22-07-2019 - 21:21

SỰ TÍCH CẦU DƯƠNG - TÀI

Hướng tới kỉ niệm ngày TBLS và 51 năm ngày mất của 10 cô gái TNXP tại Ngã ba Đồng Lộc ( 24/7/1968), Tạp chí Hồng Lĩnh số 155 giới thiệu bút ký "Sự tích cầu Dương - Tài" của tác giả Yến Thanh.

     Lòng dũng cảm, chí gan dạ, đức hy sinh xả thân vì nước đã trở thành “Chuyện thường ngày ở Ngã ba Đồng Lộc” thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Người viết bài này, nguyên là cán bộ kỹ thuật Tổng đội TNXP N55-P18, đã từng sao trên mũ, “ở ba cùng” với hàng ngàn cán bộ chiến sỹ thanh niên xung phong (TNXP) suốt sáu năm trời trên mọi tuyến lửa Hà Tĩnh (1965 - 1971). Đặc biệt là hai trăm mười bốn ngày đêm bám trụ giải tỏa Đồng Lộc đã tận mắt (hoặc nghe chính người trong cuộc kể lại) nhiều tấm gương hy sinh anh dũng của đồng đội mà đã hơn năm mươi năm, mỗi lần nhớ lại còn thảng thốt. Đó là sự hy sinh tập thể của 10 nữ anh hùng Tiểu đội 4(C552-N55-P18), anh hùng LLVTND Võ Triều Chung, Lê Đăng Dương, Phan Văn Bổn (C557), Võ Xuân Tài (Tổng đội 55) và nhiều cán bộ chiến sỹ khác mà hàng ngày quen mặt, thuộc tính như anh em.Đặc biệt, khúc bi tráng ca về cầu Tối - một cây cầu gỗ khổ bốn đã thấm bao xương máu đồng đội tôi, đã trở  thành “Sự tích cầu Dương - Tài”. 

Đêm ở Ngã ba Đồng Lộc - Ảnh: Hạnh Vinh


       Một buổi sáng tháng 5/2019, thời tiết nóng nực, tôi tìm về nhà đồng đội cũ Nguyễn Sĩ Giai, nguyên là giáo viên Đại đội TNXP 551 - N55 - P18, đơn vị anh hùng của hai chúng tôi thời chống Mỹ. Gọi điện không bắt máy, tôi tìm đến nhà, hóa ra điện thoại réo trên bàn mà chủ nhân lại đang “đánh vật” với thời vụ ngoài thửa mạ gần đó. Sau ngày TNXP giải thể (mùa thu 1975), Sĩ Giai vào trường đại học rồi về làm Chánh văn phòng Huyện ủy Can Lộc đến khi nghỉ hưu (2007). Ông “Chánh văn phòng” quần đùi áo may ô ướt nhẻm, mặt chưa rửa hết bùn vội mặc quáng quàng quần áo lấy con Vi va đời 82 - 93 thấp tẹt chở tôi đến nhà anh Võ Xuân Hải, con ông bác ruột Võ Xuân Tài ở xóm Hạ Vân cũ, nay là thôn Vân Tỉu, xã Khánh Lộc, nơi chôn nhau cắt rốn của liệt sỹ Võ Xuân Tài.
Tôi phải tranh thủ thời gian ít ỏi để cho Sĩ Giai về giải quyết đám thóc giống đang chờ ngoài bờ ruộng. Sau vài lời giới thiệu ngắn ngủi của Giai, anh Hải ôm chầm lấy tôi nói: 
- Gia đình chúng tôi mong anh lâu lắm rồi. Hiện còn giữ hai bài báo anh viết về em Tài, con chú ruột tôi. Đã mấy lần tôi cầm hai bài viết đó vào Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, họ xem qua rồi nói chỉ mấy bài báo này chưa đủ chứng cứ mà phải có nhân chứng cơ. Tôi nói, ông viết bài này là nhân chứng đó, ông cùng đơn vị với em tôi sáu năm mà. Họ lắc đầu, tôi phải cầm về đợi anh, cảm ơn anh đã trở lại vì em tôi. Tôi cải chính rằng, báo chí khác, hồ sơ khác. Hôm nay tôi đến để xin anh bổ sung thêm thông tin, xin hỏi anh một số chi tiết về Võ Xuân Tài hồi còn ở địa phương. Qua anh Hải, tôi được biết liệt sĩ Võ Xuân Tài sinh năm 1944 tại xã Khánh Lộc. Tài con bà Trần Thị Oanh, vợ hai ông Võ Chí. Bà Oanh mất lúc ba mươi bảy tuổi, lúc ấy Tài lên chín tuổi. Vừa hết khó mẹ thì ông Võ Chí, bố Tài, cũng mất. Bỏ lại anh em Tài. Lúc đó Tài vừa mười một tuổi, về ở với anh ruột Võ Xuân Tính. Với một tuổi thơ thiếu thốn tình mẫu tử, nhưng Tài mạnh khỏe, tháo vát, vui tính nên được anh chị yêu mến. Chính tình anh em đã bù đắp cho Tài vượt qua cảnh thơ dại đơn côi và giàu lòng nhân ái, chí dũng cảm sau này.
      Tài được anh chị cùng cha khác mẹ thương yêu. Mười bảy tuổi, Tài tham gia dạy mẫu giáo cùng o Minh Đệ. Tài vạm vỡ, lại có duyên ăn nói nên được cô D cùng thôn đem lòng yêu mến. Đầu tháng 6/1965 theo tiếng gọi của Đoàn thanh niên, Tài gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước đợt I. Thời điểm đó, tỉnh Hà Tĩnh huy động thành lập hai đội TNXP Bắc Hà (gồm thanh niên bốn huyện phía Bắc Hà Tĩnh là Hương Sơn, Đức Thọ, Nghi Xuân và Can Lộc), sau này đổi tên là N23, còn đội Nam Hà gồm thanh niên bốn huyện Nam Hà Tĩnh đổi tên thành N25.
      Sau hai tuần “rèn quân, chỉnh cán” học điều lệnh, quy chế, cả hai đội lên đường vào phục vụ công tác vận chuyển lương thực, quân trang, bốc vác đạn dược cho bộ đội tiền phương do binh trạm bảy quản lý, trong đó có Võ Xuân Tài. Sau hai năm luồn rừng, hết mang vác vận tải bộ đến vận tải xe đạp thồ từ làng Ho (Quảng Bình) đến đồi 1001 miền tây Quảng Trị, một bộ phận được chuyển sang bộ đội, còn Tài cùng hai đơn vị sát nhập lại hành quân trở về phục vụ đảm bảo giao thông ở tỉnh nhà. Nhớ lại hồi mới vào chiến trường, ai cũng nhớ nhà khóc lóc. Nhưng rồi ai cũng có thư người thân gửi vào. Còn Võ Xuân Tài bám anh bưu tá đơn vị hỏi thì bảo: “Không có”. Trong lúc đó thư cô D nằm trong cặp anh bưu tá viết kính gửi anh “Võ Xuân Tày”. Chỉ vì chữ y dài i ngắn mà Tài ra Tày!. Thật khốn khổ, dễ đến năm lần bảy lượt anh bưu tá hô to “Ai là Tày” có thư, không ai nhận. Mãi đến ngày thứ mười, Tài nóng ruột chạy lại lục thư thì té ngửa ra là chữ cô D. Tài reo lên “của tui, của tui, thư của tui”. Đơn vị truyền khẩu nhau được nhiều bữa cười rung lán lợp lá trung quân, sạp kết cau rừng. Từ đó, Võ Xuân Tài có biệt danh “cu Tày”. Lúc đầu Tài bực mình nhưng dần dà thấy vui vui, nhớ nhớ.
       Sau gần một tháng, mùa đông năm 1967, đơn vị của Tài cuốc bộ từ Đông Trường Sơn về Hà Tĩnh rồi được điều lên làm Thủy lợi Linh Cảm. Tháng 3 năm 1968, đơn vị Tài chính thức được điều về trấn giữ cung đường Ngã ba Đồng Lộc.Trung điểm là Ngã ba Đồng Lộc, nhưng thực chất là chúng đánh nống ra sáu trọng điểm suốt chiều dài mười sáu cây số, từ cống 19 (Phú Lộc) đến Khe Giao. Trong đó đoạn tuyến ba trăm mét từ cầu Tối đến Ngã ba Trường Thành (tức Ngã ba Đồng Lộc) là cửa tử. Bởi đoạn đường ngắn ngủn này có địa chất yếu. Mùa nắng, hố bom chồng lên hố bom bạc phếch trên bề mặt nhưng dưới lòng đất là bùn nhão nhoét như cái bẫy đơm xe sa lầy. Mùa mưa, sình lầy nước đọng, cầu Tối như ngón tay trỏ chi về “cái bẫy đó”. Nếu không vì một quả rốc két (tên lửa không đối đất) máy bay Mỹ xóa sổ đầu tháng 4/1968 thì cầu Tối ung dung là chiếc cầu gỗ khổ 4 dài 4 mét bắc qua hói nước trong xanh nuôi sống hàng chục hecta ruộng đồng xã Đồng Lộc.
       Từ 01/4/1968, Tiểu đội Công binh C557 do Lê Đăng Dương làm tiểu đội trưởng cùng chín chiến sỹ khác được giao nhiệm vụ rà phá bom từ trường, nổ chậm, hẹn giờ và “bom câm” trên đoạn tuyến này (trong đó có cầu Tối) để giải phóng đường cho xe ta đưa hàng vào tiền tuyến. Phạm vi rà phá tối thiểu an toàn là từ tim đường, tim cầu, tim ngầm ra mỗi bên hai mươi mét. Kẻ địch coi đoạn ba trăm mét này là cuống họng của QL15A đi qua Hà Tĩnh, nên chúng tìm đủ cách để chẹt cuống họng cửa tử ngay từ loạt bom đầu tiên. Tổng số bom các loại mà chúng “ưu tiên” cho điểm chốt này cũng lớn gấp năm lần so với năm trọng điểm khác. Tuy vậy, suốt tháng tư đến tháng sáu năm 1968, Tiểu đội 1 Công binh C557 do Lê Đăng Dương phụ trách vẫn rà phá kịp thời cho đồng  đội san lấp hố bom, chống lầy, đảm bảo thông đường thông xe. Tuy nhiên cả Tiểu đội đều bị sức ép bom tấn và đã có hai chiến sĩ bị thương do đất đá ném trúng người.
       Ngày 4/7/1968, sau mười đợt địch đánh phá, chúng ném trúng đường mười quả bom từ trường, nổ chậm và hẹn giờ. Tiểu đội của Dương vật lộn suốt ngày cũng chỉ rà nổ chín quả. Riêng dưới đáy cầu Tối vẫn còn một quả bom từ trường nằm dưới mặt nước rà mãi không nổ. Có lẽ từ trường của bom bị nước làm khúc xạ nên không cắt từ trường thỏi nam châm rà qua. Lê Đăng Dương đã kết hai cây chuối làm bè rồi đặt nam châm lên bè dùng dây trôi theo dòng nước điều chỉnh vào đúng vị trí, quả bom vẫn không nổ. Trời tối dần, Dương lại nghĩ ra cách: tập trung nhiều thỏi nam châm bó lại để rà, nhưng nam châm còn ít. Dương cho chiến sỹ về Ban chỉ huy Đại đội gọi điện về Tổng đội xin Võ Xuân Tài thêm nam châm và ít thuốc nổ, dây cháy chậm để làm chất kích thích gây nổ. Nhận điện, Võ Xuân Tài (cán bộ trung đội công binh của Tổng đội) mặc quần lót, cởi trần, lấy dây cột hai mươi bốn thỏi nam châm quanh người, tay cầm thuốc nổ, tay cầm kíp chạy băng qua Đồng Lộc để tiếp viện cho Dương. Chuyến tốc hành chết người ấy của Tài an toàn, nhưng mỗi lần kể lại ai cũng rợn người. Có đủ nam châm, Dương bó lại rà thử vẫn không nổ. Dương và Tài thống nhất phương án: chôn một lượng bộc phá gần quả bom rồi cắt dây cháy chậm thật dài (để đảm bảo an toàn) cho bộc phá nổ kích thích cho quả bom nổ. Để thực hiện động tác chôn bộc phá gần quả bom, Tài đòi bò lên theo Dương nhưng Dương kiên quyết không cho nên một mình Lê Đăng Dương bò lên. Khi bò đến gần quả bom từ trường thì bất ngờ một quả bom hẹn giờ sót dưới lòng đất gần đó phát nổ, kích thích quả bom từ trường nổ theo. Lê Đăng Dương hy sinh tại chỗ. Xác Lê Đăng Dương bị xé vụn ra trộn vào đất đá. Các đồng chí trong tổ công binh cùng đơn vị vừa khóc vừa kiếm tìm thi thể Dương nhưng cũng chỉ được một đoạn ruột, một mớ tóc và một đoạn xương đầu gối cùng một số mảnh thịt vụn ước chừng khoảng ba kg đem về làm lễ truy điệu rồi mai táng.
     Liệt sỹ Lê Đăng Dương sinh năm 1950, quê ở xã Hương Bình, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ năm 1967, hy sinh 4/7/1968. Lê Đăng Dương là con út của mẹ Việt Nam anh hùng Dương Thị Hạnh nay đã mất. Mẹ có ba con là liệt sỹ: Lê Đăng Du, Lê Đăng Long và Lê Đăng Dương. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nên Tài có tính độc lập, chai lỳ, nhưng tính tình vui vẻ hay ca hát. Là một chiến sỹ tiếp phẩm điều động về Tổng đội phụ trách lực lượng Công binh các Đại đội. Sau một khóa đào tạo ngắn ngày do Vương Đình Nhỏ phụ trách. Với cương vị mới, Tài thường xuyên lăn lộn ở các trọng điểm, động viên chiến sỹ, vừa đôn đốc, giúp đỡ các Tiểu đội Công binh đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Do công việc cơ động nên Tài ăn ở tạm bợ. Bạ đâu ngủ đó, ăn đó bất chấp có hầm hay không có hầm trú ẩn. Nể phục và thương hoàn cảnh của Tài nên đồng chí Nguyễn Thị Lan cán bộ thường trực Đoàn thanh niên của Tổng đội đóng ở xã Mỹ Lộc bấy giờ cho ở nhờ hầm Triều Tiên của mình, còn ăn ở bếp tập thể của Văn phòng Tổng  đội N55-P18. Ngày ngày Tài ra hiện trường, Lan vừa làm việc vừa tranh thủ kiếm thêm nắm rau nấu cho Tài bát canh ăn với quả cà muối. Không hiểu ai khởi xướng, nhưng con gái con trai TNXP đều xưng O xưng Cụ, dần dần đại từ này quen thuộc và gần gũi như anh em ruột rà. Bởi vì lời hứa “hoãn yêu, hoãn cưới” trong lá đơn tình nguyện, nên nam nữ TNXP bị giám sát quan hệ tình cảm rất chặt chẽ, nên phải dùng mẹo O - Cụ đồng hương để đánh lạc hướng lãnh đạo đơn vị.
       Địch đánh hơi thấy các thôn ven đường đều là nơi ém quân hoặc kho trạm, nơi giấu xe của ta, nên chúng thường ném bom trực tiếp xuống vùng dân cư (nếu lộ mục tiêu), hoặc ném bom nổ chậm, từ trường chốt chặn lối ra vào. Ngày 11/7/1968 chúng ném tọa độ chín quả bom từ trường, nổ chậm chốt chặn đường vào xóm Mai Long xã Xuân Lộc nơi Đại đội 552-TNXP đang ở nhờ nhà dân. Võ Xuân Tài được giao nhiệm vụ phối họp với Tiểu đội công binh C552 do Nguyễn Đình Cứ làm Tiểu đội trưởng rà phá để giải phóng đường cho dân sinh.
      Ngày đầu tiên Tài, Cứ và đồng đội đã rà nổ được năm quả an toàn, còn bốn quả phải để ngày hôm sau rà tiếp. Theo lời Lan kể, đêm đó Tài day trở suốt trên võng không ngủ được. Vậy mà, khoảng 16 giờ hôm đó, Lan nghe rõ tiếng nổ từ trên eo núi Bãi Dịa vọng về. Một lát sau, nhiều bước chân từ Văn phòng Tổng đội chạy về phía có tiếng nổ. Lan linh tính ... hốt hoảng chạy theo. Thì ra quả bom cuối cùng vừa nổ khi Tài bò lên kiểm tra. Thi thể Tài bị xé vụn bay theo cùng đất đá. Đơn vị gom nhặt cũng chỉ đủ đựng trong chiếc mo cau (bình thường Tài nặng sáu mươi tư kg). Sự hy sinh cao cả của hai liệt sỹ TNXP Lê Đăng Dương và Võ Xuân Tài đã làm tấm gương cho đơn vị học tập. Thương tiếc hai người đồng đội dũng cảm hy sinh, từ đó đơn vị đặt tên mới cho cầu Tối là cầu Dương - Tài do người viết bài này khởi xướng.
       Tiếc rằng đơn vị đã giải thể, thời gian qua đã lâu, nhân chứng đã già yếu nên chưa ai xây dựng hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho cả hai đồng chí và một số đồng chí khác. Hàng năm, mỗi lần tụ họp tại Ngã ba Đồng Lộc, đồng đội lại bùi ngùi nhắc tên Dương - Tài khi đi qua cầu Tối. Tên tuổi hai chiến sỹ công binh Lê Đăng Dương và Võ Xuân Tài đã trở thành huyền thoại của Ngã ba Đồng Lộc, gắn với sự tích chiếc cầu mang tên cả hai người./.


                                                                                                    Y.T

. . . . .
Loading the player...