Hà Tĩnh có bờ biển dài 137km, có nhiều cửa lạch, đảo được tạo bởi những đụn cát, ở những vịnh, vũng, đầm, vực… rất thuận lợi cho đánh bắt và nuôi trồng hải sản. Nhận biết được mình là những cư dân sống ven biển, từ khi lập làng đến nay, ngư dân Hà Tĩnh đã tận dụng lợi thế về vị trí địa lý để khai thác những nguồn lợi từ biển cả. Tạp chí Hồng Lĩnh Số 233 + 234 trân trọng giới thiệu bài viết “Tri thức dân gian về đánh bắt hải sản của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh” của nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Phan Thư Hiền
Hà Tĩnh có bờ biển dài 137km, có nhiều cửa lạch, đảo được tạo bởi những đụn cát, ở những vịnh, vũng, đầm, vực… rất thuận lợi cho đánh bắt và nuôi trồng hải sản. Nhận biết được mình là những cư dân sống ven biển, từ khi lập làng đến nay, ngư dân Hà Tĩnh đã tận dụng lợi thế về vị trí địa lý để khai thác những nguồn lợi từ biển cả. Cuộc sống mưu sinh buộc ngư dân phải thuần thục những kỹ thuật đánh bắt, ghi nhớ rõ từng luồng lạch, từng vị trí đánh bắt và tên những loài hải sản… Cuộc sống lênh đênh sóng nước và mưu sinh từ biển, đã hun đắp cho ngư dân Hà Tĩnh một kho tàng tri thức dân gian quý giá trong việc đánh bắt hải sản.

Biển gọi. Ảnh: Đậu Đình Hà
* Tri thức xác định luồng và mùa hải sản
Trải qua hàng ngàn năm gắn bó với biển, các thế hệ ngư dân vùng ven biển Hà Tĩnh đã nắm bắt rất kỹ tập tính, quy luật hoạt động, luồng hải sản và mùa đánh bắt để mang lại hiệu quả cao nhất trong khi đánh bắt các loài hải sản. Họ cho biết, hải sản thường đi theo đàn, ít khi đi lẻ. Khi phát hiện những đàn cá nổi lên màu đỏ giữa làn nước xanh, thì đó thường là những loài cá to. Do mực nước ở những vùng lộng không quá sâu, nên khi màu nước có sự thay đổi thì ngư dân lập tức nhận ra sự khác biệt. Nhờ đó mà có khi cách xa khoảng 500 mét, ngư dân vẫn có thể phát hiện được để đánh bắt. Tháng Ba là mùa hải sản đẻ trứng nên dân gian có câu “Tháng Bảy, tháng Ba - vào ra ba chuyến” để miêu tả việc thuyền bè đánh bắt được nhanh và hiệu quả. Ngoài ra, nghề thả câu vàng ở vùng rạn biển tuy diễn ra quanh năm, nhưng từ tháng 8 năm nay đến tháng 1 âm lịch năm sau là quãng thời gian thả câu vàng ở vùng rạn biển vào ban đêm. Đối với ngư dân đánh bắt vùng khơi, tháng 1,2 dương lịch, họ thường đánh bắt các loại tôm; các tháng 3,4,5 dương lịch: trữ lượng cá nhiều hơn nên ngư dân tập trung đánh bắt các loại cá. Vào các tháng 5,6 thì đánh dàn vào; từ tháng 7,8 thì đánh đổ ra; tháng 9,10 đánh từ 10-15 sải nước. Thời điểm này, trữ lượng tôm, mực, moi nhiều, ngư dân thường đánh các loại này và một phần đánh bắt cá, nhưng số lượng ít hơn; khi gió nồm thổi về, có nước lợ ở vùng sát bờ, cá thường ra xa bờ; nhìn mặt nước thấy bóng các luồng cá xuất hiện là biết được khu vực đó có cá; nhìn lên mặt nước thấy chớp chớp thì giăng lưới tại đó chắc chắn sẽ thắng lớn. Chính vì thế mà ngư dân thường truyền cho nhau những kinh nghiệm, hiểu biết về nghề đánh bắt như: Nước chảy xuôi, cá Buôi bơi ngược; Nước chảy ngược cá Vược bơi ngang… Hay: Anh đi đánh cá cũng nhiều/ Con nước lên xuống thủy triều phải theo/ Nước ương đánh cá phải mò/ Khi nào cạn nước, cá xô vào chuồng/ Nước rặc, anh thả lưới buông/ Cầu cho cá cả, theo luồng cá xuôi…
* Tri thức về chu kỳ con nước và ngày nước sinh
Ngày nước sinh tức là ngày một con nước được sinh ra, nghĩa là nước chảy từ sông ra biển, từ biển đổ vào sông, nước mặn gặp ngọt, hòa vào nhau tạo thành một loại nước mới, dân gian gọi đó là “nước sinh”. Theo dân gian đây là ngày cực kỳ xấu, nhưng với ngư dân thì ngày nước sinh là những ngày thuận lợi nhất cho việc đánh bắt hải sản vì nước tỉnh. Họ cho biết: 3 ngày đầu của một chiều nước sinh không mạnh nên gọi là “sớm nước” hay “nước đừng”. Những ngày này biển tĩnh lặng, hải sản sẽ áp vào gần bờ, dễ phát hiện, dễ đánh bắt hơn. Và khi nước lên, ngư dân lại bám ria bờ hoặc những cồn nhỏ để đánh moi. Câu ca “trong ba cũ, ngoài ba con”, lý giải với mỗi chu kì con nước sẽ có khoảng 6 ngày nước tĩnh lặng, đó là 3 ngày đầu chu kì nước mới và 3 ngày cuối chu kì nước cũ. Những ngày này trở thành thời điểm thuận lợi nhất trong đánh bắt hải sản. Với mỗi chu kì con nước 14 ngày, hình thức vây cồn có thể đánh được cá góc vào 4 ngày đầu của chiều nước đầu tiên. Từ ngày thứ 5 trở đi, nước sông cạn và nước biển chảy ngược vào sông, làm cho dòng nước chảy xiết hơn, lúc này cá lội ngầm, khó phát hiện, nên việc đánh bắt trở nên khó khăn hơn. Cùng với việc xác định mùa con nước, ngư dân cũng rất cẩn trọng với những ngày cữ của con nước, thường xảy ra những hiện tượng thời tiết bất thường. Mặt khác, hải sản có đặc tính di chuyển theo dòng hải lưu nên việc tính con nước cũng rất cần cho việc đoán biết dòng hải sản đang di chuyển để xác định nơi đánh bắt.
* Tri thức dựa vào chu kỳ tự nhiên để đánh bắt
Những tài công, hoa tiêu, những người đi biển lão luyện thường dựa vào chu kỳ tự nhiên của năm, tháng, ngày, giờ… để đánh bắt hải sản. Cụ thể: Dựa vào chu kỳ biến đổi của trái đất, họ có thể dự báo được những thay đổi về thời tiết trong năm hoặc chu kỳ của các năm nên có câu “Tháng Giêng tố dài, tháng Hai tố cụt” hay “Tí hư, Sửu hao, Dần bất lợi” là vậy. Những tháng, năm trên thường gặp thiên tai như lụt, bão và nhiều bất thường so với những năm khác. Tháng Hai, Ba: cá đang vào đẻ, đánh được rất nhiều loại cá. Tháng 4,5: “Cá mẹ không còn, cá con chưa lớn”, nên chỉ đánh các loại ghẹ, cua, bề bề. Thường từ tháng 6 đến tháng 10: Gió nồm lên, thúc nước ngọt về, cá phải xuống ở sâu từ 12 đến 13 sải nước. Tháng Bảy, dân gian có câu: “Tháng Bảy, nước nhảy lên bờ”. Tuy nhiên, theo họ trong một tháng cũng có ngày tốt/ ngày xấu, từ đó hình thành nên những cách ứng xử phù hợp. Theo ngư dân những ngày xấu, “kỵ chung” như 7/3, 10/3 và 20/3 âm lịch, không nên ra khơi, vì thường vào những ngày đó đều có giông tố, sẽ không đánh bắt được, thậm chí thiệt hại về tính mạng và tài sản. Một số ngư dân cho biết, thông thường sau rằm tháng 7 âm lịch thường mưa lớn, nên họ ca thán:“Ông tha mà Bà chẳng tha, sinh ra cái lụt 23/10”. Về giờ, dân gian truyền câu “Mưa không quá Ngọ, gió không quá Mùi”, để chỉ chu kỳ hoạt động của gió mưa, thường tạnh trước giờ Ngọ. Theo đó, người dân chủ động bố trí lịch đi đánh bắt hợp lý, tránh được thời tiết bất thường.
* Tri thức dựa vào hiện tượng tự nhiên để đoán định thời tiết:
- Dựa vào hiện tượng tự nhiên để đoán định thời tiết
Xưa kia, ngư dân vùng ven biển Hà Tĩnh có tục “bàn trời”, tức đoán định thời tiết thông qua các hiện tượng thiên nhiên, nhằm phần nào tránh được những mất mát về người cũng như tài sản trong quá trình ra khơi đánh bắt. Họ đúc kết: Nếu tháng 2, 3 âm lịch, mây bay về hướng Bắc, thì biển động, dễ có bão; nếu từ ngoài biển nhìn vào đất liền, thấy những đám mây giăng kín, rìa chân mây thẳng băng thì tức là sắp có gió mạnh hoặc trời sẽ mưa trong vài ngày tới; nếu nhìn thấy mây đen kịt bầu trời, hở chân mây thì gió thổi bình thường, không có mưa bão; vào tháng Tám, nhìn ra hướng đông nếu thấy mây đùn lên tựa như bông thì ngày mai trời sẽ mưa to và kéo dài; khi thả lưới, nếu thấy nước dưới sâu cuộn lên, đục và chảy mạnh thì sắp có giông bão; thấy sóng vỗ mạnh vào thuyền, dòng chảy xiết và tiếng chảy ào ào, thì báo hiệu sắp có gió mạnh; nhìn trên mặt nước biển phẳng lặng, nếu thấy sóng biển phát sáng như đom đóm, sau đó sẽ có bão; nghe tiếng sóng biển vào đất liền thì biển lặng; nếu sóng chạy ra biển, thì biển động; nếu nước biển ở một vùng nào đó không phải màu lục mà có màu xanh da trời, thường có bão, mưa lớn; nếu thấy trăng non (khoảng mồng 8 -12 âm lịch) nằm nghiêng, thì sau vài ngày sóng mặt biển mạnh, gió sẽ rất lớn, có thể có bão; nếu trăng khuyết mà nằm ngang thì trời trong xanh, có thể ra khơi bình thường… Và tất cả tri thức trên được ngư dân đúc kết bằng ca dao, tục ngữ để làm “cẩm nang” khi đi biển: Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang/ Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút; Tháng Bảy nhìn ra, tháng Ba nhìn vào; Tháng Bảy xem đông, xem tây; Thuyền ngược, ta khiến gió Nam/ Thuyền xuôi, ta khiến gió nồm thổi lên; coi gió bỏ buồm; Mống cụt không lụt thì bão; Mống đóng đằng Tây, mưa rây gió giật/ Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa; chớp phía đông, mưa giông đã tới; Đông, Nam có chớp chéo nhau/ Thấp sát mặt biển, hôm sau bão về…
- Dựa vào cây, cỏ để dự đoán thời tiết
Cây, cỏ có vai trò quan trọng đối với ngư dân về dự báo thời tiết, chẳng hạn: Những khi trời nắng to, thấy rễ cây si nổi những túa trắng, thì nhất định sẽ có lụt; đầu năm, khi những cây tre mọc măng non, nếu măng mọc như hình tre mẹ ôm tre con thì đó là sự bão hiệu năm đó sẽ bão nhiều; nếu măng và tre mọc tách nhau ra thì năm đó sẽ ít bão; cây chuối nước trổ, sắp tàn thì bắt đầu mưa bão, lũ lụt; cây tóc tiên nở hoa và đến khi hoa nở nhiều, nở đều là mưa; cây khế năm nào quả mọc trên thân nhiều, thì năm ấy sẽ có bão to; cây cỏ gà, cỏ chỉ đang xanh mà tự nhiên trắng toát, thì sắp mưa; cỏ gừng có ba đốt thì mưa, bảy đốt thì lụt; lá mía có ngấn sâu là lụt to, ngấn cạn là lụt nhỏ; cỏ lau trổ hoa là hết lụt, bão; đọt cỏ ống nếu có một ngấn thì một trận lũ trong năm đó, mà hai ngấn thì hai lụt…
- Dựa vào động vật, chim, cá, côn trùng
Khi thấy chim bay từng đàn tiến vào đất liền, sau đó ít ngày sẽ có bão; nếu chim Vạc vào đất liền trước tháng Ba, báo hiệu có bão sớm; nếu nhiều chim hải âu sà xuống biển, báo hiệu sóng yên, biển lặng; nếu đột ngột không thấy chim xuất hiện nữa thì có thể bão sắp nổi lên; kiến bỗng nhiên bò lên hàng đàn, thì trời sắp trở gió; kiến hôi khẩn cấp tha trứng và thức ăn đến chỗ cao, tức là chúng đang đi tránh lụt; tổ kiến thấp thì bão, tổ kiến cao thì lụt; kiến làm tổ trên đọt tre, năm đó sẽ có lụt lớn; kiến làm tổ chỗ kín của bụi tre, thấp dưới gốc thì năm đó có bão lớn; trời đang nắng, thấy chó ăn cỏ, ăn lá tre, nghĩa là trời động mưa; trời đang mưa, chó tự nhiên cứ ra gặm cỏ, thì hôm sau trời sẽ hửng mưa; cóc nghiến răng, kêu là trời sẽ mưa; xem đùi con ếch, bóc da đùi của ếch thấy có đoạn thắt lại rất sâu ở đùi, năm đó sẽ có lụt, bão to; xem chân sau của con ếch, nếu thấy chấm đen nằm ở vị trí cao thì năm đó sẽ có lụt lớn; con ốc xoắn chụm lại với nhau thì sắp có lụt lớn; ốc xoắn leo lên cọc tre trên đầm phá là dấu hiệu có bão to; thấy cá bống thệ ăn ốc, hay cá mú đen ăn ốc xoắn, năm đó có bão lớn; năm nào con cá kình xuất hiện nhiều là năm đó bão to; khi thả lưới đánh cá, nếu cá bống bám lưới nhiều thì trời sắp động…
* Phương thức, phương tiện và ngư cụ đánh bắt
Tùy theo môi trường đánh bắt mà ngư dân áp dụng các phương thức và ngư cụ đánh bắt khác nhau. Xưa kia, phương thức và hoạt động đánh bắt hải sản của ngư dân Hà Tĩnh chủ yếu mang tính thủ công, dùng sức người là chính.
- Phương thức đánh bắt:
Theo tư liệu từ những đợt khai quật khảo cổ học về những di chỉ như đống vỏ sò hay cồn sò điệp trong các nền văn hóa Bàu Tró, Thạch Lạc..., đã minh chứng biển là nơi cung cấp nguồn sống chủ yếu cho các cộng đồng người cư trú ở ven biển cách đây trên 5.000 năm trước, đồng thời cho thấy phương thức đánh bắt hải sản của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh trước đây hoàn toàn bằng hình thức thủ công như: Nghề gõ, nghề lưới vây nghề rùng, nghề te bẩy, nghề lưới rênh, nghề sẻo, nghề đăng, nghề gõ gai … Và theo khảo sát thực tế hiện nay, có 30 phương thức đánh bắt, trong đó có 24 phương thức đánh bắt thủ công đánh bắt trong lộng, 6 phương thức đánh bắt ngoài khơi.
- Phương tiện và ngư cụ đánh bắt:
Để khai thác các loại nguồn lợi hải sản khác nhau, con người phải chế tác ra các loại công cụ và phương tiện tương thích. Bởi vậy mà các loại thuyền, lưới của ngư dân rất đa dạng. Ngoài thuyền là phương tiện đánh bắt, thì dụng cụ đánh bắt cá chủ yếu là “vàng” lưới (lưới mười, lưới rút, lưới xăm…). Đánh bắt mực thì dùng thuyền câu, bắt tép thì dùng rớ, te. Đánh ngoài khơi phải dùng lưới mười, lưới rút… Thuyền đánh bắt gần bờ thường nhỏ, như: Thuyền đăng, đáy làm nghề đăng, đáy ở cửa sông. Nhỏ hơn còn có các loại: Thuyền lưới bén, thuyền lưới dụi, thuyền lưới vây thuyền nan, thuyền thúng, thuyền gõ, thuyền cò, thuyền ván, thuyền cóc… Về ngư cụ, tùy theo môi trường đánh bắt mà ngư dân áp dụng các phương thức và ngư cụ đánh bắt khác nhau như: Đánh bắt hải sản nước mặn có các loại như: chài, dậm, dập, đáy, đăng, đó, lờ, nơm, ống lươn, te (xiệp), vó bè; lưới kéo; lưới vây; lưới rê; câu; lưới rùng, lưới đăng, văng tay, thả bóng, vó sáng, đó, lờ, vó, đăng, đáy...
* Tri thức về kinh nghiệm đánh bắt
Mặc dù với đôi tay trần và những công cụ, dụng cụ đánh bắt đơn giản, nhưng các thế hệ dân cư vùng biển Hà Tĩnh đã sáng tạo ra nhiều hình thức đánh bắt hải sản hết sức đa dạng. Họ đã dày công tìm hiểu tập tính, quy luật hoạt động của các giống loài hải sản sinh sống trong môi trường tự nhiên để tạo ra những công cụ, dụng cụ đánh bắt hiệu quả. Đối tượng đánh bắt chính là trong lộng, chủ yếu các loại cá tạp, cá nhỏ, gắn với các kiểu đánh bắt truyền thống có: cá lăng, cá đối, cá kìm; gắn với nghề văng tay, cá đục, cá móm; gắn với nghề gõ là cá hồng, cá thu, cá nụ, hố đao, hố lạc, cá giang, cá bẹ, cá dớp; gắn với nghề gõ, nghề vây là cá hồng, cá thu, cái hố, cá mòi… Nói về ngành nghề, hoạt động khai thác hải sản ở vùng ven biển Hà Tĩnh chủ yếu là các nghề lưới kéo, lưới vây, lưới rê, mành vó, câu… Trong đó, nghề lưới rê là nghề chính, chiếm 43,63% tổng số phương tiện toàn tỉnh.
Trên đây là một số tri thức dân gian của cư dân ven biển Hà Tĩnh, hy vọng những kinh nghiệm quý báu của người xưa lưu truyền cho các thế hệ sau luôn là “cẩm nang” cần thiết đối với ngư dân trong quá trình đánh bắt hải sản, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, đồng thời góp phần gìn giữ chủ quyền lãnh thổ của đất nước và làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa của cha ông./.
P.T.H