Tạp chí Hồng Lĩnh số 232 trân trọng giới thiệu bài viết “Dịch thuật và nghiên cứu về Lê Quý Đôn ở Pháp và trong Pháp ngữ” của Nguyễn Thị Sông Hương
Ngày 31/10 tại Samarkand (Uzbekistan), Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng UNESCO đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.

Khu lưu niệm Nhà bác học Lê Quý Đôn tại xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Internet
Nhân dịp này, chúng tôi xin giới thiệu các công trình nghiên cứu về Lê Quý Đôn trong giới học thuật Pháp và Pháp ngữ, ghi nhận ảnh hưởng rất sớm của ông trong không gian học thuật này.
Có thể nói, ngay cả trước khi cuộc chinh phục thuộc địa, sự hấp dẫn của châu Á đã có sức lôi cuốn với phương Tây, và mối quan tâm khoa học ngày càng được khẳng định ở Pháp. Abel des Michels là người tiên phong trong việc giảng dạy “tiếng Nam Kỳ” năm 1869 tiếp đến giành được ghế phụ trách ngôn ngữ An Nam ở Trường sinh ngữ Phương Đông, đồng thời dịch nhiều tác phẩm của văn học Việt Nam sang tiếng Pháp như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chuyện đời xưa… Một phần của bản dịch Truyện Kiều đã được in lần đầu tiên trong tuyển tập Chuyên khảo về phương Đông, văn bản và chuyển ngữ được xuất bản bởi các giáo sư của Trường sinh ngữ phương Đông nhân dịp Đại hội quốc tế các nhà phương Đông học lần thứ 6 họp tại Hà Lan năm 1883.
Những người quan tâm đến phương Đông bắt đầu từ các tu sĩ dòng Tên, các sĩ quan và du khách, các nhà quản lý của các cơ quan dân sự và cuối cùng là trường Viễn Đông Bác Cổ mà Victor Karady gọi là “trung tâm hợp pháp của học thuật thuộc địa”1. Rất nhiều nhà phương Đông học và học giả quan tâm đến Đông Dương thời kỳ đó đã sang Việt Nam. Sự hấp dẫn của phương Đông, của nền văn hóa bản xứ đã giữ chân họ, có những người gần như đã trải qua cả đời mình ở Đông Dương như Bonifacy, Diguet, Georges Cordier, Dürrwell, Parmentier, Souvignet và Cadière. Họ đảm bảo gần như toàn bộ quá trình sản xuất kiến thức của Pháp về xã hội, văn hóa, địa lý, khảo cổ và lịch sử Việt Nam, kể từ khi bắt đầu thuộc địa hóa ở Đông Nam Á khoảng vào thời điểm năm 1858 cho đến đầu thế kỷ XX. Nếu như nhà thám hiểm Auguste Pavie và các cộng sự đã khảo sát địa lý và địa hình trên 600.000 km2 để xây dựng bản đồ Đông Dương, bác sĩ Albert Salet tìm hiểu hệ thực vật, khám phá y học cổ truyền Việt Nam và tác phẩm của Lê Hữu Trác, các dịch giả René Crayssac, Marcel Robbe bị lôi cuốn bởi Truyện Kiều của Nguyễn Du thì các học giả Pháp quan tâm đến Lê Quý Đôn ở phương diện là một nhà thư tịch học và nhà khảo cứu lịch sử, địa chí, văn hóa Việt Nam, một học giả xuất sắc của Việt Nam thế kỉ XVIII.
Trên phương diện thư tịch học, tên tuổi của Lê Quý Đôn trước được biết đến trong giới nghiên cứu Pháp trong lĩnh vực thư tịch học. Thư tịch là thuật ngữ chỉ các hoạt động nghiên cứu, biên soạn, thu thập, khảo cứu và tổ chức sử dụng sách vở, tư liệu về nhiều lĩnh vực. Emile Gaspardone là thành viên Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội đầu thế kỉ XX, sau này là giáo sư tại Langues'O (nay là Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông) và Sorbonne, giáo sư tại Collège de France, chủ nhiệm khoa lịch sử và ngữ văn Đông Dương. Khi nghiên cứu về thư tịch cổ An Nam, ông đặc biệt chú ý các công trình của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú. Theo Gaspardone, trái ngược với Trung Quốc, nghiên cứu về thư mục học ở An Nam có sự thiếu hụt nghiêm trọng. Các phẩm đáng kể được biết đến bao gồm một danh sách các sách vở được thực hiện một cách đơn giản, rất ít ghi chú được thực hiện bởi Lê Quý Đôn trong chương Nghệ văn chí, Đại Việt thông sử, Biên chương, Kiến văn tiểu lục và Văn tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú sử dụng lại và bổ sung thêm danh mục nhưng cũng chỉ cung cấp những đánh giá rất ngắn gọn và trích dẫn lời nói đầu hoặc câu thơ. Sự thiếu hụt trong các thư mục này là tác giả, ngày tháng và địa điểm chính xác. Tuy nhiên Gaspardone cũng đánh giá đó là những thư mục quý giá do tính độc nhất, “một công trình thực sự”. Chính Phan Huy Chú từng nói về tình hình thư tịch nước ta, vào đời điểm ra đời của các công trình đó, thế kỷ XVIII: “chế tác đầy đủ, kỹ càng, văn hiến đứng đầu cả Trung châu, điền chương rộng cả thời đại”2. Còn với giới nghiên cứu đương đại, “công trình thư mục của Lê Quý Đôn tuy không cho chúng ta biết đủ số nhưng đã cung cấp cho chúng ta khá đủ loại và là những loại thư tịch tiêu biểu của 7 thế kỷ soạn thảo, sáng tác, sưu tập”3. Trở lại với Gaspardone, cuộc gặp gỡ giữa các nhà thư mục học phương Đông và phương Tây đã thúc đẩy sự ra đời của tác phẩm thư mục quan trọng bằng tiếng Pháp: Thư mục An Nam. Công trình này của Emile Gaspardone được công bố năm 1934, bao gồm hơn hai trăm tựa đề bài báo và các báo cáo đã được đăng trên nhiều tạp chí chuyên ngành khác nhau. Emile Gaspardone cũng dành nhiều trang giới thiệu về cuộc đời và các tác phẩm của Lê Quý Đôn trong tác phẩm.
Luận án đầu tiên về Lê Quý Đôn bằng tiếng Pháp do học giả Trần Văn Giáp thực hiện và bảo vệ ở Paris. Luận án Những chương thư mục của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú được thực hiện và bảo vệ ở Viện cao học Hán Văn Paris. Từ cơ sở của luận án này, Trần Văn Giáp tiếp tục công việc thư mục học. Bộ sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của ông là công trình tổng hợp quy mô lớn, đặc biệt có đóng góp lớn về văn bản học trong văn học, lịch sử cổ điển Việt Nam, đồng thời có giá trị về phương pháp thư mục học. Công trình này cũng kế thừa và phát triển Thiên nghệ văn chí trong Lê triều thông sử của Lê Quý Đôn và Thiên văn tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Có thể nói, nếu không tính các nhà thư mục học người Pháp như Léopold Cadière và Paul Pelliot, với Nghiên cứu đầu tiên về nguồn sử liệu của An Nam về lịch sử An Nam, đã thực hiện điều tra các tài liệu bằng chữ Hán, xây dựng những công cụ thư mục đầu tiên phục vụ cho việc nghiên cứu Việt Nam4, sau đó là Henri Maspero với Nghiên cứu lịch sử An Nam và Emile Gaspardone với Thư mục An Nam, thì Trần Văn Giáp là nhà thư tịch học, thư mục học thứ ba, sau Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú. Luận án và các công trình khác của Trần Văn Giáp không chỉ phát triển lĩnh vực thư mục học ở Việt Nam giai đoạn đầu mà còn là những tài liệu quý giá cho việc tham khảo thư mục Việt Nam ở Pháp trước khi ngành thư mục học Việt Nam phát triển và các tài liệu được trích dẫn nhiều hơn qua những ngôn ngữ khác.
Được đánh giá là nhà thư tịch hàng đầu của Việt Nam, Lê Quý Đôn còn được biết đến ở phương Tây là nhà khảo cứu lịch sử, địa chí, văn hóa với những tác phẩm nổi bật như Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ, Toàn Việt thi lục. Những bộ sách này đều được viết bằng chữ Hán. Ở đây, dịch thuật đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận Lê Quý Đôn và tác phẩm của ông ở nước ngoài. Nói thêm về dịch thuật, nếu không có chuyển ngữ, việc tiếp nhận sẽ bị giới hạn trong một cộng đồng ngôn ngữ. Các dịch giả góp phần rất lớn trong việc đưa tác phẩm ra với thế giới và mở rộng tiếp cận, đưa tác phẩm đến với những độc giả mới, ở những nền văn hóa khác, có thể có cùng mối quan tâm nhưng cũng có thể thị hiếu thẩm mỹ hoàn toàn khác biệt. “Qua cách đọc riêng của mình, với dấu ấn văn hóa riêng của mình, bằng cách chuyển tải riêng của mình, dịch giả tham gia vào quá trình tái cấu trúc, sáng tạo tác phẩm nguồn thông qua bản dịch đồng thời kết nối các hình thức ngôn ngữ và hòa nhập văn hóa. Nhờ đó, tác phẩm nguồn không bị đóng kín trong bản thân nó và cũng không bị khép lại trong nền văn hóa đã sinh ra nó mà luôn gợi mở và trở nên phổ biến”5.
Về việc chuyển ngữ tác phẩm của Lê Quý Đôn, một phần lớn chương 6, Phong vực khi viết về xứ Tuyên Quang trong Kiến văn tiểu lục được học giả Raymond Deloustal dịch tiếng Pháp trong Vùng mỏ Tụ Long do nhà xuất bản Viễn Đông xuất bản năm 1923. Raymond Deloustal là một thông dịch viên Sở Tư pháp Đông Dương, sau là thành viên của Trường Viễn Đông Bác Cổ. Vùng mỏ Tụ Long vốn là thuộc về An Nam, đã bị cắt cho Trung Quốc sau hiệp định Pháp - Thanh về biên giới 1887 và 1895. Raymond Deloustal giải thích vì sao có bản dịch này: “Sự cẩn thận của những người biên soạn Biên niên sử để thiết lập các sự kiện, theo tài liệu An Nam và Trung Hoa, là sự minh chứng cho sự gắn bó của người An Nam đối với vùng lãnh thổ này. Có thể một ngày nào đó các tài liệu liên quan có thể sử dụng cho việc thu hồi, chúng tôi nghĩ có thể thú vị khi mang lại một bản dịch”. Ông đánh giá cao những ghi chép về phong vực của Lê Quý Đôn, có giá trị cả về địa lý, lịch sử. “Để không làm lộn xộn công trình này với những mô tả không cần thiết, đối với phần An Nam, chúng tôi lấy lại phần mô tả của một tác giả hiện thời và những đoạn đã được cung cấp bởi Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, đặc biệt chi tiết và đã được trích dẫn lại bởi các nhà địa lý học hiện thời”.
Sau Raymond Deloustal, phần mở đầu, chương 1 (Châm cảnh) và một phần chương 2 của Kiến văn tiểu lục được dịch bởi Maurice Durand. Nhà Việt Nam học xuất sắc ra đi ở tuổi 52, để lại nhiều bản thảo dang dở, trong đó có bản dịch cuốn Kiến văn tiểu lục chưa hoàn thành. Sau khi ông mất, Philippe Langlet và Nguyễn Thọ Dực chỉnh lý lại lời mở đầu, lời giới thiệu về Lê Quý Đôn, bản dịch chương 1. Cuốn sách mang tên Ghi chép về những gì thấy và đã nghe. Bản dịch phần mở đầu và chương một được Viễn Đông Bác Cổ công bố vào năm 1973. Đối với Maurice Durand, Kiến văn tiểu lục là sự tập hợp những nguồn tư liệu phong phú và đa dạng nhất, đúc kết từ trải nghiệm, và những điều “tai nghe mắt thấy” được Lê Quý Đôn ghi chép lại một cách trung thực và dũng cảm, cho dù những điều đó có thể làm mếch lòng và tự tạo kẻ thù cho bản thân. Maurice Durand ghi nhận: “Luôn được thôi thúc bởi tham vọng cao quý là phục vụ cho thể chế bằng việc tham vấn cho triều đình, Lê Quý Đôn không sử dụng mưu đồ cũng không tâng bốc để đạt được mục đích, ngược lại ông tự áp đặt bằng những giá trị và sự thẳng thắn can đảm của mình. Cuối cùng Lê Quý Đôn xuất hiện với chúng ta như một trong những đại diện tiêu biểu nhất của nền văn minh Trung - Việt cổ đại, và chúng ta may mắn có thể biết ông qua những gì còn lại trong các tác phẩm văn học phong phú của ông”6.
Ngày nay tác phẩm của Lê Quý Đôn tiếp tục là đề tài nghiên cứu ở Pháp. Các nhà Việt Nam học thế hệ mới ở Pháp đa phần là những người thông thạo tiếng Việt, có thể tiếp cận dễ dàng các tác phẩm của Lê Quý Đôn đã được dịch sang tiếng Việt. Giáo sư Emmanuel Poisson ở trường Đại học Paris Cité tìm hiểu “hành trình trí tuệ và địa lý” của Lê Quý Đôn, với đối chiếu giữa một bên là tri thức sách vở Trung Hoa mà ông đã lĩnh hội với tư cách là một học giả, một sứ giả của triều đình, và một bên là kiến thức thực địa Việt Nam mà ông quan sát, trải nghiệm qua những dịch chuyển thường xuyên và tìm hiểu tỉ mỉ, để có thể xác định các thuật ngữ chính xác hoặc cách diễn đạt bản địa khác nhau, xây dựng kiến thức rộng rãi về lịch sử động vật học, thực vật học, nông học, kỹ thuật… “[…] trong mối quan hệ với Việt Nam, nền văn hóa cổ điển Trung Hoa này bị thử thách khi Lê Quý Đôn thực hiện một chương trình xây dựng kiến thức rộng lớn phù hợp với thực tế địa phương. Ông đặc biệt coi trọng sử dụng, động vật và thực vật bản địa. Tính độc đáo nằm ở khả năng - vốn hiếm có ở Việt Nam thế kỷ XVIII – là vượt qua môi trường chữ viết bằng cách đa dạng hóa các nguồn thông tin”7.
Nếu như đầu thế kỉ XX, Emile Gaspardone khá khắt khe khi nói về các công trình thư tịch Việt Nam của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, thì gần 90 năm sau Emmanuel Poisson đánh giá cao phương pháp “kết hợp cách tiếp cận văn bản và quan sát thực địa” và “tính linh hoạt trong cách tiếp cận của ông, khả năng vượt qua môi trường chữ viết bằng trải nghiệm” trong quá trình xây dựng kiến thức rộng rãi về lịch sử động vật học, thực vật học, nông học, kỹ thuật… Người đương thời với ông, nhà nghiên cứu Nguyễn Phương Ngọc ở trường Đại học Aix-Marseille có quan điểm tương tự, khi nhận xét rằng «tác phẩm của ông là một phần của trường phái tư tưởng thiên về tư duy phê phán và quan sát thực tế, “kiến thức thực địa”, trái ngược với kiến thức học thuật trong các cẩm nang thi cử quan thoại, và Lê Quý Đôn được công nhận là một trong những học giả xuất sắc nhất trong thời đại của ông”8, còn tác phẩm Kiến văn tiểu lục “là một kho tàng thông tin về các chủ đề khác nhau liên quan đến lịch sử và văn minh Việt Nam”9.
Học giả Dương Đình Khuê đã có nhận định về Lê Quý Đôn trong Những kiệt tác của văn học Việt Nam, tác phẩm khảo luận về tiếng Pháp do Kim Lai Ấn Quán ở miền Nam xuất bản năm 1966: “Ông là học giả vĩ đại nhất thời cổ đại. Ông đã để lại một khối lượng công việc khổng lồ về văn học Trung Quốc, bao gồm các bài bình luận về các cuốn sách cổ điển, nghiên cứu về ngôn ngữ, lịch sử, địa lý và cuối cùng là thơ”10. Mặc dù còn nhiều hạn chế trong việc tiếp cận, do tác phẩm của Lê Quý Đôn được chuyển ngữ chưa nhiều, nhưng các công trình của Lê Quý Đôn vẫn luôn là mối quan tâm của giới nghiên cứu nước ngoài. Nhiều nghiên cứu, luận án về tác phẩm của Lê Quý Đôn được thực hiện từ các thập kỷ gần đây bằng tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Hàn Quốc, tiếng Anh, chúng tôi sẽ có dịp đề cập đến trong các nghiên cứu tiếp theo.
Tại Hà Tĩnh, tên Lê Quý Đôn được đặt cho trường học và đường phố, như một biểu tượng tri ân và tôn vinh đối với một trong những nhà bác học và danh nhân văn hóa tiêu biểu của dân tộc./.
N.T.S.H
_______________
1. Victor Karady, Vấn đề tính hợp pháp trong việc tổ chức lịch sử dân tộc học Pháp (Le problème de la légitimité dans l’organisation historique de l’ethnologie française), Revue française de sociologie, vol. 23, số 1, 1982, tr. 23.
2. Phan Huy Chú, Tựa Văn tịch chí, trong Lịch triều hiến chương loại chí
3. Đinh Công Vĩ, Tìm hiểu phương pháp sưu tầm chỉnh lý thư tịch của Lê Quý Đôn, Tạp chí nghiên cứu Hán Nôm, số 1, năm 1986.
4. Theo tác giả Trịnh Kim Chi, trong Tạp chí Thư viện Việt Nam số 2(22) năm 2010 (tr.32-35), còn có một số công trình thư mục khác về Đông Dương và về Việt Nam của tác học giả Pháp như Thư mục An nam (Bibliographie Annamique) của Bell Combe (1862), Thư mục An nam (Bibliographie Annamite) của Barbié du Bocage (1867), Thư mục Đông Dương (Bibliographie de l'Indochine) của A.Landes và A.Folliet (1889), Thư mục Đông Dương (Bibliographie Indochinica) của Henri Cordier (1912-1915), Thư mục Đông Dương thuộc Pháp 1913-1926 (Bibliographie de L'Indochine Francaise 1913 - 1926) của hai tác giả Paul Boudet và Remi Bourgeois (1919). Ngoài ra có thể kể đến hai công trình Đông Dương sử học yếu thư mục lục do Naka Mychio thực hiện, xuất bản ở Tokyo, và An Nam thư lục của Phùng Thừa Quân trong Bắc Kinh đồ thư quán, xuất bản ở Bắc Kinh (1932).
5. Nguyễn Thị Sông Hương, Truyện Kiều, 14 thập kỉ dịch và tiếp nhận, 75 bản dịch trong 20 ngôn ngữ, tạp chí Nghiên cứu Văn học (Literary Studies), số 585, tháng 11 năm 2020.
6. Maurice Durand, Lời mở đầu, trong Ghi chép về những gì thấy và đã nghe. Bản dịch phần mở đầu và chương một (Notes des choses vues et entendues. Ebauche de traduction de la préface et du premier chapitre), Tập san Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, số 48, 1973, tr.50.
7. Emmanuel Poison, Đối chiếu văn bản và thực địa trong xây dựng tri thức của Lê Quý Ðôn, học giả Việt Nam thế kỷ 18 (La confrontation textes-terrain dans la construction des savoirs par Lê Quý Ðôn, lettré vietnamien du 18e siècle), trong Cuốn sách kĩ thuật trước thế kỉ 18 trên phạm vi thế giới (Le livre technique avant le 18e siècle à l’échèlle du monde (Liliane Hilaire-Pérez, Valérie Nègre, Delphine Spicq chủ biên), Nxb. CNRS, 2019, tr. 59
8. Nguyễn Phương Ngọc, Một xã hội tiếp nhận (Une société réceptive) trong: Nguồn gốc nhân học ở Việt Nam: Nghiên cứu của các tác giả nửa đầu thế kỷ 20 (À l’origine de l’anthropologie au Vietnam: Recherche sur les auteurs de la première moitié du XXe siècle). Presses universitaires de Provence, 2012.
9. Nguyễn Phương Ngọc, đã dẫn ở trên.
10. Dương Đình Khuê, Những kiệt tác của văn học Việt Nam (Les chefs d'oeuvre de la littérature vietnamienne), Kim Lai Ấn Quán, Sài Gòn, 1966, tr.140.