Nguyễn Thanh Bính với bút danh Yến Thanh quê ở Nghi Xuân là hội viên của Hội liên hiệp VHNT Hà Tĩnh đã từng có nhiều bài thơ " làm tổ" được trong tâm trí bạn đọc như:" Lục bát Tiên Điền", " Quê mình- quê thơ", " Bữa cơm trong thành phố", " Cái dằm"...Đặc biệt, bài thơ " Cúc ơi" mà anh viết từ những ngày cuộc chiến tranh chống Mỹ khốc liệt bi thương đang diễn ra nơi Ngã ba Đồng Lộc- nơi anh đang công tác thực sự làm xúc động nhiều thế hệ công chúng bạn đọc.
NGUYỄN THANH BÍNH
Bút danh: Yến Thanh
Ngày tháng năm sinh: 06 –08 –1945.
Quê quán: Thạch Vĩnh- Thạch Hà–Hà Tĩnh
Nơi công tác trước khi nghỉ hưu: Phó Ban quản lý công trình nhà máy đóng tàu BếnThuỷ
Địa chỉ liên lạc hiện nay: Số7, Ngõ 1 - NguyễnThị Minh Khai - P. Hưng Bình - Vinh - Nghệ An.
Di động: 01254.043.557. Email: nguynthanhbnh49@yahoo.com
Vào Hội liên hiệpVHNT HàTĩnh, chuyên ngànhThơ năm 1996
Vào Hội UNESCO thơ Đường VN năm 2006
*Vài nét về quá trình học tập và công tác
- CựuTNXP Ngã ba Đồng Lộc (ĐộiTNXP N55 –P18 HàTĩnh)
- Kỹ sư cầu đường bộ
*Tác phẩm chính đã xuất bản:
- Khúc mưa ( tập thơ) - HộiVHNT HàTĩnh, xuất bản năm 2004.
In chung trong các tập:
- Tuyển thơ Việt Nam Thế kỷ XX (NXB Giáo dục 2002) với bài thơ “Lụcbát Tiên Điền”.
- Tuyển thơ Hà TĩnhThế kỷ XX (Hội VHNT và Sở VHTT Hà Tĩnh) năm 2000 với bài thơ “Lụcbát Tiên Điền”, “Cúc ơi”.
- Tuyển tập thơ“Nước non một dải ”(NXB Dân tộc, 2002) với bài thơ“Cúc ơi”
- Tuyển tập thơ“Đường về Xứ Nghệ”, (NXB Hội nhà văn, năm 2011, với chùm thơ: bàithơ“Lụcbát Tiên Điền”, “Cúc ơi”, “Nghe em hát ví đò đưa”)
- Tuyển thơ đường“Bút xưa”, 20 năm hồi phục(1990 –2010), NXB Thời Đại năm 2011 với chùm thơ“Quê ngoại”, “Bến Lợ”, “TiễnThu”, “Bến cô liêu”
*Giải thưởng văn học, nghệ thuật, báo chí:
- Giải thưởng VHNT Nguyễn Du lần thứ tư (2000 -2005) với tập thơ “Khúc Mưa”
- Giải thưởng Bưu điện Hà Tĩnh (2001) với truyện ngắn “Chim xanh”
- Giải ba cuộc thi Thơ tứ tuyệt báo Tài Hoa Trẻ (2009 – 2011)…
*Tác phẩm tự chọn:
CÚC ƠI
Tưởng nhớ Hồ Thị Cúc và 9 đồng đội,tiểu đội 4,C552
N55-P18-TNXP Hà Tĩnh đã anh dũng hy sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc ngày 24-7-1968
Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang
Cúc ơi,em ở đâu không về tập hợp
Chín bạn đã quây quần đủ mặt:
Nhỏ,Xuân,Hà,Hường,Hợi,Rạng,Xuân,Xanh!
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em!
(Chín bỏ làm mười răng được!)
Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc
Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng
Cúc ơi! em ở đâu?
Đất nâu lạnh lắm
Da em thì xanh
Áo em thì mỏng
Cúc ơi,em ở đâu về với bọn anh
Tắm nước trong Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu cắt cỏ
Bài toán lớp năm em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn
Ở đâu em, hỡi Cúc
Đồng đội tìm em: đũa găm cơm úp
Gọi em
Gào em
Khản cổ rồi
Cúc ơi!!!
Ngã Ba Đồng Lộc,24/7/1968
LỤC BÁT TIÊN ĐIỀN
Làng tôi củ lạc thắt ngang
Quả dưa buộc dọc cho chàng đi thi
Ông Nghè ông Cử vinh quy
Cũng từ hạt lúa ra đi Tiên Điền
Thả cày cầm lấy bút nghiên
Chõng tre lều rạ mà nên danh làng
Lay phay mấy hạt mưa nam
Ướt câu phường vải trai làng lâm li
Giọt mưa ngọn tiểu khê đi
Thành sông, thành bể…thành gì cũng đây
Bão xô nghiêng mảnh ruộng gầy
Nắng hun đến cái diệp cày cũng cong
Lụt mang đi hết của đồng
Bao nhiêu hạt mẩy đi không hột về
Mấy đời Tiến sĩ-quan Nghè
Áo the, guốc mộc, roi tre, seo cày
Long đong chừng ấy năm rày
Trong Kiều có mẹ,mẹ nay có Kiều
Tiên Điền,1993
CÁI DẰM
Nhà anh cạnh chợ kề đường
Chắc rằng người ấy vẫn thường qua đây
Nợ người một nợ cầm tay
Cà sa bụt mặc anh đây nợ chùa
Cái dằm anh lể ngày xưa
Em đau thuở trước Bây giờ anh đau
Ngón tay tháp bút trắng phau
Dằm tre đen xỉn cắm vào tim anh
Sông Cày mấy khúc loanh quanh
Tre nghiêng Truông Rọ, bóng xanh Tân Đình
Bây giờ mình lể tay mình
Cái kim lại nhớ cái tình bàn tay
Nong vàng rải lúa em quây
Ghen anh,dằm xóc vào tay máu nhòe
Anh từ giận cái dằm tre
Giận lây măng mọc giận về tre xanh
Sông Cày còn chảy loanh quanh
Răng anh quên được ngày anh lể dằm
Tay kia giờ để ai cầm
Gai kia đã mọc thành dằm trong thơ
Sông Cày,1996