16-11-2017 - 19:20

Thầy Lương Xuân Cung

Bài viết của tác giả Lê Văn Vỵ về thầy giáo Lương Xuân Cung nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.

      Từ giáo viên dạy Toán (trường cấp III Minh Khai) thầy được bổ nhiệm Trưởng phòng GD&ĐT huyện Đức Thọ- vùng đất học lừng danh. ( Trong con mắt của thời nay, đây là chuyện hi hữu, còn thời ấy, khi thang giá trị chưa đảo lộn, Trưởng phòng Giáo dục tỉ lệ thuận với tài năng, đức độ, tâm huyết, thì thầy Lương Xuân Cung được cất nhắc lên Trưởng phòng đánh dấu "thời vàng son" của công tác tổ chức cán bộ).

         Từ ngày chuyển từ trường Sư phạm về cấp Ba, Văn Lê được anh Ngô Thế Lý- Phụ trách môn Văn của Sở GD&ĐT ghi tên vào: " Tổ chuyên môn nghiệp vụ". Văn Lê cứ ngỡ ghi tên cho vui, nhưng với anh Lý thì phải có kế hoạch hoạt động cụ thể. "Mang ách vào cổ" thì phải "kéo cày" học sinh giỏi, GV giỏi và bồi dưỡng chuyên đề cho GV. Đây là cơ hội để Văn Lê liên hệ, gặp thầy Lương Xuân Cung.
         Mình gặp thầy ở phòng làm việc. Phòng của Trưởng phòng chẳng có gì. Không xa lông, không tủ. Một bàn gỗ vài cái ghế tréo ( chứ không phải như bây giờ, phòng trong phòng ngoài, xa lông, giường nệm, tủ lạnh, máy lạnh, ri đô, phông màn lóa cả mắt). Vài lời giới thiệu, thầy vào nội dung chính của vấn đề. Và kế hoạch bồi dưỡng hè cho GV Ngữ văn rất rõ ràng. Chuyên môn của thầy là Toán, nhưng thầy am hiểu điều mà  giáo viên cấp 2 dạy Ngữ văn đang cần, rất cần. " Đặt hàng luôn nhé! Tiếng Việt ( phần Ngữ âm, Ngữ pháp và Văn bản); Tập làm văn ( tổ chức đoạn và bài văn); phần giảng văn đi vào những tác phẩm cụ thể khó và mới trong chương trình cấp 2 ! Giải quyết vấn đề cụ thể để giúp GV, chứ không "dây cà ra dây muống". GV bây giờ thích thiết thực...Giúp cơ sở nên hướng vào thiết thực."

      Công việc được giải quyết nhanh gọn. Minh xem như "đã được đặt hàng". Ngày 12 tháng 8 mới lên lớp. Nhẩm tính còn 5 tháng nữa.  Rồi bất ngờ thầy hỏi: " Vỵ có bài thơ nào đọc cho vui?". Mình đọc cho thầy nghe vài bài. Và thầy cũng đọc tặng mình bài thơ: " Ra trận". Lúc đọc thơ, nghe thơ, thầy là một người khác. Mắt rực sáng lên, chăm chú. Giọng rung động. Cảm xúc trào dâng. Sau này được đọc và nghe thơ thầy qua giọng ngâm, mình càng hiểu thêm tâm hồn trong trẻo, lạc quan, yêu đời của thầy. Ngạn ngữ có câu: " Người ra răng thì săng ra rứa". Thơ của thầy là "bức chân dung tự họa" của chính thầy. Chân chất, mộc mạc, giản dị, nhưng rất đổi tinh tế, giàu xúc cảm. 

         QUÊ TRƯỜNG là một trong những bài hơ hay nhất của thầy. Quê trường khác hẳn trường quê. Trường quê là trường ở quê, còn quê trường, trường như một sinh linh có cội nguồn quê hương mà gốc rễ là ngọn nguồn của tình thương: “ Nơi tình thương của ngọn nguồn tình thương”. Với thầy những địa danh như  lụa Hạ”, Hà Châu, bến nước Tam Soa không chỉ là địa danh bình thường mà kết đọng của văn hóa, nguồn mạch tâm linh:
Câu ví dặm, ánh trăng trong
Ru ta mãi giữa mênh mông nghĩa tình.

         Tứ thơ được mở rộng ra không gian và thời gian. Từ quê trường nối với mặt trận với rộng dài đất nước nhân dân, từ  quê trường quá khứ, hiện tại đồng hiện trong nguồn mạch thiêng liêng là ân tình, ân nghĩa vô cùng thấm thía, xúc động. Lựa chọn thể thơ lục bát, “Quê trường” ngọt ngào như lời ru, như La giang đôi bờ sóng vỗ. Tất cả hình ảnh quấn quýt, gợi cảm được thể hiện trong điệu thơ trữ tình đằm thắm, thiết tha. 

Thầy Lương Xuân Cung thời còn trong quân ngũ

         Bài thơ: " Ra trận" thầy viết trong bối cảnh cả nước ra trận " Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Nhiều học sinh của thầy đọc xong bài thơ của thầy đã chích máu viết đơn tình nguyện ra trận và năm 1971, thầy giã từ bục giảng lên đường ra tiền tuyến đến với chiến trường Tây Nguyên, mặt trận phía Tây. Năm 1973 trong một trận đánh ở Kon Tum, thầy bị thương. Năm 1979, thầy ra quân trở về với trường cấp 3 Minh Khai (Đức Thọ). Vì vậy, những vần thơ của thầy hội tụ tất cả cao đẹp của con người thầy, không hề tô vẽ. ( Với thầy cao đẹp cuộc đời đã nuôi dưỡng những vần thơ). Cho nên, khi đã hiểu được một phần cuộc đời thầy mới thấm thía những vần thơ chan chứa yêu thương và đầy trách nhiệm. Những vần thơ đồng hành với thầy- người lính trên đường Trường Sơn ra trận, đồng hành với thầy giáo trên bục giảng, đồng hành với nhà quản lý giáo dục trước những biến cố của đất nước và nghề nghiệp.
       Sau này, khi có dịp tiếp xúc với lãnh đạo giáo dục, mình lại thấy PHÚC CHO NGÀNH GIÁO DỤC CÓ ĐƯỢC NHỮNG CÁN BỘ NHƯ THẦY LƯƠNG XUÂN CUNG. Không chỉ giáo giới và nhân dân huyện Đức Thọ biết đến Trưởng phòng Lương Xuân Cung qua việc bổ nhiệm được những cán bộ giỏi như Bùi Xuân Vạn ( Hiệu trưởng trường THCS Hoàng Xuân Hãn); Dương Thế Vinh (Phó Hiệu trưởng THCS HXH), và Nguyễn Quốc Hải- Phó phòng GD Đức Thọ (hiện công tác tại Bộ GD&ĐT)...Một GV dạy Toán ở trường HXH tâm sự: " Hồi đó, tìm cán bộ giỏi để làm việc, là cho dân cho HS và phụ huynh được nhờ, còn bây giờ cái cần tìm lại là cái khác như dân gian đã đúc kết: Quan hệ, tiền tệ vvv..".

     Còn nhớ năm 2001, chú Hiền ( hàng xóm với Văn Lê) sang nhà uống nước chè xanh rồi phàn nàn: " Có cháu học xong Cao đẳng sư phạm Hà Tĩnh, nhà nghèo, bố ốm đau, mẹ lương nỏ ăn thua, ra trường, thất nghiệp. Thầy đi nhiều có nơi mô quan tâm cho chút". Rất may là ngày hôm sau, mình xuống Đức Thọ công tác gặp thầy Cung. Rồi chuyện của ông hàng xóm nhờ nói cho một lời mình đem ra trao đổi với thầy. Thầy bảo: " Ở trường Ân Phú, còn thiếu một GV, cho cháu về đó, hơi xa khó khăn chút, nhưng tuổi trẻ cần rèn luyện, dần dần tính sau". Mình về nói với anh Hiền. Thế là cháu được biên chế, có việc làm. Mười sáu (16) năm trôi qua rồi, chắc cháu cũng nỏ nhớ đến thầy nữa. Trưa nay, vừa ngồi uống nước với anh Hiền, nhắc lại chuyện cũ, anh nói: " Mà bọn em cũng tệ thật. Nỏ gặp gỡ chi thầy Cung cả. Nỏ biết thầy ở mô cả. Thì cũng may là gặp Người phúc đức, gặp thời còn tốt, chứ giờ, ông X...mất mấy trăm mà nỏ xong việc cho con."

Tại buổi gặp mặt kỷ niệm 35 năm lớp A, khóa 1979-1982, trường THPT Minh Khai

         Những năm 90, đời sống GV vô cùng khó khăn, nhà mình GV, lương" hẻo" nuôi 3 con ăn học nên túng bấn. Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Khổ. Xoay ra nghề nấu rượu lấy hèm nuôi lợn. Từ nuôi lợn thịt chuyển sang lợn nái. Nhưng nỏ ăn thua vì phối giống trực tiếp, con nhỏ, người mua không chuộng.  Bạn bè tư vấn cho mình xuống Đức Long lấy tinh lợn để thay giống. (Vì con nái đã đến kỳ, phá chuống nhảy ra).Tối mình lo soạn giáo án, nên sáng mai “mò” đến được Đức Long thì hết tinh giống." Thôi chết rồi. Thế là lỡ mất lứa lợn". Đang chán nản, bỗng gặp thầy Cung. Thầy bảo: " Khốn khổ. Buồn mần chi nữa. Thôi, về lo soạn bài rồi hè này, xuống dạy bồi dưỡng, mình trả cho hơn ổ lợn nái". Được lời như cởi tấm lòng. Thế là nhờ thầy mà mình lập được thành tích MANG ĐƯỢC GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG SÁNH VAI VỚI GIÁ LỢN. Mình viết đến đoạn này, thầy Nguyễn Ứng Trung (nguyên Hiệu trưởng trường Nguyễn Tuấn Thiên) nói: “Nghe cay cay và chua chát thế nào ấy”. Nhưng cay chua ấy là sự thật!

        Ngày 31/9 biết thầy về Đức Thọ để dự liên hoan thầy Lê Chí Thành - Trưởng phòng GD&ĐT Đức Thọ về hưu, Văn Lê a lô cho Dương Thế Vinh hẹn gặp thầy.  Năm 2010, thầy ra Hà Nội, thỉnh thoảng mới về Đức Thọ. Cũng đã lâu lắm, Văn Lê mới được ngồi với thầy. Sau rất nhiều chuyện đời, lại chuyện thơ. Và hiển nhiên, bài thơ RA TRẬN VÀ QUÊ TRƯỜNG được đọc trong buổi hội ngộ này

(  Xin đươc giới thiệu với bạn đọc 2 bài thơ của thầy Lương Xuân Cung)

RA TRẬN .

Tổ quốc gọi tên em lên đường ra trận
Nghe bâng khuâng lưu luyến tuyến đường xưa
Trang sách mở vẫn nghe mùi khói đạn
Mang trong mình thầm kín những giấc mơ


Đời vẫn ngọt như nước sông quê mẹ
Bước lên đường lưng xanh lá mùa xuân
Bụi trường chinh sẽ nhuộm hồng tuổi trẻ
Rạo rực lòng nghe trống hội ròng quân

Chào tất cả hẹn ngày chiến thắng
Chín mười năm mưa nắng có hôm nay
Nhớ bạn nhớ thầy ngọt Bùi cay đắng
Xao xuyến lòng tay xiết chặt bàn tay

Quê hương ơi chưa xong chiều tâm sự
Mà nghe đây non nước gọi ta vào
Chống ngoại xâm bốn nghìn năm lịch sử
Chặng cuối mình không góp sức hay sao. 

Chào bè bạn lên đường ra tiền tuyến
Đêm mai rồi nghe thác đổ Trường Sơn
Trong gió núi nghe đượm tình thương mến
Của bạn thầy như lửa ấm từng cơn

Nhớ tên lớp tên trường lòng man mác
Theo tên em tiếp cận hầm ngầm
Nhớ lớp học rung trong tầm đại bác
Gọi lòng em vuốt nhọn mũi lê đâm

Mũi súng giao nhau những đêm dồn pháo nổ
Vượt chặng đường đất đỏ giữa tiền phương
Giáp mặt quân thù đêm nằm nghe sóng vỗ
Mà nhớ về sông nước của quê hương

Mỗi lán lũy sẻ đi vào kỷ niệm
Và ngày sau anh lại nắm tay em
Bút chưa khô những dòng mực biếc
Chọn ước mơ ta lại viết dài thêm

Chào em nhé ngày mai ra trận
Quê hương mình tin tưởng ngóng trông theo
Đạn lên nòng như cơm đang chờ bận
Đọc tên trò anh thấy vạn lần yêu

Ta quét sạch quân thù trong những chiều mai mốt
Và các em lịch sử thuộc từng tên
Việt nam ơi mùa xuân về xanh tốt
Đánh giặc rồi ta lại lớn hơn lên .

QUÊ TRƯỜNG
Ở đâu chẳng một quê trường
Mà xưa đất ấy sao thương học trò
Từ trong canh cửi tằm tơ
Đèn chung trang sách, thoi đưa canh chầy
Thương con mẹ trọng nghĩa thầy
Tiếng tăm lụa Hạ từ đây mà thành

Quê nghèo nuôi chí học hành
Chắt chiu đời mẹ ngọt lành đời con
Bao nhiêu là nghĩa nước non
Lắng sâu giữa tuổi trăng tròn đời ta

Ai về bến nước Tam Soa
Cồn Soi đất bãi, phù sa mượt dòng
Câu ví dặm, ánh trăng trong
Ru ta mãi giữa mênh mông nghĩa tình

Nơi bàng biết nắng mà xanh
Bâng khuâng hoa phượng, đỏ cành chân đê
Mầm non măng mọc thành tre
Tay người gieo hạt nên quê mùa màng

Sinh ra đất đã cho trường
Nên người sống biết khiêm nhường thế chăng ?

Tôi ra mặt trận xa xăm
Nhớ từng gốc phượng, gốc bàng Hà Châu
Thương người dệt lụa trồng dâu
Thương người năm nắng, dãi dầu mười sương

Cho tôi trở lại quê trường
Nơi tình thương của ngọn nguồn tình thương.


Lê Văn Vỵ

. . . . .
Loading the player...