04-03-2019 - 10:50

Tranh họa đồ( bút ký của Nguyễn Hoàng Hiệp)

Tôi đã qua khúc ruột miền Trung vào khoảng đầu hè năm mười bốn tuổi. Nắng rát bỏng. Nắng không cho ai thở. Chỉ có nắng và gió thở mặn mòi theo bờ biển nhiều hoa muống lẫn vào màu cát pha lê.

Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

                                                                              Ca dao

              Tôi đi qua những thửa ruộng màu ở Nga Sơn và Nghi Lộc. Người ta trồng lăn lóc dưa hấu, những quả dưa thỏa thuê ủn ỉn nằm hong nắng. Xe dừng ở quán nước nhỏ. Tôi lần đầu chạm vào chiếc bánh Cu Đơ xứ Nghệ, trong miệng thơm lạ lẫm một vị ngọt không hề giống với bánh khảo, bánh đậu; cũng không phải chè lam, cũng không phải bánh mật… Cu Đơ lạ lẫm như cái tên kì ngộ của nó, lạ lẫm với một đứa trai mới lớn lần đầu nghe ví giặm, những làn điệu dân ca không cần nhạc đệm, vẫn cất lên đầy thiết tha, sâu lắng.
           Tôi qua đèo Ngang khi hình ảnh của bãi cát rực hửng lấp loáng lên giữa nắng cháy. Không phải là lúc “bóng xế tà” nầu nẫu ruột gan giống trong thơ Bà huyện Thanh Quan, dẫu cái hoang sơ đến mấy thế kỉ vẫn dày và ào ạt trong trí tôi những cát, những núi và mây trời. Cát dạt dào óng ánh như pha lê bên hàng dương khát biển, cứ rướn cong như mũi tàu hoa tiêu. Trong cơn rát cháy xuyên qua lớp kính ô tô, láng máng trong tôi hình ảnh bà mẹ Kì Anh năm nào đang hòa cùng hình ảnh của bao ngư dân Hà Tĩnh. Còn ở bên xa kia Truông Bồn, Đồng Lộc, tôi rùng mình nghe bom dội về từ cả mấy chục năm trước giống như lời bài hát một Khúc tâm tình của người Hà Tĩnh…
            Tôi qua Ba Đồn để nghe không gian đêm huyền của Nhật Lệ. Đêm huyền lặng lẽ thả vào trăng rằm hôm ấy bao giọng hò khoan nhặt. Bãi biển bên thềm thành phố thơ thẩn ôm níu lơ đãng chuyện tình hoa muống biển. Biển lẳng lơ và kiều diễm tôi còn ngây ngô và ngờ nghệch. Trăng hờ hững bay theo mây. Trăng kênh kiệu không đáp lời bao cơn sóng bạc đang khát khao vờn vuốt, cuối cùng chỉ biết sà vào lòng Nhật Lệ bao dung, khóc vỡ ra những tan nát sâu thăm thẳm.
           Tôi không thích đi chợ như các cô bác phụ nữ. Họ vì không thể qua Lao Bảo nên dừng ở Đông Hà mua sắm rất hăng say. Càng lúc càng thấy chênh vênh bởi từ Đông Hà thấy núi lờ mờ tang tảng mà đã nghe hơi mặn lùa vào xoa xuýt rất kĩ. Dải đồng bằng của Quảng Bình và Quảng Trị không còn rộng được như mạn Cửa Hội, thảo nào giọng hò khoan đã khác so với câu ví giặm lở bồi cùng đôi bờ sông Lam. Tôi nhớ cái sầm uất trong nỗi chênh vênh ấy của Đông Hà rất lạ. Sầm uất như im lặng? Sầm uất như thơ thẩn? Tôi đã ao ước thấy xương rồng ở Cửa Tùng, hay chí ít tìm lấy một tấm ảnh rừng phi lao cong rướn, xong rồi lại thôi. Nghĩ mà thương người dân ở đây cần cù chất phác, da họ sạm đi vì gió Lào cát trắng. Họ nói bằng thổ ngữ chân chất, chân chất như lúc họ cười.

Thấp thoáng chùa Thiên Mụ bên sông Hương ( Ảnh: Manh Bang Nguyen)

         Tôi chỉ mong chờ gặp người con gái ấy, người con gái của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhắc tới trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Huế gắn vào tâm trí tôi một sự cô đơn đến cùng cực. Tôi đã thấy sự trầm mặc và thâm nghiêm của kinh kì trăm năm trước đang bủa vây lấy sự ngơ ngác của tôi. Cây cầu Trường Tiền nghiêng nón cong vòm, chia nhịp cầu rành rọt lách cách người xe như tiếng hai chiếc chén cười với nhau trong cơn say Nhã nhạc…
          Những cô gái hát trên thuyền cũng “kinh kì” luôn như thế. Họ cười vừa đủ. Trò chuyện vừa đủ. “Dạ” rất khéo, tiếng dạ rót ngọt êm đềm hoa đăng, trôi bồng bềnh những tò mò và nôn nóng của bao du khách về ngược trên vọng vang Thiên Mụ. Thuyền dập dềnh đi theo từng lời ca, tha thướt theo từng tà áo truyền thống cùng vành khăn quấn rộng của các ca nữ. Vài người say ngất ngưởng, không biết vì rượu hay hay vì thanh sắc của các cô gái, mà đã lầm tưởng đang lạc ở quán bar. Tất thảy những lố bịch và quá trớn của du khách đều được các ca nữ ghìm lại. Họ nói bằng tiếng hát rất thản nhiên và lời giải thích dịu dàng mà sắc quánh, đủ để “chờn” mặt các gã say rượu trót say cả đất trời và con gái kinh kì.
          Tôi yêu thích âm nhạc. Tuy nhiên hiểu biết về ca Huế của tôi lúc đó rất hạn chế. Thú thực, tôi đã không hiểu hết ý nghĩa các lời ca và chưa thấy được tính chất cung đình của nó. Ca Huế mang hơi thở Nhã nhạc cung đình, lịch sử vần xoay đã vĩnh viễn để cho tấu nhạc hoàng gia trở thành di sản. Nhưng điều đáng lo ngại ngập trong từng đôi mắt trĩu nặng của các ca nữ khi họ chia sẻ về nghề. Tôi ám ảnh từng mi mắt ướt đa cảm khi nói về nghề của họ, chúng u uẩn giống những đám mây trên rừng đang che giấc ngàn thu lăng tẩm. Họ đều tốt nghiệp trường nhạc tại Huế, được học bài bản và được các nghệ nhân tâm huyết đi trước truyền nghề, truyền cả lửa làm nghề lẫn hồn cốt của bao giai điệu, lời ca.
            Dòng sông đến rằm bồng bềnh hoa đăng bỗng đen hõm hun hút vào từng đôi mắt xuân nữ ai oán. Con sông mà người làng hai bên đã đổ nước nấu của hàng trăm loài hoa, để muôn đời người ta gọi nó là sông Hương đang chớm buồn lững thững…
         Bún bò Huế cho bữa sáng hôm ấy tại cố đô làm tôi xuyến xao mãi. Bây giờ ở Hà Nội thực không thiếu quán bún ngon, ấy thế mà tìm cho ra cái thần thái rất Huế trong tô bún bò giò heo thì cứ phải là lần ấy. Tôi không thấy cái thần sắc kinh kì khi ăn bún bò tại Hà Nội, đó không hề là một linh cảm vu vơ và lãng mạn. Ẩm thực một khi đã được nâng lên tầm nghệ thuật thì không đơn giản chỉ ngon trên vị giác. Tất cả các giác quan sẽ căng mở khi một món ngon đúng điệu được đưa vào tâm hồn của người thưởng thức. Cũng giống ở Nhật, uống trà không đơn giản là uống trà. Khi trà lên đến ngưỡng Trà đạo thì triết lí cùng cái hồn văn hóa đã ngấm trong chén trà rất sâu.
           Một miếng móng giò căng bóng nằm trong tô bún, tròn xoe ngộ nghĩnh. Bên này có tiết luộc thái vuông cũng to bản. Miếng chả tròn tròn ướp tiêu ăn mịn màng như giò lụa. Và tất nhiên vị ngọt của xương bò cùng từng lát bắp bò thái mỏng ngon thơm khó cưỡng. Bắp bò mềm và ngon hơn cả thăn, nhừ mềm nhưng chưa hề nát trong nồi nước ninh xương ngọt ngào rất thật, không phải vị ngọt hơi lợ của mì chính. Sợi bún cũng to, xem ra cho cân xứng với cun giò và phong phú các loại chả to chăng? Ăn cái sợi ấy thấy sần sật như trân châu, tạo ra cảm giác khoái chí lạ miệng. Tôi hứng thú nghe sự chuyển động của sợi bún dài và dai, sợi bún đang ngọ nguậy và nũng nịu rất tình, rất tình kiểu cay nồng ớt chưng, vấn vương tiêu bắc. Một bữa sáng dinh dưỡng, thuê thỏa mà có nhiều nét tinh tế rất riêng. Cái gì cũng bự, mà hóa ra xinh xắn ngộ nghĩnh. Có nhiều người no quá không ăn xuể, bỏ mứa mà còn phải tấm tắc khen ngon. Tô bún của tôi thì còn lại có ít nước dùng, môi của thằng bé mười bốn năm nào đỏ lựng giống tô son…
          Cứ lần theo bờ biển Thuận An, Lăng Cô là thấy vùng đầm phá ở đây càng thêm chống chếnh. Đồng bằng kéo núi ra sát gần vụng như trùm chăn khiến từ Huế ra biển có vài chục cây số. Thành ra, mới đó kinh kì tấp nập người qua mà Phá Tam Giang đã gần kề chiếc xe của chúng tôi. Vùng Lăng Cô hoang sơ đến hoang dại, biển lơ lẳng hơn cả Nhật Lệ, chìm đắm ve vuốt cả núi lẫn sóng, gọi Lăng Cô là tiên cảnh bồng lai cũng không ngoa. Lâu rồi tôi không có dịp trở lại Huế, không rõ những dự án resort và mạng thông tin kết nối nhanh tiện có khiến nàng tiên hoang dại sợ hãi bỏ chạy?
           Xe dừng ở Mỹ Khê. Thành phố của những cây cầu, thành phố bên bờ sông Hàn, thành phố mà người ta vẫn ca ngợi là thành phố đáng sống nhất Việt Nam chào chúng tôi bằng giọng chào mộc mạc xứ Quảng. 
          Đà Nẵng. Thành phố yêu chiều cô con gái Mỹ Khê, cô con gái có cái tên thật đẹp, đẹp như tâm hồn trong veo xanh thẳm của nàng. Nàng không thích dội sóng lớn như Hải Phòng quê tôi. Cũng không im ắng như Lăng Cô. Nàng trải dài một dải, nàng chạy theo các dãy cao tầng, mê mải ngắm những rặng dừa, mơn man và vân vê từng lọn cát óng. Nàng thân thiện chào đón rất đông du khách nhưng cũng rất biết giữ ý tứ, không phóng khoáng đến bạo liệt như màu biển sú vẹt quê tôi. Chẳng là thay vì choãi ra xa với thềm nông thoai thoải, Mỹ Khê hụt hẫng chặn đứng bao sự háo hứng tò mò của du khách. Không được là không được. Hãy nhìn cái ảo ảnh dưới chân anh. Đó. Em đã nói mà. Anh đã hẫng một lần rồi đó. Vào bờ đi anh. Thủy triều đang lên, nguy hiểm. Đừng nghĩ màu xanh diệu vợi ngọc ngà này cho các anh vùng vẫy bất chấp các vị trí, các thời điểm. Thân mến.
            Và người thiếu nữ xứ Quảng cũng thế. Không vồn vã quá mức. Họ thân thiện rất thật, không màu mè và cũng không hờ hững.

Hội An lung linh huyền ảo ( Ảnh: Internet)

         Tôi qua Ngũ Hành Sơn để tới Hội An xem phố đèn lồng của người Hoa và người Nhật xưa kia. Phất phảng đâu đó vẫn còn những vết tích rất sâu trong lối ngõ, in đậm một thời phố thị Đàng Trong sầm uất. Gặp một hàng tào phớ, tôi dừng lại nghiêng ngó nhưng lạ kì rằng họ không hề chèo kéo. Người Hội An im lặng nhìn tôi, đang đoán xem tôi là người Việt hay du khách quốc tế chăng? Chỉ khi cất tiếng hỏi, họ mới nói và khi đã nói thì chất phác niềm nở vô cùng.
       Món Cao Lầu tỏa khói bên cái đèn lồng vải gắn trên một vòm cửa sổ tủa hoa nhỏ xinh đang ngắm ra dòng sông đầy dần lên sau mùa khô dài gây ra cơn hạn lỏng chỏng sỏi đá.Chùa Cầu nhìn từ xa không ai nghĩ đó là một ngôi chùa và có lẽ là ngôi chùa lạ thứ hai trong đời tôi được biết tại thời điểm ấy, chỉ sau chùa Một Cột ở Hà Nội.
        Vội vã, đêm ấy tôi quay trở lại Huế trong bao tiếc nuối. Cảm giác chưng hửng nghẹn lên khi đèo Cù Mông, ghềnh Đá Đĩa rồi Nha Trang hay Phan Thiết… vẫn còn xa xăm với tôi, cho tới giờ phút này.Tôi từ đó chưa có dịp tiếp tục khám phá nửa bờ biển còn lại. Tôi cũng chưa từng được đặt chân tới đảo Bạch Long Vĩ quê hương và hai quần đảo thương mến Hoàng Sa, Trường Sa. 
         Khúc ruột đồng bằng oằn mình nghe biển thở. Còn tôi bây giờ hoang hoải chìm vào nhớ…


 Nguyễn Hoàng Hiệp
 

. . . . .
Loading the player...