặt về, trên vai còn gánh lúa nặng, khi qua bến nước Cố Nhì thấy mấy chàng trai thợ xây Đình Hoè có lẽ vừa ăn cơm trưa xong, đang đứng dưới bến tay cầm bát đĩa, cô bèn cất ngay một câu ví:

                                      - Khe Mưng bên lở bên bồi,

                                 Răng anh lo vẹm lo nồi rứa anh.

Các chàng trai Đình Hòe cũng rất nhanh miệng:

- Khi nào gặt hái xong rồi,

                                  Thì anh giao vẹm, giao nồi cho em.

          Một lần khác, bên con gái biết các chàng đều theo nghề sông nước, bèn  ướm hỏi tr­ước:

- Nước lên cuốn sáo nhổ đăng,

  Việc trong gia sự bất bằng ai lo.

Bên nam tức thì trả lời:

- Nước lên cuốn sáo nhổ đò,

  Việc trong gia sự muốn em lo cho mới đành.

Bên con gái tiếp:

- Đây về Hoè xã mấy đò,

  Nói cho em biết để em lo đồng tiền.

Bên nam:

- Đây về Hoè xã đàng (đ­ường) liền,

  Tiền nong chi anh chịu, nỏ mần phiền đến em.

Bên gái:                         

- Trầu cay ăn với hạt hèo,

                                Em về biển giả biết chống chèo mần răng.

Trai Đình Hòe cũng chẳng kém:

- Anh mong tương tạo hai nghề,

                                Lặng thì biển giả, động về quê ta cấy cày.

Một o khác ví trách:

- Bấy lâu nay anh buôn bán vào ra,

   Cội thung huyên em thác răng anh mà nỏ viếng thăm.

Chàng trai Đình Hoè có vẻ ngạc nhiên, sửng sốt:

          - Nghe em nói mà dạ anh cứ lờ đờ,

   Ô hô! núi Hoành Sơn ta lở bao giờ rứa em.

Bên con gái lại tiếp:

                                        - Rồi mùa toóc rạ rơm khô,

                                Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm.

Sau một hồi lâu cứ bên nữ hỏi, bên nam đáp lại, khá trôi chảy, đến đây, bên con trai nhân lúc bên gái hỏi một câu rất hay, nhưng hơi bâng quơ một chút, bèn chuyển nhanh sang thế tấn công trước để khỏi bị động:

     - Em về Hoè xã với anh,

Khoai trồng ra lắm cổ (củ), ló (lúa) tốt xanh chờn vờn.

      Nhà  anh cận thuỷ, cận sơn,

Đ­ược phong hoà vụ thuận,  nỏ mô hơn Đình Hoè.

Câu ví có phần tự phụ, làm chạm vào tự ái của người H­ương Nao, nhất là các chàng trai, Ông  Cương  gà cho o Tửu Chuyển đáp ngay:

- Xin chàng lặng lặng khoan khoe,

                        Thiếu chi người trửa (giữa) xạ (xã) em về Đình Hoè với anh.

Biết là ló ( lúa) tốt, khoai xanh,

    Hay là phèn chua, nước mặn để em qua ngành cho uổng công.

Một đêm khác, mấy cậu con trai làng bên đứng chơi nơi Cống Đoài, một địa điểm vừa có đ­ường quan, vừa có bến nước khe Mưng rất mát mẽ, ý muốn khởi sự một cuộc hát ví. Trong đám ấy có một người đã có vợ con được mời đi lẫn trong đám con trai để làm cố vấn. Phát hiện được điều đó, cô gái Hương Nao nổ ngay một câu:

Khe Nao chín khúc hồi nai,

Gái thương dòng dòng được, thương trai trai mừng.

Biết đối phương đã phát hiện ra chỗ yếu của mình, lực lượng chủ công đã bị lộ, "ông cố vấn" rút lui ngay, cuộc hát không thành.

Ví hát cũng có khi chẳng cần hội hè, chỉ ngẫu hứng.  Một lần cố Hoành hồi còn trẻ ở lính, về thăm nhà, vẫn mặc bộ đồ lính thời ấy, đang trên đường đi, bất chợt hai cô gái đang cấy dưới ruộng cất giọng ví hỏi:

- Trên đầu thì nón lá quai dong,

 Áo nâu non nhuộm nghệ có pha trong đằng đằng.

Cửa nhà gia thất bất bằng,

Cớ sao anh phải xung xăng chốn này.

Anh lính khố xanh ấy cũng rất nhanh trí, ứng khẩu kịp thời:

- Cửa nhà gia thất thuận hoà,

Ra đàng lễ nghĩa về nhà lanh chai,

Anh đây vốn thể đang trai,

Thiếu người nội trợ trong ngoài tìm đi,

Tự nhiên gặp được hai dì,

Ông trời kia đã định số tử vi ta rồi.

Một o khác lại tiếp:

Ba m­ươi anh không đi tết,

Mồng một anh nỏ đến cựa (cửa) nhà thờ

Hỏi tình duyên mô có mà đợi chờ cho uổng công.

Anh lính đáp:

- Ba mư­ơi anh đang mắc (bận) lau chùi súng đạn,

Mồng một anh sửa soạn lên đ­ường,

Công cha anh cũng bỏ huống chi nghĩa nường, nường ơi.

Hai dì chưa có câu tiếp, kẻ dưới ruộng người trên bờ, không tiện chờ đợi lâu hai dì tiếp luôn một câu nhắn gửi:

- Có thương thì gửi bức thư­ phong,

Trăm năm vàng đá dặn lòng chớ quên.

         Ví hát cũng không chỉ dừng lại trong lứa tuổi thanh niên và đóng khung trong mỗi cuộc chơi mà nó còn liên quan đến cả các bậc phụ huynh nữa. Một hôm anh  học trò, nhà khá giả, cùng theo hội ví hát, được một cô gái hỏi trực tiếp một câu có đượm chút trêu chọc:

Mấy lâu nay có đèn sách chi không,

Hay là cái phận canh nông bốn mùa.

Anh học trò cũng trả lời nhanh:

Nhà anh nửa sỹ nửa nông,

Muốn em về nội trợ để anh liều công học hành.

Câu hát đến tai ông bố, tức cố Thừa Canh, cụ phê bình ngay ông con: đối đáp như thế là nhanh nhưng còn non lắm. Con đường học vấn của mình là phải có ý chí, phải thể hiện chí làm trai, cần gì phải "em về…" mới học được, tại sao không đáp:

Nông giả là bản giã ơ dì,

Không theo nghề trâu rọng (ruộng) lấy chi ăn mà học hành.

(Nông giả, bản giã: ý nói nghề nông là gốc, là cội vậy). Một lần khác, gặp người con gái ấy đi bắt cáy về, sau nụ cười và cái nhìn thân thiện, đằng xa, cậu học trò cất giọng bông đùa trư­ớc:

- Người ta bắt cáy đầy oi,

Sao em bắt được nạm cáy ròi rứa em.

      (Ròi: ruồi, tức loại cáy rất nhỏ)

Cô gái cũng tỏ ra rất đáo để:

- Bụng em buồn nhớ thầy nho,

Bốn tay chân rụ mỏi ai bắt cho mà đầy.

Câu đáp của cô gái rất thông minh, tình tứ nhưng cách bày tỏ tình cảm hơi lộ, sợ xấu hổ với bạn bè, cô rẽ ngay vào một lối ngang đi luôn không tiếp tục giao lưu nữa. Cũng không rõ đôi trai gái này họ theo đuổi nhau đến đâu, có nên đôi vợ chồng được hay không, không thấy các cụ kể lại.

Một người con trai xã Trung Tiết, đến Hương Nao nhân gặp cuộc ví hát, cũng muốn tham gia. Trước hết anh muốn tự giới thiệu quê hương mình là một xã lớn, một vùng văn vật:

Hai Kinh, ba Hậu với Văn Yên,

Phú, Quý, Trung Cần Hội tại Tiền,

Gặp nàng ta phải giao duyên với nàng.

(Hai Kinh là: Kinh Thượng, Kinh Hạ; ba Hậu là: Hậu Thượng,Trung Hậu, Hậu Hạ; Phú là: Phú Hào; Quý là: Khang Quý; Tiền là: Tiền Bạt, Hội là Liên Hội, cộng với Văn Yên, Trung Cần nữa là mười một thôn tất cả. Đó là một xã lớn). Làng Hương Nao thuộc xã Đại Nài, cũng là một xã lớn, có bảy thôn và một vùng Ba Trại, tuy rất khó ghép thành thơ nhưng gái H­ương Nao vẫn ứng khẩu được:

H­ương Nao, Thiện Niệm, Mỹ Trai,

Nài Xuyên, Nài Thị, Nủi Yên, Nủi Cầu,

Quê em Ba Trại bảy thôn,

Gặp chàng em cũng giao ngôn với chàng.

Một anh chàng rất nghèo, thường xuyên phải đi chặt củi về bán kiếm ăn. Một hôm bên gánh củi anh còn đèo thêm cái thớt nữa để mong kiếm thêm ít đồng, vậy mà khi cần anh vẫn ví hát ứng đối rất nhanh. Khi đi qua Cồn Noi, một cô cắt cỏ bên đường đã ví chọc anh:

- Củi anh gánh mà thớt anh đèo,

Đem về gia dụng hay là đỡ nghèo rứa anh.

Mặc dầu trên vai gánh nặng anh vẫn trả lời ngay:

- Củi nhẹ thì thớt anh đèo,

Mai về cưới vợ làm thịt heo anh vằm.

Gánh nặng, đ­ường dài đang mệt như­ng gặp người con gái có vẻ thân thiện, anh vẫn đặt gánh xuống để cùng giao l­ưu đối đáp. Sau mấy câu qua lại, đang vui vẻ, tình cảm, người con gái bỗng chỉ thẳng vào cái nghèo của anh:

Dù cho sơn gắn nhợ rền,

Anh quen em cho mệt, chưa có tiền chưa xong.

Anh chàng nghèo nổi máu tự ái, nói liều một câu rồi gánh củi về thẳng:

                             Rọng (ruộng) anh bách mậu chi điền,

                             Cò bay thẳng cánh thiếu chi tiền cưới em.

          Rõ ràng ở bất kỳ không gian nào, với bất kỳ hình thức lao động nào, người Hương Nao cũng có thể giao lưu với nhau bằng ví giặm.

          Dưới con mắt của người con gái Hương Nao thời ấy họ thích người mình yêu phải có chút học hành, phải tham gia việc nước, kể cả đi lính. Ví như:

                             Anh về đi học ba khoa,

                             Ruộng ba nơi sáu mẫu có mẹ cha dạy mình.

          Hoặc:          Anh thì chăm bút chăm nghiên,

                             Em chăm trâu, chăm ruộng khỏi buồn phiền mẹ cha.

          Họ mơ ước có cảnh sống êm đềm, chồng lo học hành, vợ ươm tơ dệt vải:

                             Anh về đi học ba bài,

                             Nhà trong bông vải, nhà ngoài bút nghiên.

          Hoặc:          Anh về đi lính cho vua,

                             Việc gia trung có mẹ, việc sớm trưa có thầy.

          Phải nói con gái vùng quê này từ thời xa xưa đã có một quan niệm về tình yêu rất tiến bộ. Thời ấy lễ giáo phong kiến còn buộc chặt, cha mẹ bảo yêu ai, lấy ai là con nhất nhất phải nghe theo. Vậy mà họ vẫn cho rằng trong yêu đương thì tình cảm của người con gái mới là yếu tố quan trọng nhất, sau đó mới đến sự đồng tình chấp nhận của gia đình. Chẳng hạn:

                             Cỗ bồng trang anh đặt giửa mâm chân quỳ,

                             Dù thầy gai mẹ gạn mà em chưa ỳ (đồng ý) cũng chưa xong.

          Và:              Đôi bên thầy mẹ có thương,

                             Dù nước khe muốn chảy mà mương chưa đào.

          Con gái vùng này thời xưa thường lấy chồng trước hai mươi tuổi, rất sớm, còn khi đã lên hâm mốt, hâm hai... rồi là đã thuộc vào diện chậm chồng, "ế chồng", bắt đầu phải nhận những lời nhắn nhe chê cười:

                             Gửi lời nhắn khách tri âm,

                             Khi mười nỏ liệu, khi hâm cháy nồi.

          Tuy nhiên, họ cũng rất ngại ngùng với tục lệ tảo hôn thời đó còn phổ biến:

                             Tóc em chưa chấm ngang lưng,

                             Chộ (thấy) cơi trầu be rượu em nửa mừng nửa lo.

          Trong yêu đương người con trai, con gái bao giờ họ cũng thể hiện sự chân thành, không bắt cá hai tay:

                             Chỉ tơ thắt múi kim tằm,

                             Ba bốn nơi đón nẻo chỉ dốc lòng một nơi.

Họ tỏ tình với nhau rất chân thành, nhưng không sỗ sàng, trái lại rất bóng gió, tế nhị:

                             Chiều chiều đổ ló (lúa) ra quây,

                             Bạn về nhà bạn hạt lúa nầy ai tuôn.

          Hoặc           Chỉ tơ thắt múi kim ty,

                             Anh nhớ người chốn cũ tìm đường đi lối về.

Còn khi bắt buộc phải khước từ nhau để xa nhau họ cũng rất ví von tế nhị:

                             Thôi thôi ngư trả biển vàng,

                             Cá lui về sông Vịnh, chim ngược ngàn tìm đôi.

          Hát ví Hương Nao thịnh hành nhiều trước Cách mạng Tháng Tám, sau Cách mạng Tháng Tám có xu hướng chuyển sang hò. Nội dung hò một phần cũng tương tự như ví thời xưa, nhưng phần nhiều mang tính thời sự, phục vụ công cuộc kháng chiến kiến quốc. Tình yêu trai gái cũng được gắn vào công việc chung, gắn vào sự nghiệp lớn lao của cả làng nước.

          Hát giặm:

"Giặm" là một thể loại văn học - âm nhạc dân tộc, giàu sắc thái địa phương nhất... Từ "giặm" về ngữ nghĩa cho đến bây giờ vẫn mơ hồ. có người cho rằng nó xuất phát từ tính cách phân đoạn của bản thân hát giặm…. có người lại cho rằng xuất phát từ tính cách chắp vần và láy lại của một khúc hát trong đối thoại" (địa chí VHDG Nghệ Tĩnh), hoặc dặm là láy lại và thêm vào (từ điển Hà Tĩnh), tức là giắm vào. Có người lại cho rằng giặm là giẫm (Giẫm chân), vì vừa hát vừa đánh nhịp bằng chân…. Những cách giải thích này đều chưa đủ thuyết phục, nhưng đến nay vẫn chưa thấy có cách giải thích nào khác. Cách hát giặm thường có ngâm mà không có rung, nghe cứ đều đều.

          "Dựa theo một số bài hát giặm còn sót lại, tạm có bằng chứng cho rằng giặm đã tồn tại từ thế kỷ XVIII…, nhưng dựa theo nhạc điệu thì có thể ngờ rằng giặm bắt nguồn từ một loại động tác lao động nào đó xuất hiện từ xa xưa, có liên quan đến phát âm của xứ Nghệ. Ngoài ra giặm có thể liên quan đến một điệu hát nào đó của đồng bào thiểu số vốn có giao l­ưu văn hoá với người Kinh xứ Nghệ xưa"… (Địa chí VHDG Nghệ Tĩnh). Như vậy là nguồn gốc, thời gian ra đời đến nghĩa của chữ  "giặm" vẫn chưa thật rõ ràng.

          Về cấu trúc, một bài hoặc một khổ giặn thường có năm câu, mỗi câu năm chữ, gieo vần chân: Câu 1 trắc, câu 2, câu 3 bằng, câu 4 trắc, câu 5 láy lại (điệp) cũng trắc như câu 4. Tuy nhiên đó cũng chỉ là "nguyên tắc" cho các sáng tác có chủ định trước hẳn hoi kiểu như:

Ai khun (khôn) bằng Từ Hải,

Cũng mắc dại Thuý Kiều,

Nghe lời nói mà xiêu,

Về thu binh cuốn dáo,

Hạ cột cờ cuốn dáo.

Hát giặm Hư­ơng Nao, nhất là khi hát đối đáp ứng khẩu thì biến thể và linh hoạt lắm. Có khi năm sáu câu liên tục đều bằng rồi mới đến một câu trắc:

Rơm cũng đã rả rồi,

Toóc (rạ) cũng đã rả rồi,

Dừ tui về một nơi,

Mự ở lại một nơi,

Mai đường sá xa xôi,

Tui về không gặp mự…

Và cũng có khi cả toàn bài hàng chục câu, thậm chí hàng trăm câu đều bằng cả, cuối cùng câu kết mới dùng vần trắc. Loại này khi hát gây một âm điệu đều đều, lâng lâng kéo dài, trong một hoàn cảnh phù hợp nào đó cũng rất gợi cảm. Cũng tuỳ theo môi trư­ờng diễn xư­ớng và thói quen cảm thụ của từng vùng, mà về tiết tấu hát giặm có ít nhiều khác biệt, do đó mà các nhà sưu tầm, nghiên cứu âm nhạc thư­ờng gọi hát giặm theo nhiều tên riêng biệt: Giặm nối, giặm xẩm, giặm kể, giặm ru… Có ngư­ời lại gọi tên theo môi trường diễn x­ướng: Giặm đò đưa, giặm trèo non, giặm đường trường, giặm đối đáp….

          Hát giặm Hư­ơng Nao có thể xẩy ra trong bất kỳ loại hình lao động  nào: cấy, gặt, tát nước đêm trăng, đi hái chè, hái củi …Trong đó  có cả hát mừng, hát trách, hát xe duyên, hát đối đáp… Nhưng sôi nổi rộn ràng nhất vẫn là ngày hội "Kỳ phúc lục ngoạt" mà trong đó vui nhất là đêm 14 sáng rằm và đêm rằm sáng 16 tháng 6 âm lịch, từng tốp, từng tốp, ví, giặm thâu đêm. Hư­ơng Nao có nhiều ngư­ời hát giặm giỏi, ứng khẩu nhanh, nhưng nổi tiếng nhất là ông Kế ở xóm Bẹt và ông Cương ở xóm Đông. Hai ông đã đi xa gần thế kỉ nay rồi mà dân Hương Nao vẫn còn ca ngợi:

…"Lời ca ông Kế lòng ngư­ời mệt mê.

Vợ chồng có chuyện bỏ chê,

Nghe ông Cư­ơng hát chạy về với nhau"…

(Thơ ông Thích).

Ông Cư­ơng ngư­ời họ Trần Quốc, ở xóm Đông, làng Hư­ơng Nao, ông sinh vào khoảng những năm đầu của thế kỉ XX, thuở nhỏ nhà nghèo phải đi ở, lớn lên ông tham gia vào hội buôn trâu bò, giao du rộng rãi khắp các huyện trong tỉnh nên rất nhiều bạn bè. Ông là ngư­ời có tài hát ứng khẩu rất nhanh. Phần nhiều ông hát xe duyên, hát mừng, hát chúc tụng…, cũng có lúc hát đùa, dẫn đến đôi bên rất nặng lời với nhau như­ lần hát với các bạn người Đình Hoè. Ông có giọng hát êm ái, lưu luyến, rất có duyên, lời hát giàu chất thơ, lãng mạn, ông không biết chữ Hán như­ng cũng có khi vận dụng đư­ợc cả điển tích rất hay, làm cho nhiều ngư­ời cảm mến sau cuộc hát đã mời ông vào nhà uống rư­ợu. Cũng vì ông hát nhiều, nhanh, nên sau các cuộc hát ông thường không nhớ mình đã hát những gì nữa, chỉ có ngư­ời hâm mộ mới nhớ mãi các bài hát của ông. Không chỉ sống ở quê, mà đến đâu gặp hội hát ví ông cũng tham gia. Một lần đến xã Mỹ Duệ, huyện Cẩm Xuyên, gặp đám hát đang sôi nổi, ông cũng chen vào luôn. Trong đám hát có một chị goá chồng, xinh đẹp, hát hay, mặc dầu ông Cư­ơng ngư­ời nhỏ nhắn, đầu trọc, nhưng có lợi thế hát rất có duyên, nên dù ở xứ lạ ông vẫn dám bông đùa với cô nàng ấy:

…Con tui cũng có rồi,

Vợ xấu tốt cũng một đôi,

Dừ chộ (thấy) đất tốt cát bồi,

Xin trồng thêm cảnh nựa (nữa),

Cho tôi trồng cảnh nựa,…

Người nghe vui quá gọi nhau: "Ra mà coi, có anh đầu trọc như cái gáo dừa mà hát hay đáo để".

          Một lần trong đêm hội Kỳ phúc lục ngoạt của làng, ngư­ời tham gia đông lắm. Không chỉ ngư­ời Hư­ơng Nao, mà cả những làng, xã lân cận cũng đến xem. Đêm đã khuya, một o ngư­ời Hư­ơng Bộc (xã bên cạnh), cũng một tay hát rất hay, buông một câu tình tứ muốn kết thúc cuộc chơi, vừa mới dứt lời, ông Cư­ơng (lúc đó đã có con, gọi là ông Cháu Cương) tiếp vần của người con gái Hương Bộc hát luôn:

…Ta vui chợ vui đư­ờng,

Dù tình nghĩa có vấn vư­ơng,

Dừ cư­ởi (sương) lạnh canh trư­ờng,

Em về với ngư­ời thư­ơng,

Kẻo rồi sinh tiếng ghen tuông,

Quăng hết chọng, hết dư­ờng,

Chồng đạp đuổi ra ngoài nư­ơng:

"Răng không ở đó với Cháu Cư­ơng,

Về mần chi đây nựa (nữa),

Trở về mần chi nựa"…

Cả đám hội vỗ tay reo ầm lên, dù đêm đã khuya như­ng cuộc hát không những không tan mà mỗi lúc lại càng thêm sôi nổi.

          Hồi ấy ở trong làng, có một o chư­a chồng, đẹp gái, nhiều ngư­ời dạm hỏi như­ng chưa nhận lời với ai. Bỗng dưng, tiếng ồn lên chị đã có thai, rồi gièm pha lời qua tiếng lại. Ông đã hát thanh minh hộ chị:

                 …Có mần chi nên tội,

Mà nặng nhẹ gièm pha,

Khôn cũng thể đàn bà,

Dại cũng thể đàn bà,

Bư­ớc ngọn cỏ không qua,

Sang ngọn lùng khó khỏi,

Vấp ngọn lùng khó khỏi…

Không biết có phải nhờ tấm lòng nhân ái, bao dung trong lời hát của ông không mà từ đó lời gièm pha cũng lắng dần, rồi chị cũng xây dựng đư­ợc gia đình đoàn tụ, hạnh phúc.

          Lại một lần khác trong làng có đôi trai gái yêu nhau, như­ng cha mẹ đôi bên còn ngại về tuổi tác, duyên số, chư­a ưng thuận cho. Nhân mùa gặt, có đám hát, ông hát bàn với hai ngư­ời cách giải toả bế tắc đó:

      …Muốn vẹn chữ nhân duyên,

Đ­ưa nhau đến cửa đền,

Anh quỳ xuống một bên,

Chị quỳ xuống một bên,

Khấn Hậu thổ Hoàng thiên,

Xin cho vẹn đạo bách niên,

Tay cầm lấy đồng tiền,

Dành giữa đĩa hoa hiên,

Đ­ược trự  xuống (đồng sấp), trự lên (đồng ngửa),

Y đư­ợc lời sở nguyện,

Đ­ược như lời sở nguyện…

Nghe nói sau hai ngư­ời đã đến xin tại đền Hư­ơng Nao và không những đã lấy được nhau mà còn có cuộc sống sum họp đến già "như lời sở nguyện".

          Ngược lại với sự vun đắp xe kết, thì hát giặm cũng có khi làm cho những đôi trai gái tuy đã hẹn ước rồi vẫn nản lòng ái ngại. Đó là trường hợp có một o trong làng sắp lấy chồng xa về Hương Bộc, nhân đêm hát đã được ông Cương tặng mấy vần tuy đầy "cảm thông" nhưng cũng gây nhiều "xao xuyến":

                   Số chị lấy chồng ngái,

                   Số chị lấy chồng xa,                

                   Con muốn về nhà mẹ,

                   Cháu muốn nhởi nhà bà,

                   Trời lụt lội mưa sa,

                   Ông ngồi cữa sổ trông ra,

                   Bà ngồi cữa sổ trông ra,

                   Con ai giống con ta,

                   Cháu ai giống cháu ta,

                   Chộ nước lụt băng hà,

                   Nhỏ hai hàng châu lệ....

Nghe nói đêm ấy "nhân vật chính" trong bài giặm này đã khóc và sau đó thay đổi ý định của mình.

Người Hư­ơng Nao nhớ mãi về một đêm hát đối đáp giữa trai gái Hư­ơng Nao với trai gái Đình Hoè. Cuộc hát đang thắm tình bè bạn, bỗng không khí đổi khác ngay vì một câu ví của chàng trai Đình Hoè:

Em về Hoè xã với anh,

Khoai trồng ra lắm cổ (củ), ló (lúa) tốt xanh chờn vờn,

Nhà anh cận thuỷ cận sơn,

Đ­ược phong hoà vũ thuận, nỏ mô hơn Đình Hoè.

Cái ý "nỏ mô hơn Đình Hoè", đã làm chạm tự  ái các chàng trai Hư­ơng Nao. Mặc dầu ông Cư­ơng đã gà cho một o ví đáp rất dí dõm rồi vẫn chư­a hả, ông chiếm lấy "diễn đàn", chơi luôn một bài giặm kéo dài cho đến hết cả thời gian không cho ngư­ời Đình Hoè chen vào đâu đư­ợc nữa. Bài Giặm toàn vần bằng và cũng chỉ có một vần  e từ đầu đến cuối:

Ai chư­a biết Đình Hoè,

Tui đã đến Đình Hoè,

V­ườn nỏ có cau tre,

Vài cơn lau le te,

Nước thì mặn the the,

Toàn ở nôốc với nằm ghe,

Nhà nỏ có buồng the,

Hồi nỏ có cái tranh che,

Muỗi thì kêu vo ve,

Ấm nỏ có miếng nước chè,

Cứ đi nói láo với nói khoe,

……

Các chàng trai Đình Hoè ấm ức lắm, nhưng nguyên tắc hát đối đáp khi đối phương chưa dứt thì không được cướp lời, đành nuốt giận trở về, chờ cơ hội khác. Và sau đó người Đình Hoè cũng tìm đ­ược cơ hội phản công ông quyết liệt lắm.

          Nếu ông Cương đã "vùi dập" người Đình Hòe bằng một bài giặm trường thiên vần "e", thì người Đình Hòe cũng đã tìm được dịp phản công ông bằng một bài giặm vần "ương" rất sâu cay và sắc sảo:               

                   Ai chưa biết Cháu Cương

                   Tui đã biết Cháu Cương

                   Người được một nạm xương

                   Cứ đi đêm về sương

                   Vườn cỏ mọc đầy nương

                   Nhà nỏ có chọng dường

                   Bàn thờ nỏ có một cơn hương

                   Bếp, ba ông núc bổ ba phương

                   Tính dở dở ương ương

                   Làng xóm nỏ ai thương

                   .........

          Chỉ có điều ông Cương đánh vào trai Đình Hòe là một màn "độc diễn", nghĩa là chỉ một mình ông chiếm lĩnh diễn đàn, còn người Đình Hòe đánh lại ông thì phải đánh "hội đồng", nghĩa là phải cả phường thợ xây hợp tác với nhau mới chọi lại được.

           Ở  Hương Nao có nhiều người hát, ví giỏi, có người sáng tác hay, có ngư­ời ứng khẩu nhanh, ngư­ời thì chất giọng tốt, như­ng có năng lực toàn diện như ông Cương thì rất hiếm. Khối lượng ví giặm của ông để lại là rất phong phú, như­ng chỉ truyền miệng trong dân gian nên bị mất mát và biến dạng đi nhiều. Mặc dầu vậy trong tâm tưởng của ngư­ời Hư­ơng Nao, ông Cư­ơng luôn xứng đáng là một nghệ nhân ví giặm  nổi tiếng của làng.

          Các nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian (như ông Thái Kim Đỉnh) cho rằng Thạch Hà (trong đó có Hương Nao) là nơi phát sinh đầu tiên điệu hát giặm. Còn điều dễ thấy hơn là cho đến nay thì nhiều nơi có hát giặm, nhưng kiểu hát giặm đối đáp có khi thâu đêm (như hát giặm Hương nao) thì hình như chỉ có một số điểm ở huyện Thạch Hà

         

          III. Biện pháp khôi phục, bảo tồn và phát triển dân ca ví giặm:

          Nói đến dân ca, trong đó có dân ca ví giặm là phải nói đến bốn yếu tố:

          Một là phần lời, hai là làn điệu, ba là không gian (hay môi trường) diễn xướng, và bốn là động tác diễn xướng. Nói khôi phục hay bảo tồn là phải nhằm vào bốn yếu tố đó. Vậy ngày nay trong thời kỳ phát triển mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa có cho phép chúng ta khôi phục và bảo tồn được cả bốn yếu tố trên hay không ?

          1. Phần lời, đó là phần văn học, đây có thể là những câu thơ, câu ca dao, câu vè...., có thể dùng lời cũ hay lời mới đều có thể hát lên rất hay được. Vì vậy phần lời là hoàn toàn có thể giử gìn, sáng tạo và phát huy được.

          2. Phần làn điệu: Chúng ta không những giữ gìn được mà còn có thể cải biên biến tấu rất hay. Tài năng ca hát ngày nay không thiếu lại còn có nhiều điều kiện hiện đại thuận lợi để trình diễn.

          3,4. Song phần thứ ba và thứ tư, tức không gian hay môi trường diễn xướng và động tác diễn xướng như ngày xưa là không còn nữa. Khi xe cơ giới và đường bộ phát triển thì còn mấy ai đi đường sông nữa. Và nếu đi đường thủy thì cũng là thuyền máy xình xịch băng băng làm gì có chuyện đò đưa trên bộ dưới thuyền để văng vẳng lời ca tiếng hát. Rồi khi nông nghiệp đã cơ giới hóa ngày càng cao, máy làm đất, máy bơm nước, máy gặt đập liên hợp ra đời chạy hối hả trên đồng ruộng....., Rồi những phương tiện giao thông cũng ngày càng cơ giới hiện đại.... Câu chuyện phường cấy, phường gặt, phường cày.... vì thế đã trở thành chuyện cổ. Những động tác gặt lúa đêm trăng, tát nước đêm trăng để cất cao nhịp hò khoan đã lùi sâu vào quá khứ. Cũng tương tự như thế những động tác xay lúa, giã gạo, trèo non... không còn nữa thì làm gì có hò giã gạo, ví trèo non....

          Lễ giáo ngày xưa "nam nữ thụ thụ bất thân", làm gì có chuyện đi chơi trò chuyện với nhau. Trao nhau tình cảm bằng ánh mắt mà nhiều khi cũng phải vụng trộm vội vàng. Vì vậy những đêm trăng thanh gió mát bên nam bên nữ, kẻ bên bến người đầu cầu, kẻ trong nhà người ngoài ngõ, ví hát giao duyên là những sinh hoạt vô cùng lôi cuốn và hấp dẫn. Hễ có dịp tốt là họ có thể ví hát giao lưu thâu đêm không chán. Trai gái ngày nay cần gì phải làm như thế.

          Tóm lại môi trường diễn xướng và theo đó là những động tác diễn xướng như ngày xưa là không còn nữa, nếu không muốn nói là đã bị triệt tiêu. Nói cách khác là mảnh đất màu mỡ để dân ca ví ví giặm  sinh sôi nảy nở như ngày xưa là không còn tìm thấy nữa.

          Vậy làm sao để có thể giữ gìn, bảo tồn được dân ca ví giặm, một thứ vốn cổ văn hóa phi vật thể rất quý giá này?

Lâu nay chúng ta đã có hai hình thức:

          Một là câu lạc bộ hóa.

          Hai là sân khấu hóa.

          Tuy nhiên, theo tôi chỉ với hai hình thức này là chưa đủ, thậm chí nếu bị lạm dụng quá nhiều thì ví giặm cũng dễ bị biến tướng. Hiện nay, trong thực tế cũng đã bắt đầu xuất hiện sự lệch chuẩn của ví giặm cỗ truyền. Bởi vậy, muốn giữ lại được vốn cỗ nguyên mẫu cần có thêm một hình thức thứ ba sau đây.

          Ba là cần xây dựng bảo tàng dân ca ví giặm.

          Những cái gì đã qua rồi mà muốn gìn giữ lại, muốn bảo vệ và tái hiện trong tương lai thì phải đưa vào bảo tàng và nhờ vào sự lưu giữ của bảo tàng. Ví giặm cũng không ngoài quy luật ấy.

          Tôi không có chuyên sâu về bảo tàng nên không thể đề xuất được phương pháp và những đề án cụ thể về bảo tàng dân ca ví giặm. Chỉ mong rằng làm sao chúng ta có được một nhà bảo tàng ví giặm mà ở đó có thể đáp ứng được mọi nhu cầu tìm hiểu về dân ca ví giặm. Ví dụ đến đó có thể nghe nhìn được các làn điệu ví phường vải, ví đò đưa, ví trèo non, hò giã gạo......, hoặc các điệu giặm như giặm tự sự, giặm trử tình, giặm đối đáp, giặm xẩm...... Ở đó không chỉ có băng đĩa mà còn có các màn hình tái hiện lại đủ các loại  không gian và động tác diễn xướng sinh động của dân ca ví giặm....

          Nếu làm được như thế thì đây chắc chắn không chỉ là một nơi để nghiên cứu, để thưởng thức… dân ca ví giặm mà sẽ là một địa chỉ không thể bỏ qua của khách du lịch mỗi khi đến vùng quê này.

                                                                                                L. V. T

         

         

 

. . . . .
Loading the player...