20-11-2025 - 01:19

Hình ảnh người thầy và tình yêu Tổ quốc qua câu chuyện “Buổi học cuối cùng” của Alphonse Daudet

Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11). Tạp chí Hồng Lĩnh số 231 trân trọng giới thiệu bài viết “Hình ảnh người thầy và tình yêu Tổ quốc qua câu chuyện “Buổi học cuối cùng” của Alphonse Daudet” của tác giả Dương Thị Huyên

Nhà bác học xuất sắc Louis Pasteur từng khẳng định "Hc vn không có quê hương nhưng ngưi có hc vn phi có T quc.". Có thể nói, trong các giá trị tình cảm cơ bản nhất của mỗi con người, không bao giờ thiếu được tình yêu đất nước. Tình yêu ấy biểu hiện vô cùng phong, đa dạng. Đó có thể là sự gắn bó với quê hương, tự hào với các truyền thống văn hóa của dân tộc… Đó còn là tình yêu đối với tiếng nói dân tộc. Nhà văn Alphonse Daudet cũng đã thể hiện sức sáng tạo và thành công tình cảm ấy qua tác phẩm "Buổi học cuối cùng".

Alphonse Daudet là nhà văn nổi tiếng nước Pháp thế kỷ XIX với nhiều tác phẩm xuất sắc. Tuổi thơ nhiều bất hạnh, phải tự lập từ sớm nhưng với những niềm trăn trở, nỗi đau đáu trước hiện thực đời sống đã nuôi dưỡng tình yêu văn chương của ông. Lối hành văn giản dị, nhẹ nhàng, có tính triết lí cao và giàu cảm xúc đã khiến những tác phẩm của Alphonse Daudet được đông đảo bạn đọc đón nhận. Ngôn ngữ văn xuôi giàu chất thơ, gợi hình, gợi cảm cũng đã khắc họa được một bức tranh đậm chất hiện thực đồng thời gửi gắm niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của con người, hi vọng vào một tương lai đầy tươi sáng và hạnh phúc.

Nếu "Những vì sao" kể chuyện trẻ con Pháp đi học ngày thơ ấu, "Những lá thư từ cối xay" tập hợp hình ảnh hiền hòa, êm ái của đồng quê thì "Buổi học cuối cùng" lại là một bài học về tình yêu đối với tiếng nói dân tộc. "Buổi học cuối cùng" còn được biết đến với tên "Chuyện của một em bé người An-dát". Đây là truyện ngắn nằm trong tuyển tập "Truyện kể ngày thứ hai" của văn sĩ Alphonse Daudet. Tác phẩm được sáng tác dựa trên một biến cố có thật trong lịch sử. Cuộc chiến tranh Pháp - Phổ chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn nhưng mang tính quyết định, thay đổi cục diện chính trị châu Âu và để lại vết sẹo sâu sắc trong lòng người Pháp. Quân Phổ, với sức mạnh quân sự vượt trội, đã nhanh chóng giành chiến thắng và tiến vào sâu lãnh thổ Pháp. Hai tỉnh Alsace và Lorraine, nằm ở biên giới, là những vùng đầu tiên chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự chiếm đóng. Tại đây, mọi hoạt động hành chính, giáo dục đều phải tuân theo luật lệ mới do kẻ chiến thắng đặt ra. Đây là một giai đoạn đen tối, khi người dân phải đối mặt với nguy cơ bị đồng hóa, bị tước đi quyền sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, một phần không thể thiếu của bản sắc dân tộc.

Trước hết, câu chuyện hấp dẫn người đọc bắt đầu từ việc lựa chọn tình huống - một tình huống ngỡ bình thường nhưng chứa đựng nghịch lý bởi việc dạy và học bằng tiếng Pháp trong nhà trường ở Pháp vốn là việc hết sức bình thường, như việc dạy và học bằng tiếng mẹ đẻ ở bất cứ nước nào. Nhưng điều không bình thường lại nằm ở chỗ: đây là buổi học cuối cùng mà thầy trò được dạy và học bằng tiếng Pháp. Sau buổi sáng này, 12 giờ trưa ngày hôm ấy, các trường đều phải dạy bằng tiếng Đức. Đây là sự kiện đánh dấu chủ quyền của nước Phổ, chính thức tước bỏ quyền tự do đối với người dân trong vùng bị quân thù chiếm đóng.

Trước sự kiện đó, từ thầy giáo đến học trò và cả những cụ già đều đến dự buổi học. Cụ Hô-de (vốn là xã trưởng) và bác phát thư chắc chắn là đều biết đọc biết viết, nhưng cụ Hô-de vẫn đánh vần một cách chăm chú cùng với các học trò nhỏ. Cụ nâng cuốn sách vỡ lòng bằng hai tay và giọng cụ run run vì xúc động. Còn các học trò nhỏ cũng cặm cụi vạch những nét sổ với một tấm lòng, một ý thức, như thể cái đó cũng là tiếng Pháp.

Cậu bé Phrăng - một cậu học trò hồn nhiên - nhân vật có mặt trong buổi học đã kể lại câu chuyện này. Ngôi kể thứ nhất cho phép nhà văn thâm nhập sâu vào thế giới nội tâm của cậu bé, cảm nhận trực tiếp những diễn biến tâm lý, từ sự vô tư ban đầu đến nỗi hối hận và xót xa sau này. Bởi buổi học sáng nay, Phrăng định trốn học phần vì đã trễ giờ, phần vì sợ thầy hỏi bài phân từ mà chú chưa thuộc chữ nào. Nhưng chú đã nghĩ lại và vội vã chạy đến trường. Trên đường đi, thấy có nhiều người đứng trước bảng dán cáo thị của quân Phổ, Phrăng băn khoăn nghĩ: Lại có chuyện gì nữa đây? Khi bác phó rèn Oát-stơ khuyên Phrăng chẳng cần vội vã đến trường làm gì thì chú bé lại tưởng là bác chế nhạo mình. Càng ngạc nhiên hơn nữa khi cậu bé đến lớp. Quang cảnh lớp học mọi khi ồn ào như chợ vỡ mà giờ đây bình lặng y như một buổi sáng chủ nhật. Khi tưởng mình sẽ bị quở trách như mọi lần vì vào lớp muộn nhưng thầy giáo lại dịu dàng nói: "Phrăng, vào chỗ nhanh lên con; lớp sắp bắt đầu học mà vắng mặt con". Tất cả những điều khác lạ, bất thường đó báo hiệu về một điều gì đó rất nghiêm trọng sắp xảy ra.

Nhưng điều mà người đọc ấn tượng nhất chính là thầy giáo Ha-men, nhân vật trung tâm của tác phẩm, người có sự mệnh mang chở sức nặng của bức thông điệp nghệ thuật sâu sắc mà nhà văn gửi tới bạn đọc. Với bốn mươi năm gắn bó với nghề giáo, thầy là hiện thân của lòng yêu nước và sự tận tụy với ngôn ngữ dân tộc. Hình ảnh người thầy giáo trong buổi học cuối cùng được nhà văn dồn bút lực và miêu tả thật xúc động qua trang phục, thái độ đối với học sinh, qua lời nói và hành động của thầy lúc kết thúc buổi học. Trong bui hc cui cùng này, thầy mặc chiếc áo rơ-đanh-gốt màu xanh lục, diềm lá sen gấp nếp mịn và đội mũ tròn bằng lụa đen thêu – bộ trang phục chỉ dành cho những dịp đặc biệt như có thanh tra hoặc phát phần thưởng. Sự trang trọng trong trang phục của thầy thể hiện sự tôn kính đối với buổi học cuối cùng và để tôn vinh tiếng Pháp.

Thái độ của thầy đối với học sinh cũng khác hẳn ngày thường. Thầy Ha-men không còn mắng mỏ học trò mà nói với giọng dịu dàng, trang trọng. Thầy nhiệt tình và kiên nhẫn giảng bài như muốn truyền hết hiểu biết của mình cho học sinh. Những lời thầy nói về tiếng Pháp – “ngôn ngữ hay nhất thế giới, trong sáng nhất, vững vàng nhất” – không chỉ là lời ca ngợi mà còn là lời dặn dò tha thiết như một bức di chúc tinh thần. Thầy nhấn mạnh rằng “khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù”. Lời căn dạn, nhắn gửi từ trái tim đang rỉ máu ấy cho thấy thầy hiểu rõ vai trò then chốt của ngôn ngữ trong việc gìn giữ bản sắc và khát vọng tự do. Trong tâm khảm của người thầy yêu nước ấy ngôn ngữ không chỉ là tài sản quý báu của một dân tộc mà còn là sợi chỉ đỏ kết nối bao thế hệ.

Rồi tiếng đồng hồ nhà thờ điểm mười hai giờ và tiếng kèn của bọn lính Phổ đi tập về đã vang lên ngoài cửa sổ như báo hiệu kết thúc buổi học, đánh dấu thời điểm kết thúc việc dạy và học bằng tiếng Pháp ở cả vùng An-dát.  Thời khắc ấy, nỗi đau đớn, sự xúc động trong lòng thầy Ha-men đã lên tới cực độ và bộc lộ ra trong cử chỉ, hành động: thầy đứng dậy trên bục, đứng lặng im nhìn khắp lớp, người tái nhợt, nghẹn ngào không nói được hết câu tạm biệt. Và dồn hết sức lực, thầy quay về phía bảng, cầm một hòn phấn và dằn mạnh hết sức, thầy cố viết thật to: “Nước Pháp muôn năm!” Rồi thầy đứng đó, đầu dựa vào tường và chẳng nói, giơ tay ra hiệu cho chúng tôi: “Kết thúc rồi… đi đi thôi!”. Đây là đỉnh điểm của cảm xúc, thể hiện một tình yêu nước mãnh liệt, không thể diễn tả bằng mọi ngôn từ. Hình ảnh thầy Ha-men đứng đó, đầu dựa vào tường, giơ tay ra hiệu cho học trò tan học, là một trong những khoảnh khắc bi tráng nhất trong văn học. Chính vào giây phút ấy, chú bé Phrăng cảm thấy thầy giáo của mình thật lớn lao.

Diễn biến của buổi học cuối cùng và hình ảnh thầy Ha-men chắc chắn đã tác động sâu sắc đến nhận thức, tình cảm của Phrăng và những ai đến với câu chuyện này. Khi nghe thầy Ha-men nói rằng đây là buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp, Phrăng thấy choáng váng, sững sờ và chú đã hiểu ra nguyên nhân của mọi sự khác lạ trong buổi sáng hôm nay. Từ cảnh nhốn nháo trước trụ sở xã đến không khí yên ắng nặng nề ở lớp học và ở cả bộ y phục trang trọng của thầy Ha-men. Phrăng tiếc nuối và ân hận về sự lười nhác, ham chơi của mình bấy lâu nay. Chú bé đau xót thú nhận: "Bài học Pháp văn cuối cùng của tôi!… Mà tôi thì mới biết viết tập toạng! Vậy là sẽ chẳng bao giờ được học nữa ư, phải dừng ở đó ư!… Giờ đây tôi tự giận mình biết mấy về thời gian bỏ phí, về những buổi trốn học đi bắt tổ chim hoặc trượt trên hồ. Những cuốn sách vừa nãy tôi còn thấy chán ngán đến thế, mang nặng đến thế, quyển ngữ pháp, quyển thánh sử của tôi giờ đây dường như những người bạn cố tri mà tôi sẽ rất đau lòng phải giã từ".

Khi thầy Ha-men gọi đọc bài, Phrăng không thuộc chút nào về quy tắc phân từ trong tiếng Pháp. Đến đây thì sự ân hận đã trở thành nỗi xấu hổ và tự giận mình. Điều kì lạ là trong tâm trạng day dứt ấy, khi nghe thầy Ha-men giảng ngữ pháp, Phrăng lại thấy thật rõ ràng và dễ hiểu: "Tôi kinh ngạc thấy sao mình hiểu đến thế. Tất cả những điều thầy nói, tôi thấy thật dễ dàng… Tôi cũng cho là chưa bao giờ mình chăm chú nghe đến thế"… Chứng kiến cảnh các cụ già trong làng đến dự buổi học cuối cùng và được nghe những lời nhắc nhở tha thiết của thầy Ha-men, nhận thức và tâm trạng của Phrăng đã có những biến đổi lớn lao. Chú đã nhận ra ý nghĩa thiêng liêng của việc học tiếng Pháp nhưng tiếc thay, chú không còn cơ hội để được tiếp tục học tiếng Pháp ở trường nữa.

Như vậy, tác phẩm “Buổi học cuối cùng” không chỉ là một câu chuyện cảm động được gợi lên từ hiện thực đau thương mà còn là một thông điệp mạnh mẽ về tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là cốt lõi của bản sắc văn hóa, là sợi dây liên kết con người với cội nguồn và là động lực cho sự phát triển của một dân tộc. Tiếng nói dân tộc là nơi lưu giữ lịch sử, truyền thống, những giá trị đạo đức được truyền từ đời này sang đời khác. Khi một dân tộc mất đi tiếng nói của mình, họ không chỉ mất đi một phương tiện giao tiếp mà còn mất đi một phần quan trọng của bản sắc, mất đi sự duy trì sự đoàn kết, sự tự hào về nguồn gốc của mình. Trong bối cảnh bị đô hộ, việc giữ gìn tiếng mẹ đẻ trở thành hành động kháng cự thầm lặng nhưng kiên cường nhất, khẳng định sự tồn tại và khát vọng tự do của dân tộc.

D.T.H

. . . . .
Loading the player...