25-12-2023 - 08:51

Ghi chép BA TIẾNG ĐỒNG HỒ VỚI VỊ TƯỚNG LỪNG DANH của Nhà thơ, Nhà báo Bùi Quang Thanh

Chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2023) và 34 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2023. Tạp chí Hồng Lĩnh số 208 tháng 12/2023 trân trọng giới thiệu Ghi chép BA TIẾNG ĐỒNG HỒ VỚI VỊ TƯỚNG LỪNG DANH của Nhà thơ, Nhà báo Bùi Quang Thanh

BÙI QUANG THANH

 

BA TIẾNG ĐỒNG HỒ VỚI VỊ TƯỚNG LỪNG DANH

                                                                                                                  Ghi chép

 

Lần này là lần thứ 3 tôi đến thăm vị Tư lệnh cũ của mình. Thượng tướng Giáo sư Hoàng Minh Thảo, "Ông Hoàng Tây Nguyên" ngày nào vừa qua một cơn đại phẫu thuật để lấy cục sỏi to trong thận. Đã ngoài tám chục tuổi, vết mổ chưa cắt chỉ, ông vẫn còn rất yếu, phải ngồi tựa lưng vào ghế salông gỗ có lót chiếc gối bông phía sau, chiếc áo bệnh viện bằng vải thô mềm không cài hết khuy để lộ tấm băng vừa mới thay xong, tuy vậy ông vẫn lưu tôi lại đến 3 tiếng đồng hồ để nói chuyện về Tây Nguyên những ngày oanh liệt nhất. Đó là buổi chiều ngày 30.3.2003. Bà Thảo ngồi phe phẩy chiếc quạt giấy cho ông, thi thoảng đưa mắt sang tôi như nhắc nhủ, như van vỉ "ông ấy còn mệt lắm". Vậy mà tôi, dù đọc đựơc những mật lệnh của bà Thượng tướng, vẫn không nỡ đứng dậy ra về. Thế rồi cuộc viếng thăm người ốm trở thành cuộc phỏng vấn, cuộc hành hạ ông. Dù mệt mỏi lắm nhưng tôi biết ông rất vui vì gặp đồng đội. Và sau đây là những điều vị Thượng tướng Tư lệnh kể cho viên Hạ sĩ Tiểu đội phó - lính cũ của mình:

"Tây Nguyên đầu mùa xuân năm 1975 đã là nơi tập kết sức mạnh của chủ lực Quân giải phóng. Địch bị dồn về các trung tâm thị xã, một số huyện lị và các trục đường giao thông chính. Ta làm chủ toàn bộ núi rừng cao nguyên rộng lớn, nối liền biên giới 3 nước Việt - Miên - Lào; đường Hồ Chí Minh, đường dẫn xăng dầu đã xọc xuống tận phía nam cao nguyên, hậu phương lớn đã nối liền tiền tuyến lớn. Lực lượng của ta ở Tây Nguyên lúc này rất mạnh: Sư đoàn 320 - "Quả đấm thép" của chủ lực quân đội ta đã quen với chiến trường này từ những năm 1972; Sư đoàn 10 mà tiền thân là những trung đoàn chủ lực khét tiếng của cao nguyên như Trung đoàn 66 (Đoàn bộ binh PlâyMe), Trung đoàn 28, Trung đoàn 24, Trung đoàn pháo binh 40… những đơn vị đã làm nên những trận đánh tiêu diệt nổi tiếng ở PlâyMe, Đắc Tô - Tân Cảnh, PlâyCần, ĐắcSiêng… suốt chục năm qua. Một số đơn vị cao pháo - tăng - thiết giáp cũng đã ém sát ở đây. Thế và lực của ta đã hơn hẳn. Địch hoàn toàn mất thế chủ động trên chiến trường Tây Nguyên. Kế hoạch của Bộ thống soái của ta là: kìm địch ở 2 đầu chiến tuyến, dàn mỏng lực lượng của địch ở Tây Nguyên, chọn điểm huyệt để đánh tiêu diệt giải phóng Buôn Ma Thuột". Chợt ông quay lại hỏi tôi: "Tại sao phải đánh giải phóng Buôn Ma Thuột?". Như một cậu học trò không thuộc bài, tôi ấp úng: "Vì sao… ạ?". "Địch ở đó yếu hơn ở Plây-cu và Kon Tum. Phần nữa, nếu giải phóng được Buôn Ma Thuột thì thọc xuống Nha Trang, Cam Ranh nhanh hơn, bất ngờ chia cắt sự liên hoàn Nam - Bắc của địch, tránh được các chốt điểm từ Quảng Trị vào Quy Nhơn của chúng. Lực lượng của địch ở Buôn Ma Thuột lúc đó chỉ có một Trung đoàn bộ binh, 20 xe thiết giáp, một số pháo và lực lượng địa phương quân. Tuy nhiên tính cơ động của chúng hơn hẳn ta vì phương tiện, đặc biệt là quân đổ bộ bằng trực thăng và các chiến xa từ các vùng lân cận có thể tiếp ứng rất nhanh, các Sư đoàn 22, 23; 7 tiểu đoàn biệt động quân; 36 tiểu đoàn bảo an; 4 thiết đoàn thiết giáp; 230 pháo các loại; Sư đoàn không quân số 6 với 150 máy bay... đang quanh quẩn vùng cao nguyên này. Vì vậy ta quyết định tăng cường lực lượng cho Buôn Ma Thuột. Sư đoàn 968 và Sư 316 được điều vào Tây Nguyên. Riêng Sư 316 từ Nghệ An thần tốc vào Tây Nguyên trong bí mật tuyệt đối. Điện đài vô tuyến không được sử dụng, vào đến nơi rồi thì im hơi lặng tiếng cho đến khi nổ súng. Bọn chỉ huy Ngụy bị mất hút đuôi Sư 316 rất ngơ ngác và lo lắng. Cuộc điều quân nhử địch ở Tây Nguyên là một nghệ thuật quân sự, các đơn vị di chuyển như đèn cù, điện đài vô tuyến vẫn nằm nguyên vị trí ém quân cũ hoạt động nghi binh. Các đơn vị chỉ dùng thông tin liên lạc bằng hữu tuyến của đường dây 559 khi thật cần thiết. Cho đến trước ngày mở màn chiến dịch, chúng ta đã có 5 sư đoàn bộ binh hùng hậu, 15 Trung đoàn độc lập của các quân binh chủng: đặc công, pháo binh, phòng không, tăng thiết giáp, thông tin, công binh, ô tô vận tải... và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang các tỉnh ở Tây Nguyên. Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên do tôi làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ Tổng Tư lệnh vào trực tiếp chỉ đạo chiến dịch”.

Thượng tướng nhấp nhẹ chén trà, ông chợt hỏi tôi: “Cậu ở đơn vị xe ô tô phải không nhỉ?”. Tôi cảm động: “Dạ! Em ở vận tải sư 10”. Ông gật gật: “Hồi các cậu vào, anh Thái Bá Nhiệm đi đón ngoài Cánh Bắc. Tôi nhớ đơn vị này vào để chuẩn bị cho Đăk Tô - Tân Cảnh”. Tôi thầm nhớ lại cuối năm 1971, tiểu đoàn xe của tôi vượt qua bao gian khó hiểm nguy, sau gần 2 tháng hành quân, vào đến Tây Nguyên thì được gặp vị Chính ủy Phòng hậu cần mặt trận ra đón và lệnh cho đơn vị đào vách núi thành hầm, giấu ô tô vào đó rồi kẻ thì đi đẩy xe thồ, người thì đi gùi đạn, tôi được điều đi hàn “khò” khung xe đạp cho tiểu đoàn 1 xe thồ của Phòng hậu cần B3, có hôm phải đi đốt than để phục vụ lò hàn. Thế mà đến đầu năm 75... Thượng tướng trầm ngâm: “Thực ra từ đầu tháng 1 năm 1975, căn cứ nhiệm vụ cấp trên giao cho Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu quyết định nhưng chỉ đặt ra quyết tâm là tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng các tỉnh nam Tây Nguyên để mở hành lang xuống chiến trường Đông Nam Bộ. Chuyện dùng binh nhiều khi không tính trước hết được. Sau Buôn Ma Thuột, thế trận địch vỡ òa như lũ cuốn, thế mà mình không bị động với chiến cuộc, trái lại chớp thời cơ để đi đến quyết định cuộc chiến tranh. Đó là một sự linh hoạt tuyệt vời, cũng có nghĩa là thế chủ động hoàn toàn thuộc về ta”. Ông trở lại vấn đề: “Lính B3 biết rất rõ sự gian khổ do thiếu đói, do địa hình hiểm trở nên gần suốt cả cuộc chiến tranh, lực lượng chủ yếu là bộ binh và pháo binh nhẹ, tất cả là chân, là vai. Các đơn vị cấp trung đoàn đã lớn lắm rồi. Bây giờ riêng một chiến trường này đã có đến 5 sư đoàn, 15 trung đoàn đủ các binh, quân chủng. Đời làm tướng, đến lúc ấy cứ như mơ, cứ muốn đánh một trận “trúc chẻ tro bay” như cha ông ta ngày trước. Nhưng dù lực lượng ta rất mạnh thì cũng không thể chủ quan, không được coi thường xương máu bộ đội, coi thường quân địch. Để công kích thắng lợi vào Buôn Ma Thuột, chúng ta đã chia quân đánh nghi binh vào Plây-cu, Kon Tum, cắt đường 14 giam chân chủ lực địch lại phía bắc Tây Nguyên đồng thời đánh chiếm Đức Lập, Thuần Mẫn. Trung đoàn 95 tiêu diệt hàng loạt vị trí phòng thủ trên đường 19, Trung đoàn 25 diệt một đoàn xe địch ở đông Chư Cúc làm chủ đường 21, 2 sân bay Cù Hanh và Hòa Bình nằm trong tầm khống chế của pháo binh... Buôn Ma Thuột bị cô lập hoàn toàn. Phải nói rằng, Đoàn 559 đã cung cấp cho chiến dịch đủ nhu cầu cần thiết, khoảng 14 ngàn tấn hàng đã đưa đến tận nơi tập kết trong một thời gian rất ngắn. Công binh và nhân dân địa phương đã hoàn thành gần 600 km đường chiến dịch, cậu biết như đường 20C phía tây sông Sêrêpôk, ta phải cưa sẵn hai phần ba thân các cây lớn, dọn sẵn đường để chờ giờ G. Khi xe tăng chuẩn bị xuất kích mới xô đổ cây, dọn đường cho tăng đi. Cái giờ “G” lịch sử của Tây Nguyên, cũng là giờ lịch sử của đất nước, của Mùa xuân 1975 ấy là 2 giờ 3phút ngày 10 tháng 3 mà ai cũng đã biết. Bộ đội đặc công Trung đoàn 198 luồn sâu lót sẵn đã đồng loạt tấn công kho Mai Hắc Đế, sân bay Hòa Bình, hậu cứ Trung đoàn 53 Ngụy; Trung đoàn 95A từ hướng đông bắc đánh chiếm ngã Sáu; Trung đoàn 148 phát triển theo hướng tây bắc đánh chiếm cao điểm Ebua, chùa Bồ Đề, hợp với E95A ở ngã Sáu; Trung đoàn 174 và phân đội tăng của Lữ 273 đánh chiếm cao điểm Chư Dluê hướng tây, Trung đoàn 24 và tăng thiết giáp thọc sâu vào Sở chỉ huy Sư 23 Ngụy; hướng nam, Trung đoàn 174, Trung đoàn 179 và biệt động thành Buôn Ma Thuột đánh chiếm quận lỵ Hòa Bình... Địch chống cự quyết liệt, bị diệt từng cụm, từng mảng, từng tuyến và đến 16 giờ trưa ngày 11 tháng 3, ta làm chủ hoàn toàn thị xã”.

Tôi ngồi nghe mà có cảm tưởng như ông chẳng quên một chi tiết, một địa danh, một phiên hiệu đơn vị nào. Vị giáo sư uyên bác nhất của quân đội ta, với bộ lông mày dài và rậm đã đốm bạc rủ xuống che một phần đôi mắt sáng rực, nở nụ cười thật hiền mà thật tươi, như không hề có vết mổ ở bụng chưa cắt chỉ. Tôi chợt giật mình liếc nhìn đồng hồ, liếc nhìn bà Thượng tướng. Bắt gặp ánh mắt như biết lỗi của vị khách vô duyên quấy rầy bệnh nhân của bà không phải lúc chút nào, bà phân giải: “Ông nhà tôi mà gặp bộ đội Tây Nguyên là mừng lắm, ông tiếp tận tình với bất cứ ai. Nhưng hôm nay...”. Bà nhìn ông trách móc và âu yếm lắc đầu. Tôi muốn ra về để ông nghỉ ngơi thì ông lại ra hiệu tôi ngồi lại:“Cậu đã là nhà báo, tôi mừng lắm. Viết về Tây Nguyên đã có một số nhà văn, nhà báo, nhà viết sử nhưng làm sao viết hết được sự hi sinh và vai trò của quân dân Tây Nguyên trong 2 cuộc kháng chiến vừa rồi. Những người đã từng chiến đấu ở Tây Nguyên viết về miền đất này sẽ thuận lợi hơn người ngoài cuộc. Mà càng lùi xa cái dấu son lịch sử ấy thì càng vơi đi những người viết là những người đã biết về Tây Nguyên”. Tôi không thể đứng dậy được, đành chuầy chòa ngồi lại. Bà Thượng tướng đi vào trong nhà, có ý bất lực. Ông bảo: “Trận Buôn Ma Thuột chưa dừng ở đó. Cậu đã biết lực lượng địch ở đây là rất mỏng, đánh chiếm Buôn Ma Thuột không khó lắm cho dù địch ở trong công sự phòng thủ kiên cố. Việc đánh viện binh của địch đến ứng cứu hòng chiếm lại thị xã mới hay. Toàn bộ sức mạnh của chúng ở Tây Nguyên dồn về phía bắc, Buôn Ma Thuột lại là thủ phủ của cao nguyên Trung phần, làm sao chúng để mất được. Nhưng Sư đoàn 23 và các chiến đoàn của địch từ Plây-cu, Kon Tum về cứu bằng cách nào? Đường bộ xa đến 180 km đã bị ta phong tỏa, đương nhiên chúng không thể hành binh. Địch sẽ phải dùng trực thăng vận chuyển quân. Mà trực thăng vận thì sẽ không có xe tăng và đại pháo, hỏa lực địch sẽ giảm đi rất lớn. Còn địch sẽ đổ quân xuống nơi nào? Bộ Tư lệnh chiến dịch đã phán đoán là chúng sẽ chọn phía đông thị xã, nơi đang có tàn binh của Liên đoàn Bảo an 21, cũng là trục đường 21 - cửa tử nhưng cũng là cửa sinh của địch khi muốn rút chạy về xuôi, nơi dễ ứng cứu nhất khi viện binh từ Nha Trang, Cam Ranh lên. Nhiệm vụ phục binh diệt viện được giao cho Sư 10 - đứa con cưng của núi rừng Tây Nguyên. Trước đó ta đã ém Trung đoàn 25 trên khu vực này đón lõng đường rút của tàn quân Buôn Ma Thuột. Chiều ngày 13.3, địch đã cho tám chục máy bay đánh phá khu vực này để dọn bãi, sau đó dùng 145 lần chiếc trực thăng đổ E45 và pháo đội 232 xuống điểm cao trên đường 21. Ngay lập tức Trung đoàn 24 (Sư 10) có xe tăng xung kích đã đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 45. Ngày 15 địch đổ nốt E44 và Sở chỉ huy sư 23 xuống Phước An. Các đơn vị này đã bị bộ đội Sư 10 và Lữ đoàn tăng thiết giáp 273 tiêu diệt...”.

Tôi cất chiếc máy ghi âm vào túi, đứng dậy. Ông định đứng lên nhưng chợt nhíu mày, tay đặt khẽ vào vết thương. Tôi vội cúi xuống nắm lấy bàn tay ông, đỡ ông ngồi lại. Bà Thượng tướng đã quay ra từ lúc nào, lo lắng nói với tôi: “Ngồi lâu quá ông mệt lắm đấy. Đã đến ngày cắt chỉ rồi mà vết mổ chưa khô. Chú thông cảm cho bác nhé”. Tôi chợt cay cay ở mắt, lí nhí nói lời xin lỗi bà. Vị Tư lệnh bảo tôi: “Trận Buôn Ma Thuột là cái chìa khóa vàng bấm trúng lối vào chiến thắng của cách mạng miền Nam. Hôm nào rỗi lại tới đây nhé!”.

                                                                                                  B.Q.T

Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo và Tác giả

. . . . .
Loading the player...