Kỷ niệm 260 năm Ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2025). Tạp chí Hồng Lĩnh số 232 trân trọng giới thiệu bài viết “Những ngày danh nhân Nguyễn Du sống ở Tiên Điền” của tác giả Đặng Viết Tường
Sống cuộc đời 55 năm, Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, có nhiều lần về quê nhà Tiên Điền. Trong đó, thời gian ông sống ở quê nhà Tiên Điền lâu hơn cả là thời điểm xuất phát từ nhà anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn, (xã An Hải, huyện Quỳnh Côi, phủ Thái Bình, xứ Sơn Nam) cho đến khi ra làm quan cho triều Nguyễn. Quảng thời gian này được tính là 10 năm, từ năm 1793 đến năm 1802. Có quan điểm, Nguyễn Du về làm nhà sống ở Tiên Điền vào năm 1796 -1802. Năm 1796 Nguyễn tiên sinh được xóm Tiền Giáp, thôn Lương Năng giúp đỡ ông làm một ngôi nhà cỏ.
Đại thi hào, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Du, tên chữ Tố Như, tên hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu “Hồng Sơn liệp lộ” “Nam Hải điếu đồ”. Khi nhỏ gọi là Chiêu Bảy. Sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, hiệu Cảnh Hưng 27 (tức ngày 3 tháng 1 năm 1766). Nơi sinh ở phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long. Là con thứ 7 của Xuân quận công Nguyễn Nghiễm và bà vợ thứ 3 Trần Thị Tần. Cha mẹ mất sớm. Năm 1774, cha mất khi mới 8 tuổi, năm 1778, mẹ mất lúc 12 tuổi, Nguyễn Du sống với Nguyễn Khản (người anh cả cùng cha khác mẹ) và chị dâu.
Theo Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả, năm 6 tuổi Nguyễn Du đi học, xem sách một lượt là nhớ. Năm 1771, lần đầu theo cha, mẹ và các anh chị em về quê xã Tiên Điền lúc 5 tuổi. Sau đó, năm 8 tuổi về quê làm tang lễ cha, ở Tiền Điền 3 tháng rồi về kinh học tập. Theo giáo sư tiến sĩ Nguyễn Huy Mỹ trong chuyên đề nghiên cứu về ảnh hưởng của làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn xưa tại Hội thảo khoa học tựa đề: “Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vùng Tiên Điền - Lai Thạch nhằm phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay”, thì từ năm 1770 đến 1780, Nguyễn Du ở làng Tiên Điền quê nhà, nhưng ít điều kiện đi xa. Từ năm 1781 sau khi mãn tang mẹ đích (Đặng Thị Dương), Nguyễn Du mới có điều kiện tham gia các hoạt động văn hoá vui chơi, giải trí ở Trường Lưu.
.jpg)
Nhà thờ họ Nguyễn Tiên Điền. Ảnh: Đậu Hà
Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Ban, hậu duệ họ Nguyễn Tiên Điền bác bỏ quan điểm của giáo sư Nguyễn Huy Mỹ. Giai đoạn này, sau khi cha mất, Nguyễn Du được người anh ruột Nguyễn Khản nuôi dưỡng, sống ở dinh Bích Câu cùng với mẹ đích Đặng Thị Dương và anh chị em trong gia tộc. Mẹ đích Quận phu nhân Đặng Thị Dương mất ở kinh thành Thăng Long. Không phải mất ở quê nhà Tiên Điền. Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Chu Trọng Huyến trong tác phẩm “Nơi Nguyễn Du viết truyện Kiều” cho biết, giai đoạn này, vào khoảng năm 1775- 1783 Nguyễn Du được anh (cùng cha khác mẹ) Nguyễn Khản gửi sang học với người bạn đồng khoa, khoa Canh Thìn, (1760) là Hội nguyên đồng tiến sĩ Nguyễn Huy Cẩn, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Hàng ngày đi học phải qua đò sông Nhuệ. Trong dân gian vùng quê Tiền Điền ngày nay còn kể giai thoại về mối tình mùi mẫn giữa Nguyễn Du với cô lái đò sông Nhuệ trong thời gian sang Gia Lâm, trọ học với thầy Nguyễn Huy Cẩn, một nhà nho có đức nghiệp.
Năm 1783, thi hương khoa Quý Mão ông đậu tam trường (tú tài) ở xứ Sơn Nam. Theo truyền thống hiếu học, sau ngày thi đỗ tú tài Nguyễn tiên sinh về quê hương Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, bái tổ tiên. Cùng về Tiên Điền với Nguyễn tiên sinh có bạn học đồng khoa Đặng Trần Thường. Ông Đặng Xuân Vĩnh trong tác phẩm “Nhân vật Đặng Trần Thường”, do sở Văn hoá Thông tin Hà Tây xuất bản năm 2008 cho biết: Năm 1782, lính Tam phủ cậy công càn quấy, náo loạn chính thể vua Lê, chúa Trịnh. Năm 1783, thi Hương trường Sơn Nam không đỗ, Đặng Trần Thường bỏ học đi giao du miền An Quảng và Thái Nguyên, sau đó theo Nguyễn tiên sinh vào Nghệ An bái tổ. Năm ấy, Nguyễn Du cũng tham dự thi Hương trường Sơn Nam và đỗ tam trường. Như vậy, giữa Nguyễn Du và Đặng Trần Thường có mối quan hệ bạn bè đồng khoa thi. Nguyễn tiên sinh chép trong gia phả họ Đặng có khả năng là Nguyễn Du chăng (?).
Theo giáo sư tiến sĩ Nguyễn Huy Mỹ, năm 1783, Nguyễn Du tiên sinh thi Hương ở Sơn Nam và nhận chức kế tập của cha nuôi. Sách Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả ghi: Nguyễn Du được một người họ Hà, quan võ nhỏ, chức chánh thủ hiệu nhận làm con nuôi. Cha nuôi mất ông được thừa kế chức ấy. Những năm 1786 - 1789 về quê vợ, cuối năm 1793 mới về lại Tiên Điền. Giáo sư Nguyễn Huy Mỹ cho biết thêm: Cuối năm 1793 mới về Tiên Điền, năm 1794 Nguyễn Du trốn vào Gia Định không thành. Cuối năm 1793 Đặng Trần Thường qua Hoành Sơn Quan (đèo Ngang) chạy vào Gia Định, đầu năm 1794 gặp Nguyễn Ánh xin đầu quân.
Lại nói về cuối đời Cảnh Hưng, quân Tây Sơn dựng cờ “phò Lê diệt Trịnh”, kéo ra Đàng ngoài. Quyền hành phủ chúa Trịnh sụp đổ, trong nước xẩy ra nhiều việc rối loạn, vua Chiêu Thống chạy loạn sang nhà Thanh, gia tộc họ Nguyễn Tiên Điền cũng lâm cảnh sa sút, bác chú, anh em ly tán, phiêu dạt. Điều này được Nguyễn Du thổ lộ trong bài thơ chữ Hán “Quỳnh Hải nguyên tiêu” có câu: “ Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán”. Có nghĩa là: Ở quê nhà Hồng Lĩnh chẳng còn nhà cửa, anh em đều tan tác cả. Bấy giờ, năm 1788 sau vụ Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm bị tiêu diệt, Chiêu Thống chạy sang nhà Thanh cầu viện. Nguyễn Du chạy theo vua Chiêu Thống không kịp, chạy về quê vợ tại Quỳnh Côi (Thái Bình cũ), ở độ nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, anh trai bà vợ Đoàn Thị Huệ.
Ở xứ Sơn Nam, Nguyễn Du xấu hổ, lòng giận những cựu thần phản vua Lê chúa Trịnh theo giúp Tây Sơn. Giống như Đặng Trần Thường, Nguyễn Du tập hợp lực lượng bạn hữu, hào mục, chiêu mộ nghĩa binh bàn tính chống Tây Sơn phục hưng Lê - Trịnh nhưng việc không thành, náu mình ở phủ Thái Bình chờ thời cơ, sống cảnh “ăn nhờ, ở đậu” anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn. Sau đó, Nguyễn Du trở về làng Tiên Điền, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Thời gian này được dân gian gọi “10 năm gió bụi”, tính từ ngày về quê đến lúc ông ra làm quan với triều Nguyễn.
Theo sách Nghi Xuân địa chí của Đông hồ Lê Văn Diễn, sau năm loạn Bính Ngọ (1786) Nguyễn Du cùng Trần Lục Tam tức tri phủ Trần Duy Tự, người Tiên Điền, làm tri phủ Hà Hoa (gồm huyện Thạch Hà, Kỳ Hoa) ngầm rủ những người tài giỏi, mưu đồ khôi phục nhà Lê chống đối Tây Sơn. Được tin cháu chúa Nguyễn là Phúc Ánh ở Gia Định cho thủ hạ ra Đàng ngoài chiêu mộ hào kiệt “phò Lê diệt Tây Sơn”. Trần Duy Tự bàn với Nguyễn Du gửi thư vào Gia Định và được Nguyễn Ánh ân cần trả lời. Việc chưa thành thì Trần Duy Tự qua đời ở xã Tiên Điền. Nguyễn Du mưu tính vượt đèo Ngang chạy vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh. Việc bại lộ, ông bị trấn tướng Tây Sơn lưu thủ Nghệ An là quận công Nguyễn Thận bắt giam 10 tuần. Trấn quan Nghệ An biết Nguyễn Du là người có tài, đã hết lời khuyên dụ ông theo giúp nhà Tây Sơn. Nhưng Nguyễn Du kiên quyết từ chối. Ông tỏ rõ quan điểm của mình qua câu thơ: “Đản đắc Kỳ Sơn thánh nhân xuất/ Bá Di tuy tử bất thần Chu”. Nghĩa là: “Dù bậc thánh sinh ở Kỳ Sơn. Nhưng Bá Di thà chết không làm tôi tớ nhà Chu.” Sự kiện này được Nghi Xuân địa chí chép rõ: “Việc lộ, quan trấn biết được, ông bị bắt giam, may được tha” (Nghi Xuân địa chí – tr. 167). Không chiêu mộ được, Nguyễn Thận định giết, nhưng tiếc tài năng của ông, lại nể đồng liêu Nguyễn Nễ (anh ruột Nguyễn Du) đã không nỡ sát hại, chỉ giam 3 tháng rồi thả cho về.
Sau thời gian ở quê vợ, Nguyễn Du trở về làng Tiên Điền, ông lấy cảnh núi non, sông nước làm vui. Theo lời kể của người dân, hậu duệ họ Nguyễn xã Tiên Điền, khi về quê hương, Nguyễn Du làm một cái lều cỏ ở đồng Đài gần mộ cha - cụ Xuân Nhạc công, cửa mở về phía nam - để báo hiếu bậc sinh thành. Câu chuyện này được Nguyễn Du mô tả trong một bài thơ chữ Hán, sáng tác trong thời gian này. Mấy năm sau đó, làng Tiên Điền làm cho Nguyễn tiên sinh ngôi nhà cỏ ở xóm Tiền Giáp, thôn Lương Năng. Hàng ngày ông uống rượu, làm thơ, ngâm vịnh hoặc khi lên núi Hồng săn bắt chim thú, hoặc khi xuống biển Đông câu cá, lúc theo bầu bạn phường nón sang Trường Lưu, Lai Thạch hát ví hát dặm. Ông tự đặt biệt hiệu cho bản thân: “Hồng Sơn Liệp Lộ” và “Nam Hải điếu đồ”. Nguyễn Du để lại khá nhiều giai thoại đi săn chim thú ở Động Gián, Hồng Thôn (Cộng Khánh), hay theo bạn câu cá ở Cương Gián, thăm thú danh thắng “Cồn Mộc bình sa”. Ở quê hương Tiên Điền và đất học Trường Lưu, xã Lai Thạch, đang lưu giữ những giai thoại Nguyễn Du cùng trai làng nón đi hát phường vải. Di sản Nguyễn Du để lại khá nhiều thơ ca về giai đoạn này, trong đó có tác phẩm: “Thác lời trai phường nón Tiên Điền gửi gái phường vải Trường Lưu” và “Văn tế Trường Lưu nhị nữ”. Về chủ đề này, đất học Trường Lưu có bài: “Thác lời gái phường vải Trường Lưu gửi trai Tiên Điền”.
Triều Tây Sơn bị diệt, tháng 6 -1802 Lê Văn Duyệt và hoàng đế Gia Long đi tuần Nghệ An, Nguyễn Du đón xe vua yết kiến rồi được theo xa giá ra Bắc Hà. Từ đây Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Nguyễn, được bổ làm tri huyện Phù Dung, được thăng chức tri phủ Thường Tín. Năm 1803 được vua phái đi đón tiếp sứ giả nhà Thanh ở biên giới. Mùa thu năm 1804, ông mắc bệnh về làng Tiên Điền quê hương nghỉ ngơi, chữa bệnh hơn 1 tháng. Hồi phục sức khoẻ, có chiếu vua gọi vào kinh đô Huế. Năm 1805, thăng Đông các Đại học sĩ, tước Du Đức hầu. Từ đó, con đường quan lộ của ông thăng tiến khá nhanh. Mùa thu năm 1808, ông xin phép tạm nghỉ về quê, đến mùa hạ năm sau mới trở lại triều đình. Năm 1809, Nguyễn Du được bổ chức cai bạ dinh Quảng Bình. Tại đây, tất cả công việc trong tỉnh ông đều bàn bạc, thương lượng với các chức lưu thủ, ký lục để thi hành. Ông làm cai bạ 4 năm ở Quảng Bình, chính sự khoản giảm giản dị, không cầu tiếng tăm nên được giới sĩ phu cùng người dân yêu quý, kính trọng, người dân sở tại ai cũng mến mộ.
Mùa thu năm 1812, ông xin phép vua về quê 2 tháng xây mộ cho Nguyễn Nễ, anh cùng mẹ. Tháng chạp năm ấy có chỉ gọi về kinh, được thăng chức Cần chánh Đại học sĩ và cử làm chánh sứ tuế cống sang nhà Thanh bang giao. Tháng 4 (âm lịch) năm 1814, ông trở về nước và được vua cho về quê Tiên Điền nghỉ phép 6 tháng. Tháng chạp năm 1814 ông mới trở lại triều làm việc, được thăng chức Hữu Tham tri bộ Lễ. Mùa thu năm 1819, ông được cử làm chánh chủ khảo trường thi Hương tỉnh Quảng Nam, nhưng xin từ chối, được vua chuẩn y. Năm 1820, vua Gia Long băng hà, vua Minh Mệnh lên ngôi hoàng đế, ngự bút chọn Nguyễn Du làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và xin cầu phong, nhưng đoàn sứ bộ chưa kịp xuất phát thì ông cảm bệnh, ngày 10 tháng 8 (âm lịch) tạ thế ở kinh thành Huế, hưởng thọ 55 tuổi, mai táng ở cánh đồng Bàu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền thời Nguyễn. Vua Minh Mệnh ban tiền tuất và hậu lễ đưa tang, ban thuỵ hiệu Trung Thạnh và đối liễn: “Một kiếp tài hoa, làm sứ làm khanh, đời không chút thẹn / Trăm năm sự nghiệp, ở nhà, ở nước, mất vẫn là vinh” (Nghi Xuân địa chí tr.168). Mùa hạ năm 1824, con trai ông là Nguyễn Ngũ vào Huế đưa hài cốt cha mình về xóm Tiền Giáp, thôn Lương Năng, xã Tiên Điền, cải táng gần nhà ở của ông lúc sống và dựng nhà thờ ở đó. Gần đây, hậu duệ Nguyễn Du đã dời mộ Đại thi hào Danh nhân văn hoá Thế giới đến xứ đồng Cùng, thôn Hoà An, xã Tiên Điền, tỉnh Hà Tĩnh.
Trong cuộc đời của mình, Nguyễn Du có nhiều lần về quê hương Tiên Điền, đất địa linh nhân kiệt. Lúc còn nhỏ, một lần theo cha về quê khi cụ Đại tư đồ xin về trí sĩ. Lần thứ 2, về quê làm tang lễ cụ Xuân Nhạc công, thuỵ Trung Cần. Rồi về quê bái tổ khi đậu tam trường. Lần ở lâu nhất, từ quê vợ An Hải, Quỳnh Côi về quê, để lại ấn tượng bằng bài thơ: “Giang Đình hữu cảm” có câu thơ: “Nhớ lão cha xưa nhớ những ngày / Ngựa xe nhộn nhịp bến sông này” (bến sông Giang Đình). Lần về quê này, Nguyễn Du sống ở làng Tiên Điền lâu nhất, để lại khá nhiều bài thơ vịnh cảnh núi sông đất Nghệ An xưa. Lần thứ 4, sau khi ra làm quan triều Gia Long, xin về Tiên Điền chữa bệnh. Lần thứ 5, ông xin về quê gần 1 năm, gia phả không ghi rõ vì lý do gì. Thứ 6, xin về quê Tiên Điền, cải táng mộ của anh ruột Nguyễn Nễ, một danh sĩ phò tá nhà Tây Sơn. Lần cuối, khi đi sứ tuế cống trở về kinh, ông được vua cho về Tiên Điền, 6 tháng.
Trong số những lần về Tiên Điền quê cha đất tổ , lần thứ 4 có thời gian chiếm hầu hết “10 năm gió bụi” mà thi sĩ tài hoa thường nói. Có thể lần này, Nguyễn Du có đủ điều kiện, thời gian, không gian theo trai làng phường nón sang Trường Lưu hát ví dặm với các cô thôn nữ phường vải và để lại áng thơ văn tuyệt bút./
Trại sáng tác Nghi Xuân, tháng 12 năm 2025
Đ.V.T